Ngày 29/10/2026, tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra yêu cầu đổi mới sâu sắc công tác lý luận: vừa kiên trì tổng kết thực tiễn, vừa phát hiện những vấn đề mới, dự báo những xu hướng chưa định hình đầy đủ và cung cấp luận cứ khoa học cho những quyết sách có tầm nhìn dài hạn. Trong hệ thống nhiệm vụ được nêu, một chỉ đạo có ý nghĩa trực tiếp đối với đời sống văn hóa là phải “làm rõ vai trò của văn hóa, lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trong định hướng sáng tạo, xây dựng nhân cách và sức mạnh mềm quốc gia”[1]. Đây không phải một yêu cầu riêng đối với hoạt động nghiên cứu hay phê bình, mà gợi mở cách nhìn rộng hơn: lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật phải trở thành bộ phận hữu cơ của hệ sinh thái sáng tạo, phát triển con người và năng lực văn hóa quốc gia.
Tóm tắt: Bài viết tiếp cận Hiếu hạnh Phật giáo như một nguồn lực văn hóa tham gia vào quá trình tái cấu trúc hệ giá trị đạo đức và chuyển hóa nhân cách của người Việt Nam trong kỷ nguyên số. Trên cơ sở phân tích tài liệu, tiếp cận liên ngành giữa văn hóa học, Phật học và tâm lý học, kết hợp dữ liệu khảo sát 294 học sinh, sinh viên về quan niệm chữ Hiếu, nghiên cứu chỉ ra sự chuyển dịch đáng chú ý trong nhận thức đạo đức của người trẻ: Hiếu vẫn hiện diện như trách nhiệm gia đình, song chưa được nội tâm hóa đầy đủ như một định hướng hoàn thiện nhân cách và trách nhiệm xã hội. Từ nền tảng tri ân, báo ân, duyên khởi, từ bi và vô ngã, Hiếu hạnh Phật giáo vận hành như cơ chế giáo dục văn hóa, giúp chuyển hóa nhận thức, cảm xúc, hành vi và hệ giá trị của cá nhân. Đóng góp của bài viết nằm ở việc chuyển cách nhìn nhận Hiếu hạnh từ một phạm trù luân lý sang một thực hành tu dưỡng và một nguồn lực tái tạo vốn đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện đại.
Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV đặt ra yêu cầu gắn xây dựng Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo với nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và phát triển đất nước. Nhìn từ góc độ văn hóa, Hội nghị còn đặt ra yêu cầu xây dựng văn hóa lãnh đạo liêm chính, đề cao trách nhiệm, trọng dụng thực tài và khuyến khích sáng tạo. Những yêu cầu ấy cần được cụ thể hóa trong hoạt động công quyền và chính sách phát triển văn hóa, hướng tới nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân.
Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 5/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra một yêu cầu xuyên suốt: quyết sách phải đi tới kết quả, quyền hạn phải gắn với trách nhiệm, nguồn lực phải chuyển hóa thành năng lực phát triển và mọi lựa chọn cuối cùng phải được kiểm chứng bằng lợi ích thực tế của Nhân dân. Đặt tinh thần ấy trong mạch Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển, cùng các Nghị quyết 25, 57, 59 và 66, có thể thấy rõ một đòi hỏi lớn của giai đoạn mới: xây dựng văn hóa thực thi như một năng lực phát triển, để văn hóa thấm vào cách lãnh đạo, quản trị, sử dụng con người và tổ chức nguồn lực.
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực di sản văn hóa ở Việt Nam đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Bài viết tập trung phân tích thực trạng nguồn nhân lực hiện nay, chỉ ra những hạn chế về số lượng, chất lượng, kỹ năng số và tính liên kết giữa đào tạo với thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực di sản văn hóa giai đoạn 2026-2035 theo hướng chất lượng cao, linh hoạt và bền vững, trong đó nhấn mạnh vai trò của đổi mới đào tạo, ứng dụng công nghệ số, hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong giai đoạn tới.
Tóm tắt: Trong định hướng phát triển đất nước hiện nay, tăng trưởng hai con số không chỉ đặt ra yêu cầu mở rộng quy mô kinh tế mà còn đòi hỏi một mô hình tăng trưởng có chất lượng cao hơn, dựa nhiều hơn vào tri thức, sáng tạo, con người và những nguồn lực nội sinh có khả năng tái tạo. Từ cách tiếp cận đó, văn hóa cần được nhìn nhận đồng thời trên hai bình diện: một mặt, văn hóa tạo ra hệ giá trị, niềm tin, tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, kỷ cương, trách nhiệm và khát vọng cống hiến - những yếu tố tác động sâu đến chất lượng con người, năng suất xã hội và sức bền của phát triển; mặt khác, văn hóa trực tiếp tạo ra sản phẩm, việc làm, doanh thu, xuất khẩu, tài sản trí tuệ và sức mạnh mềm thông qua công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, du lịch văn hóa và các thị trường nội dung số. Trên cơ sở phân tích Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 28/2026/QH16, số liệu cập nhật của Việt Nam và kinh nghiệm của Vương quốc Anh, Hàn Quốc cùng các khuyến nghị của UNESCO, UNCTAD, bài viết làm rõ cơ chế chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành động lực tăng trưởng; đồng thời đề xuất một số điều kiện then chốt để văn hóa đóng góp thực chất hơn vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 nghị quyết, 1 chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ quán triệt sang tổ chức thực hiện, từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, từ những chủ trương đúng đến những chuyển biến mà Nhân dân thực sự cảm nhận được. Đặt trong lĩnh vực văn hóa, thông điệp ấy gợi mở một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt: muốn văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của đất nước, trước hết phải hình thành một văn hóa thực thi mạnh mẽ, trong đó trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả và niềm tin của Nhân dân trở thành thước đo cuối cùng.
