Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của lễ hội đền Trần ở xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên trong đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy lễ hội đền Trần không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng định kỳ, mà còn là một thiết chế văn hóa có vai trò đa chiều trong đời sống cộng đồng. Các vai trò nổi bật gồm: bảo tồn và khẳng định bản sắc văn hóa, giáo dục và tiếp nối các giá trị truyền thống, đáp ứng nhu cầu tâm linh - tinh thần, cố kết cộng đồng, duy trì thiết chế - trật tự xã hội và góp phần phát triển kinh tế - du lịch địa phương. Trong đó, vai trò bảo tồn giá trị - bản sắc văn hóa được cộng đồng đánh giá cao nhất. Bài viết cũng chỉ ra một số vấn đề đặt ra trong quá trình phát huy vai trò của lễ hội như áp lực không gian, sự gia tăng hoạt động dịch vụ, hạn chế trong truyền thông - giáo dục và yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng địa phương. Từ đó, khẳng định cần phát huy giá trị lễ hội theo hướng cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, gắn với tính thiêng, bản sắc văn hóa và sự tham gia thực chất của cộng đồng.
Tóm tắt: Kể từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, dân ca quan họ - di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của người dân xứ Kinh Bắc đã được quan tâm phục hồi và dần phát triển. Với giá trị hàm chứa trong hệ thống các bài dân ca, thông qua các lề lối thực hành được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa độc đáo, “Dân ca quan họ Bắc Ninh” đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009. Từ đó đến nay, trải qua 15 năm được vinh danh, dân ca quan họ đã được sự quan tâm sâu rộng từ chính quyền các cấp đến cộng đồng và đội ngũ quản lý văn hóa, các nhà khoa học, các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhờ đó, di sản quan họ đã có được sức sống mãnh liệt, lan tỏa sâu rộng từ 49 làng quan họ gốc ra nhiều địa phương trên phạm vi cả nước và các vùng đất có người Việt sinh sống ở nước ngoài. Bài viết này đánh giá sơ lược về hiện trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản dân ca quan họ ở một số lĩnh vực kể từ sau khi di sản được UNESCO ghi danh, từ đó nhận diện một số bài học kinh nghiệm và đề cập khái quát một số vấn đề đặt ra hiện nay.
Tóm tắt: Thời gian qua, các giá trị văn hóa của tộc người Ê đê đã được khai thác nhằm phục vụ phát triển du lịch, bước đầu hình thành các sản phẩm đặc trưng, góp phần định vị thương hiệu địa phương. Tuy nhiên, trước những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội và tác động từ các chính sách cải cách hành chính, đặc biệt là các nghị quyết về phát triển văn hóa, việc định hướng phát triển kinh tế di sản cần được đánh giá và xây dựng mang tính thời đại hơn. Dưới góc độ kinh tế di sản, bài viết tập trung nhận diện giá trị kinh tế di sản và thực trạng phát triển, cũng như chỉ ra những hạn chế tồn tại trong quá trình chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành sản phẩm kinh tế. Từ đó đề ra một số định hướng phát triển kinh tế di sản của tộc người Ê đê đáp ứng được hai mục tiêu. Về phương diện kinh tế, tạo lập giá trị thặng dư và đa dạng hóa sinh kế cho cộng đồng địa phương. Về khía cạnh bảo tồn, đảm bảo sự cân bằng giữa khai thác thương mại và bảo vệ di sản.
Tóm tắt: Phường Cửa Nam (thành phố Hà Nội) là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử - văn hóa có giá trị, mang trong mình nguồn di sản Hán Nôm phong phú, đặc sắc của vùng đất kinh đô ngàn năm văn hiến. Trong đó, đền, chùa Hàm Long là một di tích tiêu biểu, không chỉ có giá trị về kiến trúc, tín ngưỡng mà còn lưu giữ hệ thống di văn Hán Nôm đa dạng như thần phả, sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy những giá trị này vẫn chưa được khai thác hiệu quả trong các hoạt động truyền thông, giáo dục và phát triển du lịch văn hóa. Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu, khai thác và phát huy nguồn tài liệu Hán Nôm tại đền, chùa Hàm Long trở thành nhiệm vụ quan trọng của phường Cửa Nam nói riêng và Hà Nội nói chung trong phát triển công nghiệp văn hóa.
