Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực di sản văn hóa ở Việt Nam đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Bài viết tập trung phân tích thực trạng nguồn nhân lực hiện nay, chỉ ra những hạn chế về số lượng, chất lượng, kỹ năng số và tính liên kết giữa đào tạo với thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực di sản văn hóa giai đoạn 2026-2035 theo hướng chất lượng cao, linh hoạt và bền vững, trong đó nhấn mạnh vai trò của đổi mới đào tạo, ứng dụng công nghệ số, hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong giai đoạn tới.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới không chỉ đặt ra những mục tiêu tăng trưởng rất cao, mà quan trọng hơn, mở ra một cách tiếp cận mới: chuyển từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo giá trị, từ chạy theo số lượng khách sang nâng cao chất lượng trải nghiệm, từ quản lý một ngành dịch vụ sang quản trị một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp. Trong cách tiếp cận ấy, văn hóa là nền tảng cốt lõi, công nghệ và sáng tạo là động lực, doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, còn người dân vừa là chủ thể tham gia, vừa là người thụ hưởng. Vấn đề còn lại là biến tinh thần đổi mới đó thành thể chế, sản phẩm và không gian phát triển đủ sức đưa du lịch Việt Nam bước vào một giai đoạn mới.
Kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28/8/1945 - 28/8/2026) là dịp để tri ân những thế hệ đã bền bỉ giữ gìn, trao truyền và làm giàu các giá trị tinh thần của dân tộc; đồng thời cũng là thời điểm để suy nghĩ sâu sắc hơn về trách nhiệm của ngành Văn hóa trước một giai đoạn phát triển mới. Từ sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi”, phụng sự Tổ quốc và nhân dân, văn hóa hôm nay không chỉ phải giữ vai trò nền tảng tinh thần, mà còn cần thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, nguồn lực phát triển, năng lực mềm quốc gia và động lực đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới.
Tóm tắt: Bài viết phân tích những giá trị cơ bản của phương Đông trong nhận thức về văn hóa và con người, đồng thời, làm rõ thực tiễn vận dụng các giá trị này trong quá trình phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ triết học và văn hóa học, bài viết khẳng định các giá trị như đề cao đạo đức, tinh thần cộng đồng, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên và trách nhiệm xã hội đã trở thành nền tảng quan trọng của đời sống văn hóa phương Đông. Trong thực tiễn Việt Nam, các giá trị phương Đông được tiếp thu, chọn lọc và vận dụng linh hoạt trong quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển con người Việt Nam toàn diện. Bài viết cũng chỉ ra những thách thức đặt ra trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số, từ đó rút ra một số bài học nhằm phát huy hiệu quả các giá trị phương Đông trong sự phát triển bền vững của đất nước hiện nay.
Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đặt ra yêu cầu xây dựng văn hóa biển giàu bản sắc trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước từ biển. Đây không chỉ là một định hướng bảo tồn di sản, mà còn gợi mở cách tiếp cận mới: văn hóa biển phải được nhận diện như một nguồn lực nội sinh, một thành tố của kinh tế sáng tạo, một nền tảng của sức mạnh mềm và một không gian bồi đắp ý thức chủ quyền. Trong kỷ nguyên mới, câu hỏi không còn chỉ là chúng ta có những giá trị văn hóa biển nào, mà quan trọng hơn là làm thế nào để những giá trị ấy tiếp tục sống trong cộng đồng, tạo ra sinh kế, truyền cảm hứng sáng tạo và góp phần hình thành bản lĩnh của một dân tộc hướng ra biển.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được đưa ra xin ý kiến trong một thời điểm rất đặc biệt, khi văn hóa ngày càng được xác định rõ không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng, sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Sau Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội và những chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển, việc xây dựng một đạo luật riêng về công nghiệp văn hóa không đơn thuần là bổ sung thêm một văn bản vào hệ thống pháp luật. Điều quan trọng hơn là tạo ra một thể chế đủ sức giải phóng sức sáng tạo của xã hội, chuyển hóa kho tàng văn hóa Việt Nam thành tài sản trí tuệ, sản phẩm, doanh nghiệp, thị trường và sức mạnh mềm trong kỷ nguyên mới.
Bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV ngày 29/7/2026 đã nhấn mạnh một yêu cầu có tính nguyên tắc: giá trị của nghị quyết phải được thể hiện bằng sản phẩm cụ thể, hiệu quả phục vụ và sự hài lòng của Nhân dân. Đối với lĩnh vực văn hóa, yêu cầu này không chỉ đòi hỏi đổi mới phương thức quản lý, mà còn đặt ra nhiệm vụ xây dựng văn hóa thực thi, đề cao trách nhiệm công vụ và hình thành nền quản trị lấy con người làm trung tâm, lấy những giá trị tạo ra cho đời sống xã hội làm thước đo.
Kỷ niệm 96 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng (1/8/1930–1/8/2026) diễn ra trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang khẩn trương đưa Nghị quyết Đại hội XIV và các quyết sách của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV vào cuộc sống. Nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ, có thể thấy sức mạnh của ngành Tuyên giáo không chỉ nằm ở khả năng truyền bá tư tưởng, định hướng nhận thức, mà sâu xa hơn là năng lực khơi dậy niềm tin, tập hợp nhân dân và biến đường lối của Đảng thành hành động cách mạng. Trong giai đoạn phát triển mới, khi “điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi”, ngành Tuyên giáo càng phải đổi mới mạnh mẽ để trở thành lực lượng kiến tạo đồng thuận, thúc đẩy hành động và góp phần kiểm chứng hiệu quả của mỗi chủ trương bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống nhân dân.
Tóm tắt: Trên cơ sở tổng hợp tư liệu nghiên cứu và khảo sát thực tiễn, bài viết làm rõ một số đặc điểm biến đổi và tái cấu trúc không gian văn hóa, các thực hành lễ hội, tín ngưỡng, quan hệ cộng đồng và phong tục vòng đời của cư dân làng xã đô thị Thanh Hóa. Kết quả cho thấy đô thị hóa không làm mất đi văn hóa làng xã, mà thúc đẩy quá trình tái cấu trúc theo hướng chọn lọc và thích ứng. Một số giá trị truyền thống được duy trì dưới dạng biểu trưng, trong khi nhiều thực hành văn hóa được điều chỉnh cho phù hợp với không gian và cơ chế quản lý đô thị. Qua đó, bài viết góp phần nhận diện đặc trưng của văn hóa làng xã đô thị Thanh Hóa và gợi mở một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý và bảo tồn văn hóa hiện nay.
Có những cuốn sách khi ra đời không chỉ thuộc về đời sống văn chương. Nó bước vào đời sống xã hội, chạm đến ký ức cộng đồng, đánh động tình cảm của nhân dân và đặt ra những câu hỏi lớn hơn chính số phận của một tác phẩm. Sự việc liên quan đến cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” là một trường hợp như vậy.
Tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một tầm nhìn mới về đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Đó là nền đối ngoại không chỉ giữ gìn môi trường hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, mà còn kiến tạo năng lực phát triển, lan tỏa bản sắc văn hóa, nâng tầm vị thế đất nước và đóng góp có trách nhiệm vào nền văn minh nhân loại. Trong tầm nhìn ấy, đối ngoại không đứng bên ngoài văn hóa, mà chính là một biểu hiện tập trung của bản lĩnh văn hóa Việt Nam: độc lập mà rộng mở, tự chủ mà hòa hiếu, kiên định mà linh hoạt, vì lợi ích dân tộc nhưng luôn gắn với trách nhiệm chung của nhân loại.