Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 nghị quyết, 1 chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ quán triệt sang tổ chức thực hiện, từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, từ những chủ trương đúng đến những chuyển biến mà Nhân dân thực sự cảm nhận được. Đặt trong lĩnh vực văn hóa, thông điệp ấy gợi mở một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt: muốn văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của đất nước, trước hết phải hình thành một văn hóa thực thi mạnh mẽ, trong đó trách nhiệm, sáng tạo, hiệu quả và niềm tin của Nhân dân trở thành thước đo cuối cùng.
Cách đây 81 năm, vào ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử, một áng thiên cổ hùng văn. Vào thời khắc thiêng liêng đó, Người đã trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thể nhân dân thế giới: Cách mạng Tháng Tám đã thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á đã ra đời. Từ đây, Nhân dân Việt Nam đã trở thành người làm chủ vận mệnh của mình; dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cùng với các quốc gia trên thế giới kiến tạo một nền hòa bình, độc lập, tự do và hạnh phúc.
Từ định hướng chiến lược của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 80-NQ/TW đến Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, và các văn bản quy phạm pháp luật như Luật, Nghị định... được xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung, quá trình thể chế hóa chính sách văn hóa đã bước sang một giai đoạn mới. Tuy nhiên, các quyết sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được tổ chức thực hiện có hiệu quả, với các chương trình hành động cụ thể, có đầu mối chịu trách nhiệm, có thời hạn hoàn thành, nguồn lực bảo đảm và cơ chế kiểm tra, giám sát rõ ràng.
Từ định hướng chiến lược của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 80-NQ/TW , Quốc hội đã nhanh chóng thể chế hóa bằng Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, qua đó tạo nền tảng pháp lý để khơi thông nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và đưa văn hóa bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra tầm nhìn chiến lược mới về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu phải chuyển hóa tầm nhìn ấy thành cơ chế, chính sách và hành động cụ thể. Trong quá trình đó, Bộ VHTTDL đã tích cực tham mưu cấp có thẩm quyền hoàn thiện chính sách, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, tạo hành lang pháp lý và nguồn lực để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, động lực phát triển và hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều đột phá chiến lược. Trong đó, văn hóa có một vai trò, vị trí hết sức quan trọng, không chỉ là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, mà còn là trụ cột , hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Lời dạy ấy đến hôm nay càng cho thấy văn hóa không chỉ đồng hành với phát triển, mà phải đứng ở “vị trí dẫn đường”, là nền tảng định hình chất lượng con người và chất lượng quốc gia. Nếu kinh tế quyết định năng lực đi nhanh, thì văn hóa quyết định khả năng đi xa; nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất, thì văn hóa tạo ra bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh tinh thần để đất nước vượt qua thử thách và vươn lên”. Định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra những yêu cầu mới cho lĩnh vực văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28/8/1945 - 28/8/2026) là dịp để tri ân những thế hệ đã bền bỉ giữ gìn, trao truyền và làm giàu các giá trị tinh thần của dân tộc; đồng thời cũng là thời điểm để suy nghĩ sâu sắc hơn về trách nhiệm của ngành Văn hóa trước một giai đoạn phát triển mới. Từ sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi”, phụng sự Tổ quốc và nhân dân, văn hóa hôm nay không chỉ phải giữ vai trò nền tảng tinh thần, mà còn cần thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, nguồn lực phát triển, năng lực mềm quốc gia và động lực đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới.
Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, pháp luật luôn giữ vai trò là nền tảng thể chế để tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu đối với hoạt động lập pháp không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật, mà còn phải tạo dựng một môi trường thể chế đủ thông thoáng để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới và mở rộng không gian phát triển. Điều đó đòi hỏi tư duy lập pháp phải có sự chuyển biến căn bản, từ cách tiếp cận thiên về quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.
Tóm tắt: Bài viết phân tích những giá trị cơ bản của phương Đông trong nhận thức về văn hóa và con người, đồng thời, làm rõ thực tiễn vận dụng các giá trị này trong quá trình phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ triết học và văn hóa học, bài viết khẳng định các giá trị như đề cao đạo đức, tinh thần cộng đồng, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên và trách nhiệm xã hội đã trở thành nền tảng quan trọng của đời sống văn hóa phương Đông. Trong thực tiễn Việt Nam, các giá trị phương Đông được tiếp thu, chọn lọc và vận dụng linh hoạt trong quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển con người Việt Nam toàn diện. Bài viết cũng chỉ ra những thách thức đặt ra trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số, từ đó rút ra một số bài học nhằm phát huy hiệu quả các giá trị phương Đông trong sự phát triển bền vững của đất nước hiện nay.
Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đặt ra yêu cầu xây dựng văn hóa biển giàu bản sắc trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước từ biển. Đây không chỉ là một định hướng bảo tồn di sản, mà còn gợi mở cách tiếp cận mới: văn hóa biển phải được nhận diện như một nguồn lực nội sinh, một thành tố của kinh tế sáng tạo, một nền tảng của sức mạnh mềm và một không gian bồi đắp ý thức chủ quyền. Trong kỷ nguyên mới, câu hỏi không còn chỉ là chúng ta có những giá trị văn hóa biển nào, mà quan trọng hơn là làm thế nào để những giá trị ấy tiếp tục sống trong cộng đồng, tạo ra sinh kế, truyền cảm hứng sáng tạo và góp phần hình thành bản lĩnh của một dân tộc hướng ra biển.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được đưa ra xin ý kiến trong một thời điểm rất đặc biệt, khi văn hóa ngày càng được xác định rõ không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng, sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Sau Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội và những chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển, việc xây dựng một đạo luật riêng về công nghiệp văn hóa không đơn thuần là bổ sung thêm một văn bản vào hệ thống pháp luật. Điều quan trọng hơn là tạo ra một thể chế đủ sức giải phóng sức sáng tạo của xã hội, chuyển hóa kho tàng văn hóa Việt Nam thành tài sản trí tuệ, sản phẩm, doanh nghiệp, thị trường và sức mạnh mềm trong kỷ nguyên mới.