Gợi mở xây dựng bộ tiêu chí đánh giá nguồn lực xã hội - nhân văn vùng châu thổ sông Hồng

Tóm tắt: Vùng châu thổ sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ) là khu vực trung tâm của Bắc Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung. Đây là vùng gồm các tỉnh, thành phố tập trung đông dân cư, kinh tế phát triển và cũng là trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước. Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển của vùng châu thổ sông Hồng, việc xác định (giá trị, phân loại, đánh giá…) các nguồn lực (trong đó có nguồn lực xã hội - nhân văn) là hết sức cần thiết. Đặc biệt là phân loại, xây dựng tiêu chí xác định giá trị và đánh giá các nguồn lực xã hội - nhân văn trong bối cảnh hiện nay. Nếu công tác nghiên cứu này được áp dụng, thực hiện, thì kết quả khoa học sẽ là dữ liệu/ dữ kiện quan trọng giúp ích cho các nhà quản lý - hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong bối cảnh đương đại.

Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực di sản văn hóa giai đoạn 2026-2035

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực di sản văn hóa ở Việt Nam đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Bài viết tập trung phân tích thực trạng nguồn nhân lực hiện nay, chỉ ra những hạn chế về số lượng, chất lượng, kỹ năng số và tính liên kết giữa đào tạo với thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực di sản văn hóa giai đoạn 2026-2035 theo hướng chất lượng cao, linh hoạt và bền vững, trong đó nhấn mạnh vai trò của đổi mới đào tạo, ứng dụng công nghệ số, hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong giai đoạn tới.

Văn hóa – Nguồn lực nội sinh và động lực cho tăng trưởng hai con số ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong định hướng phát triển đất nước hiện nay, tăng trưởng hai con số không chỉ đặt ra yêu cầu mở rộng quy mô kinh tế mà còn đòi hỏi một mô hình tăng trưởng có chất lượng cao hơn, dựa nhiều hơn vào tri thức, sáng tạo, con người và những nguồn lực nội sinh có khả năng tái tạo. Từ cách tiếp cận đó, văn hóa cần được nhìn nhận đồng thời trên hai bình diện: một mặt, văn hóa tạo ra hệ giá trị, niềm tin, tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, kỷ cương, trách nhiệm và khát vọng cống hiến - những yếu tố tác động sâu đến chất lượng con người, năng suất xã hội và sức bền của phát triển; mặt khác, văn hóa trực tiếp tạo ra sản phẩm, việc làm, doanh thu, xuất khẩu, tài sản trí tuệ và sức mạnh mềm thông qua công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, du lịch văn hóa và các thị trường nội dung số. Trên cơ sở phân tích Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 28/2026/QH16, số liệu cập nhật của Việt Nam và kinh nghiệm của Vương quốc Anh, Hàn Quốc cùng các khuyến nghị của UNESCO, UNCTAD, bài viết làm rõ cơ chế chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành động lực tăng trưởng; đồng thời đề xuất một số điều kiện then chốt để văn hóa đóng góp thực chất hơn vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Văn hóa thực thi - sức mạnh cho phát triển

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 nghị quyết, 1 chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ quán triệt sang tổ chức thực hiện, từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, từ những chủ trương đúng đến những chuyển biến mà Nhân dân thực sự cảm nhận được. Đặt trong lĩnh vực văn hóa, thông điệp ấy gợi mở một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt: muốn văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của đất nước, trước hết phải hình thành một văn hóa thực thi mạnh mẽ, trong đó trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả và niềm tin của Nhân dân trở thành thước đo cuối cùng.

Bàn thêm về một số khái niệm trong lĩnh vực di sản văn hóa

Tóm tắt: Hiện nay, trong lĩnh vực di sản văn hóa, một số khái niệm như “quản lý”, “bảo tồn”, “bảo vệ” di sản văn hóa đang được sử dụng chưa thống nhất trong nghiên cứu khoa học và trong hoạt động thực tiễn. Nội hàm giữa các khái niệm có sự chồng chéo, chưa được phân định rõ ràng dẫn đến cách hiểu và vận dụng khác nhau trong hoạt động quản lý, bảo vệ, bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa. Trên cơ sở phân tích các văn bản pháp luật, quan điểm nghiên cứu và thực tiễn hoạt động chuyên ngành, bài viết nhằm làm rõ nội hàm, phạm vi, bản chất, chức năng và mối quan hệ giữa các khái niệm nêu trên, đồng thời chỉ ra những bất cập trong quá trình sử dụng thuật ngữ hiện nay. Từ đó, bài viết đề xuất hướng tiếp cận nhằm chuẩn hóa, thống nhất cách hiểu và nhận diện các khái niệm trong lĩnh vực di sản văn hóa, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh phát triển bền vững.