Tóm tắt: Hạnh đầu đà vốn là một truyền thống tu khổ hạnh của Phật giáo, hướng tới thanh lọc thân tâm, đoạn trừ ái dục và gìn giữ phạm hạnh. Khi đi vào dòng chảy Thiền tông Việt Nam thời Lý - Trần, pháp hành này không được giữ nguyên như mô thức khổ hạnh Ấn Độ, mà được tái diễn giải sáng tạo theo tinh thần và văn hóa Đại Việt. Qua hành trạng của các thiền sư như Đạo Huệ, Tín Học, Giác Hải, đặc biệt là Phật hoàng Trần Nhân Tông, hạnh đầu đà đã được chuyển hóa thành nền tảng của lý tưởng nhập thế. Từ một phương pháp tu tập cá nhân, đầu đà dần trở thành một hình thái văn hóa biểu tượng, gắn sự thanh bần, vô ngã với trách nhiệm hộ quốc an dân. Quá trình ấy không chỉ làm sáng rõ năng lực bản địa hóa của Phật giáo Việt Nam, mà còn khẳng định vai trò sáng tạo của Đại Việt trong việc gắn kết di sản tâm linh với vận mệnh dân tộc.
Tóm tắt: Vân Đồn và Phố Hiến là hai hợp phần khác loại nhưng liên thông trong cấu trúc thương mại - văn hóa của Đại Việt: một bên là cửa ngõ hải thương biển đảo ở Đông Bắc, một bên là đầu mối cảng thị sông của châu thổ sông Hồng. Trên cơ sở tiếp cận tuyến văn hóa, di sản nối tiếp, cảnh quan đô thị lịch sử, diễn giải di sản và du lịch văn hóa bền vững, giá trị nổi bật của hai di sản không chỉ nằm ở từng điểm di tích, mà ở khả năng cấu thành trục lịch sử từ biển đến sông, từ ngoại thương đến giao lưu văn hóa, từ bến cảng đến ký ức cư dân và trầm tích đô thị. Từ đó, bài viết đề xuất định hướng kết nối Vân Đồn - Phố Hiến như một trục du lịch văn hóa thương cảng ở Bắc Bộ.
Tóm tắt: Lễ hội Bà Phi Yến tại Côn Đảo, được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia không chỉ là nghi lễ tín ngưỡng truyền thống mà còn là không gian “tái tạo truyền thống” giàu tính biểu diễn. Năm 2024, kỳ giỗ lần thứ 239 được tổ chức trong bối cảnh yêu cầu bảo tồn gắn với phát huy di sản ngày càng cao, đồng thời chịu tác động của xu hướng sân khấu hóa và truyền thông số. Trên cơ sở khung lý luận về sáng tạo truyền thống của Eric Hobsbawm (2011), Lương Văn Hy và Trương Huyền Chi (2012), kết hợp với quan điểm nghiên cứu của tác giả, bài viết xây dựng bốn tiêu chí phân tích: tính nguyên gốc, tính thích ứng, tính thẩm mỹ, tính cộng đồng. Nghiên cứu trường hợp cho thấy các hình thức sáng tạo truyền thống trong lễ hội vừa bảo tồn giá trị gốc, vừa đổi mới phương thức biểu đạt, qua đó nâng cao sức hấp dẫn, tính lan tỏa và khả năng gắn kết cộng đồng của di sản.
Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu vai trò của cộng đồng làng Xuân Phả trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản trò Xuân Phả tại địa phương. Tác giả nhận diện cộng đồng không chỉ là những người thực hành di sản mà còn là chủ thể tiên quyết trong việc lưu giữ ký ức văn hóa, truyền dạy kỹ năng và huy động các nguồn lực xã hội hóa để duy trì sức sống cho di sản. Thực trạng nghiên cứu cho thấy người dân địa phương có tinh thần tự giác rất cao trong việc tham gia thực hành di sản và đóng góp nguồn lực, vật chất, tuy nhiên quyền năng trong việc giám sát và ra quyết định quản trị vẫn còn những hạn chế nhất định. Trước những tác động từ đời sống hiện đại và nguy cơ đối với di sản, bài viết nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về việc chuyển đổi mô hình quản lý. Theo đó, cộng đồng cần phát huy quyền tự chủ thực chất, kết hợp chặt chẽ giữa sự hỗ trợ của Nhà nước và tính tự quản của cộng đồng nhằm bảo vệ và phát huy di sản một cách hiệu quả trong bối cảnh mới.
Tóm tắt: Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt, thuộc xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai (trước đây là tỉnh Bình Định) là Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, được biết đến như một không gian thờ tự linh thiêng của ba anh em nhà Tây Sơn (Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ - Nguyễn Lữ), hiện nay là một địa điểm quan trọng mang nhiều giá trị văn hóa và ý nghĩa lịch sử đối với địa phương và quốc gia. Bài viết tiếp cận di sản không phải là một giá trị sẵn có, mà là sự vận động xã hội, để phân tích quá trình di sản hóa tại đền thờ. Trên cơ sở tiếp cận trường hợp nghiên cứu, bài viết tập trung làm rõ ba phương diện chính của quá trình di sản hóa: đền thờ được lựa chọn như một đối tượng di sản; đền được gán thêm các lớp nghĩa vượt ra ngoài chức năng thờ tự và trở thành một biểu tượng lịch sử - văn hóa; các thực hành lễ hội và nghi lễ tưởng niệm góp phần duy trì và phổ biến ý nghĩa di sản của đền thờ trong đời sống hiện đại. Từ đó, nghiên cứu cho thấy đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt ngày nay đã trở thành nơi giao thoa ký ức lịch sử, thực hành văn hóa, giáo dục truyền thống và diễn ngôn di sản. Trường hợp này góp phần gợi mở cách nhìn rộng hơn về các đền thờ nhân vật lịch sử ở Việt Nam như những không gian, nơi mà quá khứ liên tục được kiến tạo, gán nghĩa và tái tổ chức trong hiện tại.
Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ chế thích ứng của di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng người Mông tại Sa Pa dưới tác động của du lịch. Nghiên cứu tập trung vào quá trình thương lượng giữa bảo tồn và đổi mới, giữa sinh hoạt nội bộ và nhu cầu trình diễn, cũng như giữa sinh kế và bản sắc tộc người. Sử dụng phương pháp định tính với 15 cuộc phỏng vấn sâu và 6 đợt quan sát tham dự tại 5 bản du lịch, dữ liệu được xử lý qua phân tích chủ đề và lý thuyết mạng lưới tác nhân. Kết quả chỉ ra bốn mô hình thích ứng cốt lõi: chuyển đổi chức năng nghi lễ sang hướng trình diễn; đổi mới nghề thủ công gắn với thị trường và tính xác thực; sự hình thành bản sắc lai ghép ở thế hệ trẻ trong vai trò trung gian văn hóa; dịch chuyển sang cơ chế đồng quản lý di sản giữa cộng đồng và chính quyền. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình tương tác đa chiều, cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững văn hóa tại vùng dân tộc thiểu số.
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích di tích đền Cuông với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chuyển đổi và hội nhập hiện nay. Trên cơ sở tư liệu khoa học, khảo sát thực địa, nghiên cứu làm rõ giá trị lịch sử, tín ngưỡng và vai trò của đền Cuông, thành tố trong hệ thống di sản văn hóa Bắc Trung Bộ trong hoạt động du lịch. Công tác bảo tồn đã có chuyển biến tích cực nhưng hoạt động khai thác du lịch văn hóa còn hạn chế, sản phẩm thiếu đặc trưng và tính kết nối vùng chưa cao. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa, bao gồm việc áp dụng chuyển đổi số và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung về khoa học và thực tiễn cho quản lý di sản gắn với phát triển du lịch, đồng thời, khẳng định giá trị biểu tượng của đền Cuông trong phát triển du lịch văn hóa bền vững tỉnh Nghệ An hiện nay.