Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 nghị quyết, 1 chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ quán triệt sang tổ chức thực hiện, từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, từ những chủ trương đúng đến những chuyển biến mà Nhân dân thực sự cảm nhận được. Đặt trong lĩnh vực văn hóa, thông điệp ấy gợi mở một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt: muốn văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của đất nước, trước hết phải hình thành một văn hóa thực thi mạnh mẽ, trong đó trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả và niềm tin của Nhân dân trở thành thước đo cuối cùng.
Tóm tắt: Bài viết phân tích những giá trị cơ bản của phương Đông trong nhận thức về văn hóa và con người, đồng thời, làm rõ thực tiễn vận dụng các giá trị này trong quá trình phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ triết học và văn hóa học, bài viết khẳng định các giá trị như đề cao đạo đức, tinh thần cộng đồng, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên và trách nhiệm xã hội đã trở thành nền tảng quan trọng của đời sống văn hóa phương Đông. Trong thực tiễn Việt Nam, các giá trị phương Đông được tiếp thu, chọn lọc và vận dụng linh hoạt trong quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển con người Việt Nam toàn diện. Bài viết cũng chỉ ra những thách thức đặt ra trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số, từ đó rút ra một số bài học nhằm phát huy hiệu quả các giá trị phương Đông trong sự phát triển bền vững của đất nước hiện nay.
Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đặt ra yêu cầu xây dựng văn hóa biển giàu bản sắc trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước từ biển. Đây không chỉ là một định hướng bảo tồn di sản, mà còn gợi mở cách tiếp cận mới: văn hóa biển phải được nhận diện như một nguồn lực nội sinh, một thành tố của kinh tế sáng tạo, một nền tảng của sức mạnh mềm và một không gian bồi đắp ý thức chủ quyền. Trong kỷ nguyên mới, câu hỏi không còn chỉ là chúng ta có những giá trị văn hóa biển nào, mà quan trọng hơn là làm thế nào để những giá trị ấy tiếp tục sống trong cộng đồng, tạo ra sinh kế, truyền cảm hứng sáng tạo và góp phần hình thành bản lĩnh của một dân tộc hướng ra biển.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được đưa ra xin ý kiến trong một thời điểm rất đặc biệt, khi văn hóa ngày càng được xác định rõ không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng, sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Sau Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội và những chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển, việc xây dựng một đạo luật riêng về công nghiệp văn hóa không đơn thuần là bổ sung thêm một văn bản vào hệ thống pháp luật. Điều quan trọng hơn là tạo ra một thể chế đủ sức giải phóng sức sáng tạo của xã hội, chuyển hóa kho tàng văn hóa Việt Nam thành tài sản trí tuệ, sản phẩm, doanh nghiệp, thị trường và sức mạnh mềm trong kỷ nguyên mới.
Bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV ngày 29/7/2026 đã nhấn mạnh một yêu cầu có tính nguyên tắc: giá trị của nghị quyết phải được thể hiện bằng sản phẩm cụ thể, hiệu quả phục vụ và sự hài lòng của Nhân dân. Đối với lĩnh vực văn hóa, yêu cầu này không chỉ đòi hỏi đổi mới phương thức quản lý, mà còn đặt ra nhiệm vụ xây dựng văn hóa thực thi, đề cao trách nhiệm công vụ và hình thành nền quản trị lấy con người làm trung tâm, lấy những giá trị tạo ra cho đời sống xã hội làm thước đo.
Kỷ niệm 96 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng (1/8/1930–1/8/2026) diễn ra trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang khẩn trương đưa Nghị quyết Đại hội XIV và các quyết sách của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV vào cuộc sống. Nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ, có thể thấy sức mạnh của ngành Tuyên giáo không chỉ nằm ở khả năng truyền bá tư tưởng, định hướng nhận thức, mà sâu xa hơn là năng lực khơi dậy niềm tin, tập hợp nhân dân và biến đường lối của Đảng thành hành động cách mạng. Trong giai đoạn phát triển mới, khi “điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi”, ngành Tuyên giáo càng phải đổi mới mạnh mẽ để trở thành lực lượng kiến tạo đồng thuận, thúc đẩy hành động và góp phần kiểm chứng hiệu quả của mỗi chủ trương bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống nhân dân.
Tóm tắt: Trên cơ sở tổng hợp tư liệu nghiên cứu và khảo sát thực tiễn, bài viết làm rõ một số đặc điểm biến đổi và tái cấu trúc không gian văn hóa, các thực hành lễ hội, tín ngưỡng, quan hệ cộng đồng và phong tục vòng đời của cư dân làng xã đô thị Thanh Hóa. Kết quả cho thấy đô thị hóa không làm mất đi văn hóa làng xã, mà thúc đẩy quá trình tái cấu trúc theo hướng chọn lọc và thích ứng. Một số giá trị truyền thống được duy trì dưới dạng biểu trưng, trong khi nhiều thực hành văn hóa được điều chỉnh cho phù hợp với không gian và cơ chế quản lý đô thị. Qua đó, bài viết góp phần nhận diện đặc trưng của văn hóa làng xã đô thị Thanh Hóa và gợi mở một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý và bảo tồn văn hóa hiện nay.
Có những cuốn sách khi ra đời không chỉ thuộc về đời sống văn chương. Nó bước vào đời sống xã hội, chạm đến ký ức cộng đồng, đánh động tình cảm của nhân dân và đặt ra những câu hỏi lớn hơn chính số phận của một tác phẩm. Sự việc liên quan đến cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” là một trường hợp như vậy.
Tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một tầm nhìn mới về đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Đó là nền đối ngoại không chỉ giữ gìn môi trường hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, mà còn kiến tạo năng lực phát triển, lan tỏa bản sắc văn hóa, nâng tầm vị thế đất nước và đóng góp có trách nhiệm vào nền văn minh nhân loại. Trong tầm nhìn ấy, đối ngoại không đứng bên ngoài văn hóa, mà chính là một biểu hiện tập trung của bản lĩnh văn hóa Việt Nam: độc lập mà rộng mở, tự chủ mà hòa hiếu, kiên định mà linh hoạt, vì lợi ích dân tộc nhưng luôn gắn với trách nhiệm chung của nhân loại.
Trong kỷ nguyên số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể chỉ dừng ở việc xử lý thông tin sai lệch sau khi đã lan truyền. Trước những tác động ngày càng tinh vi của AI tạo sinh, deepfake, thuật toán mạng xã hội và các sản phẩm văn hóa số xuyên biên giới, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một “lá chắn mềm” bằng bản lĩnh văn hóa, năng lực phản biện, trách nhiệm công dân số và hệ sinh thái nội dung tích cực.
Không gian mạng đang trở thành mặt trận tư tưởng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên số. Tại đây, những tác động đến nhận thức xã hội không chỉ đến từ các luận điệu sai trái trực diện mà còn âm thầm len lỏi qua thuật toán, AI tạo sinh, dòng chảy cảm xúc và các sản phẩm văn hóa số được lan truyền mỗi ngày. Khi nội dung bị cắt ghép, diễn giải và khuếch đại trên mạng xã hội, những “sóng ngầm” ấy có thể từng bước làm lệch chuẩn nhận thức, gây nhiễu loạn thông tin và ảnh hưởng đến niềm tin xã hội. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường số hôm nay không chỉ là đấu tranh với thông tin xấu độc mà còn là giữ vững khả năng dẫn dắt nhận thức trong dòng chảy văn hóa số.