Tóm tắt: Hiện nay, trong lĩnh vực di sản văn hóa, một số khái niệm như “quản lý”, “bảo tồn”, “bảo vệ” di sản văn hóa đang được sử dụng chưa thống nhất trong nghiên cứu khoa học và trong hoạt động thực tiễn. Nội hàm giữa các khái niệm có sự chồng chéo, chưa được phân định rõ ràng dẫn đến cách hiểu và vận dụng khác nhau trong hoạt động quản lý, bảo vệ, bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa. Trên cơ sở phân tích các văn bản pháp luật, quan điểm nghiên cứu và thực tiễn hoạt động chuyên ngành, bài viết nhằm làm rõ nội hàm, phạm vi, bản chất, chức năng và mối quan hệ giữa các khái niệm nêu trên, đồng thời chỉ ra những bất cập trong quá trình sử dụng thuật ngữ hiện nay. Từ đó, bài viết đề xuất hướng tiếp cận nhằm chuẩn hóa, thống nhất cách hiểu và nhận diện các khái niệm trong lĩnh vực di sản văn hóa, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh phát triển bền vững.
Tóm tắt: Bài viết vận dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa của Berry để phân tích quá trình thích nghi văn hóa của sinh viên trong môi trường đại học đa văn hóa tại một số trường đại học đào tạo ngoại ngữ ở Hà Nội. Dựa trên 674 ý kiến định tính hợp lệ của sinh viên Việt Nam, sinh viên quốc tế và cán bộ giảng viên, nghiên cứu nhận diện các biểu hiện của hội nhập, tách biệt, bên lề hóa và lai ghép văn hóa trong đời sống học đường. Kết quả cho thấy trải nghiệm tiếp biến văn hóa được thể hiện rõ nhất qua quan hệ ứng xử, không gian tương tác đa văn hóa, giao tiếp giữa các chủ thể, xung đột chuẩn mực, cũng như việc sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng và truyền thông trong môi trường đại học. Phân tích chỉ ra rằng tiếp biến văn hóa không chỉ là quá trình sinh viên quốc tế thích nghi với văn hóa Việt Nam, mà còn là quá trình hai chiều; trong đó, sinh viên Việt Nam, sinh viên quốc tế và các chủ thể giáo dục cùng điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ và chuẩn mực giao tiếp. Nghiên cứu khẳng định rằng, môi trường đại học đa văn hóa có chiều sâu chỉ được hình thành khi nhà trường tạo lập các điều kiện thể chế, học thuật và tương tác phù hợp, giúp sinh viên vừa duy trì bản sắc văn hóa riêng, vừa tham gia bình đẳng vào cộng đồng học đường.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới không chỉ đặt ra những mục tiêu tăng trưởng rất cao, mà quan trọng hơn, mở ra một cách tiếp cận mới: chuyển từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo giá trị, từ chạy theo số lượng khách sang nâng cao chất lượng trải nghiệm, từ quản lý một ngành dịch vụ sang quản trị một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp. Trong cách tiếp cận ấy, văn hóa là nền tảng cốt lõi, công nghệ và sáng tạo là động lực, doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, còn người dân vừa là chủ thể tham gia, vừa là người thụ hưởng. Vấn đề còn lại là biến tinh thần đổi mới đó thành thể chế, sản phẩm và không gian phát triển đủ sức đưa du lịch Việt Nam bước vào một giai đoạn mới.
Kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28/8/1945 - 28/8/2026) là dịp để tri ân những thế hệ đã bền bỉ giữ gìn, trao truyền và làm giàu các giá trị tinh thần của dân tộc; đồng thời cũng là thời điểm để suy nghĩ sâu sắc hơn về trách nhiệm của ngành Văn hóa trước một giai đoạn phát triển mới. Từ sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi”, phụng sự Tổ quốc và nhân dân, văn hóa hôm nay không chỉ phải giữ vai trò nền tảng tinh thần, mà còn cần thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, nguồn lực phát triển, năng lực mềm quốc gia và động lực đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới.