Trong kỷ nguyên số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể chỉ dừng ở việc xử lý thông tin sai lệch sau khi đã lan truyền. Trước những tác động ngày càng tinh vi của AI tạo sinh, deepfake, thuật toán mạng xã hội và các sản phẩm văn hóa số xuyên biên giới, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một “lá chắn mềm” bằng bản lĩnh văn hóa, năng lực phản biện, trách nhiệm công dân số và hệ sinh thái nội dung tích cực.
Tóm tắt: Bài viết làm rõ bước chuyển mới trong quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam thông qua phân tích, so sánh Nghị quyết số 33-NQ/TW (2014) và Nghị quyết số 80-NQ/TW (2026). Trên cơ sở kế thừa quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực tạo sức mạnh nội sinh cho phát triển bền vững, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã phát triển và làm sâu sắc hơn các nội dung về hệ giá trị, không gian văn hóa số, công nghiệp văn hóa và mô hình quản trị văn hóa hiện đại, qua đó gợi mở một số hàm ý chính sách cho việc triển khai nghị quyết trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Tóm tắt: Kinh tế di sản đang nổi lên như một chiến lược đột phá nhằm chuyển đổi các giá trị văn hóa, lịch sử thành nguồn lực kinh tế bền vững cho quốc gia và cộng đồng. Lần đầu tiên, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chính thức đưa vấn đề kinh tế di sản vào trọng tâm, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nhận thức, từ chỗ coi di sản là giá trị tinh thần sang một tài sản kinh tế, xã hội cần khai thác và phát huy trong xã hội đương đại. Bài viết bàn về kinh tế di sản, điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIV về phát triển kinh tế di sản và kiến nghị về việc hiện thực hóa quan điểm đó của Đảng trong bối cảnh mới ở Việt Nam.
Trong lịch sử phát triển của dân tộc, văn hóa chưa bao giờ là một lĩnh vực đứng bên ngoài vận mệnh quốc gia. Văn hóa là nơi kết tinh ký ức, bản lĩnh, trí tuệ, nhân cách và khát vọng của cộng đồng dân tộc; là sức mạnh giúp đất nước vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất; là nền tảng tinh thần để con người Việt Nam biết mình là ai, đến từ đâu và phải đi tới tương lai bằng tâm thế nào. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, văn hóa không chỉ cần được nhìn nhận như di sản tinh thần hay hệ giá trị cần bảo vệ, mà còn phải được đặt vào trung tâm của tư duy phát triển, trở thành nguồn lực nội sinh, động lực đổi mới sáng tạo, sức mạnh mềm quốc gia và một thành tố quan trọng của năng lực cạnh tranh.
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của di sản văn hóa Phật giáo trong phát triển du lịch tâm linh tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời làm rõ những vấn đề phát sinh khi di sản tôn giáo được tiếp cận như một tài nguyên du lịch trong bối cảnh không gian thiêng giao thoa với hoạt động du lịch. Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu hệ thống di sản văn hóa Phật giáo phong phú cả về vật thể và phi vật thể, tạo nền tảng thuận lợi cho sự hình thành các hoạt động du lịch tâm linh. Tuy nhiên, việc khai thác hiện nay chủ yếu mang tính tự phát, tập trung vào thăm viếng và hành hương cá nhân, trong khi các chương trình do doanh nghiệp lữ hành thiết kế còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết gợi mở định hướng phát triển du lịch tâm linh theo hướng cân bằng giữa bảo tồn giá trị di sản và khai thác du lịch, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.
Tóm tắt: Bài viết phân tích những nội dung cốt lõi và yêu cầu thực thi của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Trên cơ sở kết quả Hội nghị toàn quốc ngày 25/2/2026, bài viết làm rõ ba vấn đề trọng tâm: sự đổi mới trong tư duy định vị văn hóa và con người là nền tảng vững chắc, trụ cột và hệ điều tiết của phát triển; những nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng hệ giá trị, môi trường văn hóa và phát triển con người Việt Nam thời kỳ mới; và các điều kiện bảo đảm thực thi thông qua hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị. Bài viết nhấn mạnh rằng triển khai hiệu quả Nghị quyết 80 sẽ góp phần khơi dậy sức mạnh nội sinh, nâng cao chất lượng phát triển và tăng cường sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Tóm tắt: Tư tưởng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, Người đã đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong kỷ nguyên mới, tư tưởng đó tiếp tục lan tỏa giá trị định hướng quan trọng đối với phát triển văn hóa Việt Nam. Bài viết làm rõ những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, phân tích những yêu cầu và thách thức đặt ra đối với phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới và làm rõ ý nghĩa của tư tưởng ấy đối với phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay, qua đó khẳng định vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững đất nước.
Tóm tắt: Ngoại giao văn hóa của Việt Nam và Trung Quốc cho thấy văn hóa là công cụ quan trọng định vị hình ảnh quốc gia. Trung Quốc phát huy mạnh mẽ sức mạnh mềm qua Viện Khổng Tử, nghệ thuật, điện ảnh và giao lưu quốc tế, qua đó mở rộng ảnh hưởng toàn cầu. Việt Nam với di sản UNESCO và bản sắc phong phú đang từng bước khẳng định vị thế, phát huy sức mạnh mềm, Trung tâm phát triển song còn hạn chế về quy mô, nguồn lực và chiến lược. Giải pháp cho Việt Nam là kết hợp hài hòa truyền thống, hiện đại, huy động sự phối hợp giữa Nhà nước, xã hội và kiều bào, từ đó, tăng cường sức mạnh mềm và nâng tầm vị thế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Tóm tắt: Văn hóa Việt nói chung, văn hóa Nam Bộ nói riêng đều có tính tổng hợp. Nhờ có tính tổng mà các nền văn hóa, tôn giáo trên thế giới khi du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận. Đặc biệt ở vùng Nam Bộ, nơi có nhiều tộc người sinh sống; nhiều tôn giáo, tín ngưỡng hoạt động sôi động thì tinh thần dung hợp lại diễn ra mạnh mẽ. Nhiều hệ phái, tôn giáo mới ra đời tại vùng đất này vào những năm đầu TK XX có thể kể đến Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Sự tổng hợp trong Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài tạo ra một hình thức hệ phái, tôn giáo mới vừa mới lạ, vừa thân quen, thu hút rất đông đảo quần chúng ở Nam Bộ tin tưởng. Phải nói nhờ có tính tổng hợp mới có các hệ phái, tôn giáo nội sinh như Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài ra đời và phát triển như ngày hôm nay.
Tóm tắt: Tự quản cộng đồng dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc là một hình thức tập hợp tổ, nhóm các cá nhân hoặc hộ gia đình trong một địa bàn dân cư theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm và tương trợ lẫn nhau. Các mô hình tự quản cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ tập tục truyền thống, cũng như pháp luật của Nhà nước nhằm đảm bảo an ninh trật tự, phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương và xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, khu vực này ngày càng xuất hiện nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp của kinh tế thị trường, tình trạng buôn lậu ma túy, mua bán người, lừa đảo trên không gian mạng và thảm họa thiên tai đòi hỏi các mô hình tự quản cần phải có các hình thức và nội dung thích hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá mô hình tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn.
Trong dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV có đề cập đến vấn đề “Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản”. Vậy bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa? Khái niệm của kinh tế di sản? Các loại hình kinh tế di sản? Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy hiệu quả các giá trị di sản và kinh tế di sản là như thế nào? Đó là những nội dung quan trọng trong bài viết này.