Bài 1: ĐỊNH VỊ LẠI VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN QUỐC GIA
Văn hóa là lĩnh vực luôn được Đảng quan tâm, chăm lo và coi trọng. Năm 1943, ngay từ khi còn chưa giành được chính quyền, Đảng ta đã ban hành Đề cương về văn hóa Việt Nam với nguyên tắc dân tộc, khoa học và đại chúng, xác định văn hóa là “một trong ba mặt trận”, cùng với kinh tế và chính trị, đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng về vai trò quan trọng của văn hóa. Trải qua hai cuộc kháng chiến, đấu tranh gian khổ, giành độc lập dân tộc, cũng như trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước hôm nay, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chủ trương, chính sách phát triển văn hóa, để văn hóa thực sự đóng góp vào những thành tựu to lớn của đất nước, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Trong đó, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước là những nghị quyết chuyên đề về văn hóa trong giai đoạn đổi mới đất nước, xác định những yêu cầu mới cho văn hóa. Không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa còn là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.
Cùng với các nghị quyết chiến lược của đất nước trên các lĩnh vực khác nhau, ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW (Nghị quyết 80) về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng khi Đảng ta xác định phát triển văn hóa, con người không chỉ là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn mà còn là trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. "Các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới".

Sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy, nhận thức
Khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của Nghị quyết 80, tại hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 25/2/2026), Ủ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết nêu rõ, Nghị quyết đã xác định: "Yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi phải có những chủ trương, quyết sách đột phá mang tính chiến lược, đồng bộ nhằm khắc phục hạn chế, bất cập, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt lên thách thức, thúc đẩy phát triển văn hóa... Khẳng định vị thế, tầm vóc nền văn hóa Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại”. Những nội dung rất cô đúc trên không phải là mong ước, lời kêu gọi mà chính là yêu cầu rất mới, rất cao, bao trùm, là đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc đối với văn hóa trong kỷ nguyên mới. Chính từ khát vọng và tầm nhìn chiến lược trên mà Nghị quyết 80 đã xác định quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn hóa từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Từ cách tiếp cận đó, có thể thấy Nghị quyết 80 vừa kế thừa những quan điểm nhất quán của Đảng về văn hóa, vừa phát triển tư duy mới về vai trò, nguồn lực và phương thức phát triển văn hóa .
Từ góc độ nghiên cứu văn hóa, GS, TS Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Văn hóa cộng đồng Việt Nam cho rằng: Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện tư duy chiến lược và tầm nhìn dài hạn của Đảng đối với sự nghiệp phát triển văn hóa đất nước. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới với yêu cầu đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa không còn chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực mang tính hỗ trợ hay “đi sau” kinh tế, mà đã được đặt trở lại đúng vị trí là nền tảng, là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Có thể nói, Nghị quyết 80 chính là một bước “định vị lại” vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia. Điều này cho thấy tư duy phát triển đã có sự chuyển biến mạnh mẽ: phát triển kinh tế phải song hành với phát triển văn hóa, con người; tăng trưởng phải đi đôi với gìn giữ bản sắc, đạo đức xã hội và khát vọng dân tộc. Văn hóa không còn là phần phụ trợ cho phát triển, mà là một trong những điều kiện căn bản để phát triển đúng hướng, có chiều sâu và có sức bền.
Nghị quyết cũng tạo cơ sở chính trị quan trọng để hoàn thiện thể chế, chính sách, nguồn lực, đầu tư cho văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, hội nhập quốc tế về văn hóa trong thời đại số.
“Quan trọng hơn, văn hóa trong Nghị quyết 80 được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển con người – chủ thể sáng tạo, thụ hưởng và lan tỏa các giá trị phát triển. Đây chính là điều kiện để Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững, hiện đại nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc” – GS, TS Từ Thị Loan nhấn mạnh.
Như vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là tiếp tục khẳng định vai trò của văn hóa, mà quan trọng hơn là phải tạo ra cơ chế, nguồn lực và điều kiện thực thi để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển. Từ yêu cầu đó, Nghị quyết 80 đi thẳng vào những điểm nghẽn đã tồn tại nhiều năm trong lĩnh vực văn hóa.

