Pác Bó, Cao Bằng - mảnh đất thiêng liêng, đầu nguồn cách mạng, nơi đã gắn liền với một thời kỳ hoạt động cách mạng rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 28-1-1941, thời khắc lịch sử lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt chân tới cột mốc 108, nằm trên biên giới Việt - Trung (thuộc tỉnh Cao Bằng) trở về Tổ quốc sau 30 năm ở nước ngoài tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Cùng với những di sản văn hóa vật thể, sự trường tồn của những sự kiện lịch sử liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh - “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất” còn được kết tinh đậm nét trong những di sản văn hóa rất quý giá là những văn kiện, những tác phẩm, những bài viết do chính Người soạn thảo tại nơi đây.
Ngày 6-1-2026, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Văn Hùng đã ký ban hành các quyết định về việc đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể.
Tóm tắt: Bài viết phân tích sự chuyển đổi không gian thực hành hát xoan Phú Thọ trong bối cảnh đô thị hóa tại thành phố Việt Trì (trước đây). Nghiên cứu nhằm nhận diện sự biến đổi từ không gian truyền thống (đình, miếu, phường Xoan gốc) sang không gian đô thị (quảng trường, công viên, trường học, du lịch) và đánh giá tác động của quá trình này đối với tính nguyên gốc và tính thiêng của di sản. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên tư liệu thứ cấp, phân tích so sánh kết hợp khung SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. Kết quả cho thấy hát xoan là di sản có khả năng thích ứng cao trong không gian xã hội mới, song vẫn đối diện nguy cơ thương mại hóa và lệch chuẩn thực hành. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình “bảo tồn kép” nhằm duy trì không gian nghi lễ truyền thống trong môi trường đô thị, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam.
Tóm tắt: Bài viết phân tích sự biến đổi của lễ hội truyền thống ở Ninh Bình trong bối cảnh phát triển du lịch thông qua việc vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết các bên liên quan. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm cân bằng giữa bảo tồn truyền thống và khai thác du lịch bền vững, nhằm duy trì tính thiêng, đồng thời, tăng cường giáo dục du lịch có trách nhiệm, góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong hội nhập quốc tế.
Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt lớn của Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Cục VHDTVN), là năm đầu tiên đơn vị triển khai nhiệm vụ trong bối cảnh bộ máy được kiện toàn theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức mới. Với vai trò là cơ quan tham mưu về văn hóa các dân tộc thiểu số, Cục VHDTVN đã chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo, triển khai đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, tổ chức hoạt động bảo tồn tại cộng đồng đến phát huy hiệu quả vai trò của Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam… Những nỗ lực đó đã tạo dấu ấn rõ nét trong công tác bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trên phạm vi cả nước.
Năm 2025 đã đánh dấu một giai đoạn bản lề, mang tính bước ngoặt đối với ngành di sản văn hóa Việt Nam. Bắt nguồn từ quan điểm của Đại hội Đảng XIII coi văn hóa là một trong bốn trụ cột phát triển kinh tế - xã hội, toàn ngành VHTTDL đã có một sự thay đổi tư duy cốt lõi: chuyển từ “làm văn hóa” sang “quản lý nhà nước về văn hóa”. Sự chuyển đổi này được củng cố bởi một nền tảng pháp lý đột phá với việc Quốc hội ban hành Luật Di sản văn hóa năm 2024, mở đường cho một giai đoạn mới trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Trang phục truyền thống của người Mường là kết tinh văn hóa, có dáng dấp giản dị nhưng tinh tế ở chất liệu, kỹ thuật dệt, cách phối màu và hệ hoa văn. Bởi vậy, bảo tồn trang phục Mường không chỉ là giữ lại hình thức trang phục, mà là gìn giữ một hệ tri thức sâu dày về đời sống văn hóa – xã hội, tín ngưỡng, thẩm mỹ và nghề dệt thêu, thể hiện qua màu sắc, hoa văn, cách mặc cùng các phong tục, lễ hội gắn liền với cộng đồng. Qua đó, những giá trị di sản phi vật thể vô giá phản ánh lịch sử và bản sắc người Mường được bảo lưu và truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay.
Trong chuỗi hoạt động đồng hành cùng Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025 có nhiều hoạt động hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước, một trong số đó là không gian “Cà phê toa tàu - Hành trình Di sản” - Tái hiện 1 toa tàu cổ 1932 thành “Heritage Coffee Experience” đưa khách tham quan một số điểm di sản trong khu vực Đà Lạt.
Trong đời sống hiện đại, khi giao thoa văn hóa diễn ra mạnh mẽ và thói quen thưởng thức nghệ thuật thay đổi nhanh, việc bảo tồn dân ca, dân vũ của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) không chỉ là câu chuyện gìn giữ một loại hình nghệ thuật, mà là nhiệm vụ cấp thiết để giữ hồn cốt văn hóa cộng đồng, giữ “mạch nguồn” nuôi dưỡng bản lĩnh, tinh thần và sự gắn kết của các tộc người.
Nếu cảnh đẹp đưa du khách đến với vùng cao, thì các món ăn lại là một trong những điều giữ họ ở lại lâu hơn và thôi thúc họ quay trở lại. Trong bối cảnh du lịch ngày càng ưu tiên cho trải nghiệm bản địa và sự khác biệt, ẩm thực vì thế trở thành một điểm nhấn quan trọng, góp phần định vị bản sắc cho mỗi điểm đến.
Dưới tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và bùng nổ thông tin, đời sống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang đứng trước không ít thách thức. Trong dòng chảy ấy, trang phục truyền thống - một biểu trưng quan trọng của bản sắc tộc người, ngày càng chịu sức ép lớn từ sự giao thoa, du nhập văn hóa ngoại lai. Không ít phong tục, tập quán, trong đó có tập quán ăn mặc gắn với đời sống thường nhật, đang dần phai nhạt, thậm chí đứng trước nguy cơ mai một. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nói chung, giá trị trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số nói riêng đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, các cơ quan chuyên môn và đặc biệt là chính cộng đồng, những “chủ thể văn hóa” của di sản.