Tiếp biến văn hóa của sinh viên trong môi trường đại học đa văn hóa dựa trên lý thuyết của Berry

Tóm tắt: Bài viết vận dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa của Berry để phân tích quá trình thích nghi văn hóa của sinh viên trong môi trường đại học đa văn hóa tại một số trường đại học đào tạo ngoại ngữ ở Hà Nội. Dựa trên 674 ý kiến định tính hợp lệ của sinh viên Việt Nam, sinh viên quốc tế và cán bộ giảng viên, nghiên cứu nhận diện các biểu hiện của hội nhập, tách biệt, bên lề hóa và lai ghép văn hóa trong đời sống học đường. Kết quả cho thấy trải nghiệm tiếp biến văn hóa được thể hiện rõ nhất qua quan hệ ứng xử, không gian tương tác đa văn hóa, giao tiếp giữa các chủ thể, xung đột chuẩn mực, cũng như việc sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng và truyền thông trong môi trường đại học. Phân tích chỉ ra rằng tiếp biến văn hóa không chỉ là quá trình sinh viên quốc tế thích nghi với văn hóa Việt Nam, mà còn là quá trình hai chiều; trong đó, sinh viên Việt Nam, sinh viên quốc tế và các chủ thể giáo dục cùng điều chỉnh hành vi, ngôn ngữ và chuẩn mực giao tiếp. Nghiên cứu khẳng định rằng, môi trường đại học đa văn hóa có chiều sâu chỉ được hình thành khi nhà trường tạo lập các điều kiện thể chế, học thuật và tương tác phù hợp, giúp sinh viên vừa duy trì bản sắc văn hóa riêng, vừa tham gia bình đẳng vào cộng đồng học đường.

Để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới không chỉ đặt ra những mục tiêu tăng trưởng rất cao, mà quan trọng hơn, mở ra một cách tiếp cận mới: chuyển từ khai thác tài nguyên sang kiến tạo giá trị, từ chạy theo số lượng khách sang nâng cao chất lượng trải nghiệm, từ quản lý một ngành dịch vụ sang quản trị một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp. Trong cách tiếp cận ấy, văn hóa là nền tảng cốt lõi, công nghệ và sáng tạo là động lực, doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, còn người dân vừa là chủ thể tham gia, vừa là người thụ hưởng. Vấn đề còn lại là biến tinh thần đổi mới đó thành thể chế, sản phẩm và không gian phát triển đủ sức đưa du lịch Việt Nam bước vào một giai đoạn mới.

81 năm ngành Văn hóa: Từ sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi” đến khát vọng kiến tạo tương lai đất nước

Kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28/8/1945 - 28/8/2026) là dịp để tri ân những thế hệ đã bền bỉ giữ gìn, trao truyền và làm giàu các giá trị tinh thần của dân tộc; đồng thời cũng là thời điểm để suy nghĩ sâu sắc hơn về trách nhiệm của ngành Văn hóa trước một giai đoạn phát triển mới. Từ sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi”, phụng sự Tổ quốc và nhân dân, văn hóa hôm nay không chỉ phải giữ vai trò nền tảng tinh thần, mà còn cần thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, nguồn lực phát triển, năng lực mềm quốc gia và động lực đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới.

Giá trị phương Đông trong nhận thức và thực tiễn phát triển văn hóa, con người ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Bài viết phân tích những giá trị cơ bản của phương Đông trong nhận thức về văn hóa và con người, đồng thời, làm rõ thực tiễn vận dụng các giá trị này trong quá trình phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ triết học và văn hóa học, bài viết khẳng định các giá trị như đề cao đạo đức, tinh thần cộng đồng, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên và trách nhiệm xã hội đã trở thành nền tảng quan trọng của đời sống văn hóa phương Đông. Trong thực tiễn Việt Nam, các giá trị phương Đông được tiếp thu, chọn lọc và vận dụng linh hoạt trong quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển con người Việt Nam toàn diện. Bài viết cũng chỉ ra những thách thức đặt ra trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số, từ đó rút ra một số bài học nhằm phát huy hiệu quả các giá trị phương Đông trong sự phát triển bền vững của đất nước hiện nay.

Văn hóa biển Việt Nam trong tầm nhìn quốc gia

Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đặt ra yêu cầu xây dựng văn hóa biển giàu bản sắc trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước từ biển. Đây không chỉ là một định hướng bảo tồn di sản, mà còn gợi mở cách tiếp cận mới: văn hóa biển phải được nhận diện như một nguồn lực nội sinh, một thành tố của kinh tế sáng tạo, một nền tảng của sức mạnh mềm và một không gian bồi đắp ý thức chủ quyền. Trong kỷ nguyên mới, câu hỏi không còn chỉ là chúng ta có những giá trị văn hóa biển nào, mà quan trọng hơn là làm thế nào để những giá trị ấy tiếp tục sống trong cộng đồng, tạo ra sinh kế, truyền cảm hứng sáng tạo và góp phần hình thành bản lĩnh của một dân tộc hướng ra biển.

Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa : Từ tư duy quản lý đến thể chế kiến tạo phát triển

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được đưa ra xin ý kiến trong một thời điểm rất đặc biệt, khi văn hóa ngày càng được xác định rõ không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng, sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Sau Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội và những chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển, việc xây dựng một đạo luật riêng về công nghiệp văn hóa không đơn thuần là bổ sung thêm một văn bản vào hệ thống pháp luật. Điều quan trọng hơn là tạo ra một thể chế đủ sức giải phóng sức sáng tạo của xã hội, chuyển hóa kho tàng văn hóa Việt Nam thành tài sản trí tuệ, sản phẩm, doanh nghiệp, thị trường và sức mạnh mềm trong kỷ nguyên mới.