Tháo gỡ những điểm nghẽn bằng quyết sách mới
Bên cạnh những thành tựu đạt được của lĩnh vực văn hóa, chúng ta cũng thấy rằng, trong một số giai đoạn, giữa nhận thức và hành động vẫn còn những khoảng cách. Đầu tư cho văn hóa còn thấp. Ở không ít nơi, văn hóa vẫn bị nhìn nhận như lĩnh vực gắn với phong trào, tổ chức sự kiện... Cơ chế, chính sách dành cho văn hóa chưa được đồng bộ, đột phá và theo kịp thực tiễn; thiết chế văn hóa cơ sở ở nhiều nơi hoạt động chưa thật sự hiệu quả; công nghiệp văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng...
Những điểm nghẽn ấy không chỉ nằm ở nguồn lực, mà còn nằm ở tư duy phát triển và phương thức tổ chức thực hiện. Khi văn hóa chưa được nhìn nhận đầy đủ như một nguồn lực chiến lược, đầu tư cho văn hóa dễ bị xem nhẹ. Khi công nghiệp văn hóa chưa được đặt đúng vị trí, các sản phẩm văn hóa khó hình thành thương hiệu để tham gia sâu vào thị trường trong nước và quốc tế. Khi chuyển đổi số trong văn hóa chưa được thúc đẩy đúng mức, dữ liệu văn hóa, di sản, sản phẩm sáng tạo và nội dung số sẽ không phát huy hết giá trị. Cùng với đó, nếu thiếu cơ chế đào tạo, đãi ngộ và trọng dụng tương xứng, đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, cán bộ văn hóa sẽ khó phát huy hết năng lực và sức sáng tạo của mình.
Chính vì vậy, Nghị quyết 80 ra đời nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết không chỉ tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu cụ thể hơn: từ nhận thức phải chuyển thành hành động, từ chủ trương phải thành chính sách, từ mục tiêu phải thành chỉ tiêu, và từ định hướng phải có nguồn lực, cơ chế thực hiện rõ ràng.
Một trong những điểm mới nổi bật của Nghị quyết 80 là các mục tiêu được lượng hóa rõ hơn. Nghị quyết xác định bảo đảm nguồn lực cho văn hóa, trong đó bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn; phát triển công nghiệp văn hóa với mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030, phấn đấu 9% vào năm 2045 và hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia. Cùng với đó là các nhiệm vụ về xây dựng con người và hệ giá trị; thúc đẩy chuyển đổi số, làm trong sạch môi trường văn hóa số, bảo vệ chủ quyền văn hóa số; chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, đưa văn hóa vào hoạt động đối ngoại, xuất khẩu sản phẩm văn hóa và quảng bá hình ảnh quốc gia.
Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy: phát triển văn hóa song hành với phát triển kinh tế và xây dựng con người. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Tăng trưởng vì thế không chỉ được đo bằng chỉ tiêu vật chất, mà còn phải được soi chiếu bằng chất lượng xã hội, đạo đức, lối sống, niềm tin, khát vọng và bản sắc.

Văn hóa muốn phát triển phải được đầu tư đúng mức, đồng bộ, dài hạn và lấy con người làm trung tâm
Liên hệ từ thực tiễn quốc tế cho thấy, những quốc gia thành công trong phát triển văn hóa đều không xem văn hóa chỉ là lĩnh vực bảo tồn hay hoạt động tinh thần thuần túy, mà coi văn hóa là nguồn lực chiến lược. Nếu như Hàn Quốc đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong việc đưa âm nhạc, điện ảnh, thời trang, ẩm thực trở thành sức mạnh mềm toàn cầu; thì Nhật Bản đã gắn văn hóa truyền thống với các lĩnh vực thiết kế, du lịch, truyện tranh manga, phim hoạt hình anime và các sản phẩm sáng tạo; còn Pháp lại bảo vệ bản sắc văn hóa như một phần của chủ quyền quốc gia, đồng thời đầu tư mạnh cho nghệ thuật, ngôn ngữ và công nghiệp sáng tạo; trong khi đó, Trung Quốc đã kết hợp giữa bảo tồn di sản với phát triển công nghiệp văn hóa, truyền thông và nội dung số ở quy mô lớn…
Điều này cho thấy, các quốc gia đều coi văn hóa là nguồn lực quan trọng để nâng cao sức mạnh quốc gia, thúc đẩy kinh tế và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Đây là bài học rất quan trọng đối với Việt Nam trong quá trình triển khai Nghị quyết số 80.
