Tóm tắt: Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đặt nền móng cho công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng nền văn hóa mới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú trọng phát triển văn hóa, trong đó, tư tưởng “Đời sống mới” là nội dung xuyên suốt, mang tính định hướng cho việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Bài viết tập trung phân tích thực trạng vận dụng tư tưởng trên vào phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, từ đó đánh giá các thành tựu, hạn chế và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trong bối cảnh hiện nay.
Tóm tắt: Bài viết phân tích những nội dung cốt lõi và yêu cầu thực thi của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Trên cơ sở kết quả Hội nghị toàn quốc ngày 25/2/2026, bài viết làm rõ ba vấn đề trọng tâm: sự đổi mới trong tư duy định vị văn hóa và con người là nền tảng vững chắc, trụ cột và hệ điều tiết của phát triển; những nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng hệ giá trị, môi trường văn hóa và phát triển con người Việt Nam thời kỳ mới; và các điều kiện bảo đảm thực thi thông qua hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị. Bài viết nhấn mạnh rằng triển khai hiệu quả Nghị quyết 80 sẽ góp phần khơi dậy sức mạnh nội sinh, nâng cao chất lượng phát triển và tăng cường sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Tóm tắt: Tư tưởng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, Người đã đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong kỷ nguyên mới, tư tưởng đó tiếp tục lan tỏa giá trị định hướng quan trọng đối với phát triển văn hóa Việt Nam. Bài viết làm rõ những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, phân tích những yêu cầu và thách thức đặt ra đối với phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới và làm rõ ý nghĩa của tư tưởng ấy đối với phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay, qua đó khẳng định vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững đất nước.
Tóm tắt: Ngoại giao văn hóa của Việt Nam và Trung Quốc cho thấy văn hóa là công cụ quan trọng định vị hình ảnh quốc gia. Trung Quốc phát huy mạnh mẽ sức mạnh mềm qua Viện Khổng Tử, nghệ thuật, điện ảnh và giao lưu quốc tế, qua đó mở rộng ảnh hưởng toàn cầu. Việt Nam với di sản UNESCO và bản sắc phong phú đang từng bước khẳng định vị thế, phát huy sức mạnh mềm, Trung tâm phát triển song còn hạn chế về quy mô, nguồn lực và chiến lược. Giải pháp cho Việt Nam là kết hợp hài hòa truyền thống, hiện đại, huy động sự phối hợp giữa Nhà nước, xã hội và kiều bào, từ đó, tăng cường sức mạnh mềm và nâng tầm vị thế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Tóm tắt: Văn hóa Việt nói chung, văn hóa Nam Bộ nói riêng đều có tính tổng hợp. Nhờ có tính tổng mà các nền văn hóa, tôn giáo trên thế giới khi du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận. Đặc biệt ở vùng Nam Bộ, nơi có nhiều tộc người sinh sống; nhiều tôn giáo, tín ngưỡng hoạt động sôi động thì tinh thần dung hợp lại diễn ra mạnh mẽ. Nhiều hệ phái, tôn giáo mới ra đời tại vùng đất này vào những năm đầu TK XX có thể kể đến Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Sự tổng hợp trong Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài tạo ra một hình thức hệ phái, tôn giáo mới vừa mới lạ, vừa thân quen, thu hút rất đông đảo quần chúng ở Nam Bộ tin tưởng. Phải nói nhờ có tính tổng hợp mới có các hệ phái, tôn giáo nội sinh như Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài ra đời và phát triển như ngày hôm nay.
Tóm tắt: Tự quản cộng đồng dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc là một hình thức tập hợp tổ, nhóm các cá nhân hoặc hộ gia đình trong một địa bàn dân cư theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm và tương trợ lẫn nhau. Các mô hình tự quản cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ tập tục truyền thống, cũng như pháp luật của Nhà nước nhằm đảm bảo an ninh trật tự, phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương và xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, khu vực này ngày càng xuất hiện nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp của kinh tế thị trường, tình trạng buôn lậu ma túy, mua bán người, lừa đảo trên không gian mạng và thảm họa thiên tai đòi hỏi các mô hình tự quản cần phải có các hình thức và nội dung thích hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá mô hình tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn.
Trong dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV có đề cập đến vấn đề “Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản”. Vậy bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa? Khái niệm của kinh tế di sản? Các loại hình kinh tế di sản? Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy hiệu quả các giá trị di sản và kinh tế di sản là như thế nào? Đó là những nội dung quan trọng trong bài viết này.
Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tinh thần dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ là một chiến lược đồng bộ, kết hợp hài hòa giữa giữ gìn truyền thống văn hóa và vươn tới hiện đại hóa. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng Việt Nam thành một quốc gia hùng cường, thịnh vượng với mô hình xã hội văn minh, hiện đại nơi con người là chủ thể, trung tâm và là động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Đây là một nhiệm vụ lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Tóm tắt: Do đặc điểm cấu tạo về địa hình mà văn hóa ăn, ở, đi lại của cư dân vùng đồng chiêm trũng ở châu thổ Bắc Bộ cũng có những nét khác biệt so với cư dân vùng đồng mùa, nơi có cấu tạo địa hình cao hơn so với mực nước biển. Vài chục năm sau Đổi mới, dưới sự tác động của xu thế toàn cầu hóa, hiện đại hóa, văn hóa ăn, ở, đi lại của cư dân vùng đồng chiêm trũng cũng có những biến đổi mạnh mẽ mang những đặc điểm riêng. Tìm hiểu về biến đổi trong văn hóa ăn, ở, đi lại của cư dân ở các làng chiêm trũng châu thổ Bắc Bộ (qua trường hợp làng Xuân La, xã Phượng Dực, thành phố Hà Nội) nhằm nhận diện các đặc điểm của sự biến đổi trong văn hóa vật chất của người dân, giúp các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách phát triển văn hóa bền vững.
Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập đa văn hóa, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt tại Tuyên Quang - vùng đất giàu bản sắc, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu và Thiền Trúc Lâm. Hai giá trị này không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn là nền tảng tinh thần và văn hóa của cộng đồng. Bài viết tập trung làm rõ vai trò và phương thức phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu và Thiền Trúc Lâm trong đời sống văn hóa Tuyên Quang hiện nay.
Tóm tắt: Bài viết đề xuất cách tiếp cận phát triển không gian văn hóa - du lịch và tổ chức lễ hội tại cụm di tích đình - miếu Cái Chiên, xã Cái Chiên, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tổng hợp lý thuyết, chuẩn mực quốc tế và quy phạm pháp luật Việt Nam, đối chiếu với dữ liệu thực địa, tư liệu lịch sử, văn hóa địa phương. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình tổ chức không gian tích hợp 4 lớp (lõi thiêng; không gian trình diễn và tuyến rước; không gian dịch vụ du lịch sinh thái - văn hóa; vùng đệm sinh thái), kèm cơ chế đồng quản trị cộng đồng, quy trình đánh giá tác động di sản (HIA) và bộ chỉ số theo dõi sức chứa, giới hạn biến đổi chấp nhận được (LAC). Kết quả hướng tới bảo tồn giá trị gốc, nâng cao trải nghiệm du khách, tạo sinh kế bền vững và phù hợp với các quy hoạch hiện hành của tỉnh Quảng Ninh, đồng thời đóng góp một mô hình thực hành có thể nhân rộng cho các cụm di tích ven biển - hải đảo ở Việt Nam.