GS, TS Từ Thị Loan cho rằng, bài học cốt lõi đầu tiên là phải có tư duy đầu tư dài hạn cho văn hóa như đầu tư cho phát triển. Trong đó, điều hết sức quan trọng là vai trò kiến tạo của Nhà nước trong việc xây dựng thể chế, tạo môi trường thuận lợi và nuôi dưỡng hệ sinh thái văn hóa khuyến khích sự phát triển.
Đồng thời, phải đặt con người sáng tạo ở vị trí trung tâm. Muốn phát triển văn hóa bền vững thì cần xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, chuyên gia văn hóa, nhà sáng tạo nội dung có năng lực và điều kiện phát triển nghề nghiệp. Các quốc gia thành công đều rất chú trọng đào tạo nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, phát triển thị trường văn hóa và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để người làm sáng tạo có thể sống được bằng nghề.
Việt Nam cũng cần học hỏi kinh nghiệm gắn văn hóa với công nghệ, truyền thông và kinh tế số. Trong thời đại hiện nay, giá trị văn hóa không chỉ hiện diện trong không gian truyền thống, mà còn lan tỏa mạnh mẽ trên các nền tảng số. Vì vậy, nếu biết tận dụng công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số và truyền thông quốc tế, văn hóa Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người và bản sắc dân tộc ra thế giới.
GS, TS Từ Thị Loan cũng lưu ý, điều quan trọng nhất vẫn là phải phát triển văn hóa trên nền tảng bản sắc Việt Nam. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, quốc gia nào càng giữ được căn cốt văn hóa riêng thì càng có sức hấp dẫn và sức cạnh tranh bền vững. Vì vậy, triển khai Nghị quyết 80 không chỉ là thúc đẩy phát triển văn hóa theo hướng hiện đại, mà còn là quá trình khơi dậy hệ giá trị Việt Nam, củng cố bản sắc và bản lĩnh văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng khát vọng phát triển đất nước trong thời đại mới.

Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo
Một yêu cầu quan trọng đặt ra từ Nghị quyết 80 là đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo. Văn hóa chỉ có thể phát triển đúng tầm khi quản lý không dừng ở cấp phép, kiểm tra, xử lý, mà phải chuyển mạnh sang kiến tạo môi trường, mở đường cho sáng tạo, khơi thông nguồn lực và kết nối các chủ thể cùng tham gia phát triển.
Điểm đáng chú ý là tinh thần của Nghị quyết 80 được cụ thể hóa bằng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Chính phủ đã ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; Bộ VHTTDL chủ động tham mưu hoàn thiện các nội dung chính sách về phát triển văn hóa Việt Nam để báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, ban hành Nghị quyết số 28/2026/QH16. Đây là những bước cụ thể hoá sinh động chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ nhận thức đúng về vai trò của văn hóa sang những điều kiện cụ thể để văn hóa phát huy vai trò trong đời sống và phát triển đất nước.
Từ Nghị quyết 80 có thể thấy, văn hóa không chỉ được khẳng định về vai trò, mà đang được đặt trong một hệ thống chính sách, nguồn lực và cơ chế thực thi cụ thể hơn. Khi văn hóa được nhìn nhận đúng vị trí, được đầu tư đúng mức và được quản lý bằng tư duy kiến tạo, văn hóa sẽ trở thành sức mạnh nội sinh, trụ cột quan trọng và hệ điều tiết góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.