81 năm giữ gìn mạch nguồn và bồi đắp sức mạnh tinh thần dân tộc
Ngày 28/8/1945, trong những ngày đầu tiên của chính quyền cách mạng, Bộ Thông tin, Tuyên truyền - tiền thân của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) ngày nay - được thành lập. Sự ra đời ấy không phải là một sắp đặt hành chính đơn thuần. Đó là sự lựa chọn có tính chiến lược của một Nhà nước cách mạng còn rất non trẻ nhưng đã sớm nhận thức rằng muốn bảo vệ nền độc lập vừa giành được, bên cạnh việc xây dựng chính quyền, phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, cần phải kiến tạo một nền tảng tinh thần mới cho xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, củng cố niềm tin và quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc.
Bởi vậy, nhìn lại 81 năm của ngành Văn hóa cũng chính là nhìn lại một phần rất sâu của lịch sử cách mạng Việt Nam. Trong những năm tháng kháng chiến, văn hóa không đứng ngoài chiến hào. Văn học, nghệ thuật, báo chí, thông tin, cổ động, điện ảnh và những hoạt động văn hóa quần chúng đã trở thành một mặt trận đặc biệt, nơi lời thơ, tiếng hát, trang sách, bức tranh và thước phim cùng góp phần nuôi dưỡng lý tưởng, nâng đỡ tinh thần con người, biến tình yêu quê hương thành ý chí chiến đấu và khát vọng độc lập. Những người làm văn hóa khi ấy vừa là nghệ sĩ, trí thức, cán bộ, vừa là chiến sĩ. Họ đem tài năng và cả cuộc đời mình phục vụ nhân dân, làm nên một nền văn hóa kháng chiến giàu tính nhân văn, thấm đẫm tinh thần dân tộc.
Trong công cuộc kiến thiết đất nước, thống nhất non sông và đổi mới, ngành Văn hóa tiếp tục đảm nhiệm một công việc bền bỉ nhưng vô cùng hệ trọng: giữ cho mạch nguồn văn hóa dân tộc không bị đứt gãy; phục hồi và bảo vệ di sản; xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; phát triển văn học, nghệ thuật; mở rộng giao lưu với thế giới; đồng thời vun đắp những giá trị mới phù hợp với một xã hội đang chuyển mình. Hàng vạn di tích được bảo tồn, nhiều di sản được thế giới ghi danh, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống được hồi sinh; văn học, điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu, âm nhạc có những tác phẩm để lại dấu ấn; phong trào văn hóa từ cơ sở góp phần tạo nên sự gắn kết cộng đồng. Đằng sau những thành quả ấy là sự tận tụy của biết bao thế hệ cán bộ văn hóa, văn nghệ sĩ, trí thức và nghệ nhân - những người nhiều khi làm việc trong điều kiện rất thiếu thốn nhưng vẫn giữ lòng yêu nghề và ý thức phụng sự.

Điều đáng trân trọng nhất trong hành trình 81 năm không chỉ nằm ở số lượng di sản, công trình hay tác phẩm đã được tạo dựng. Thành tựu lớn hơn là chúng ta đã giữ được căn cốt văn hóa, gìn giữ được tiếng Việt, ký ức cộng đồng, lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, ý chí tự cường và khát vọng hướng thiện qua biết bao biến động. Chính nền tảng ấy giúp dân tộc Việt Nam không hòa tan trong những dòng chảy mạnh mẽ của lịch sử, có khả năng tiếp biến tinh hoa nhân loại mà vẫn giữ được mình, hội nhập ngày càng sâu rộng nhưng vẫn nhận ra khuôn mặt tinh thần của chính mình.
Tuy nhiên, một dịp kỷ niệm chỉ thực sự có ý nghĩa khi niềm tự hào đi cùng tinh thần nhìn thẳng vào sự thật. Chúng ta phải thừa nhận rằng trong một số giai đoạn, văn hóa vẫn chưa được đặt đúng tầm, chưa thực sự ngang hàng với kinh tế và chính trị. Nhận thức về văn hóa ở một số nơi còn giản đơn, coi văn hóa chủ yếu là hoạt động lễ hội, biểu diễn hoặc tuyên truyền, chưa thấy hết vai trò của văn hóa trong hình thành con người, điều chỉnh hành vi xã hội và tạo động lực phát triển. Đầu tư cho văn hóa còn dàn trải; nhiều thiết chế hoạt động chưa hiệu quả; đời sống của một bộ phận văn nghệ sĩ, nghệ nhân và cán bộ văn hóa cơ sở còn khó khăn. Khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền vẫn hiện hữu. Bên cạnh đó là sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự xâm nhập của sản phẩm độc hại, tình trạng thương mại hóa dễ dãi và những lệch chuẩn trong không gian số.
Những hạn chế ấy không làm mờ đi thành tựu, nhưng nhắc chúng ta rằng bảo vệ và phát triển văn hóa là một hành trình không có điểm dừng. Di sản có thể được xếp hạng nhưng vẫn có thể mất đi sức sống; thiết chế có thể được xây dựng nhưng vẫn có thể vắng người; tác phẩm có thể được đầu tư nhưng chưa chắc đã chạm đến trái tim công chúng. Vì thế, thước đo cuối cùng của công việc văn hóa phải là những giá trị tốt đẹp được con người tiếp nhận, thực hành và trao truyền trong đời sống hằng ngày.
Từ “quản lý văn hóa” đến “kiến tạo phát triển”: bước chuyển của tư duy và thể chế
Bước vào giai đoạn phát triển mới, văn hóa Việt Nam đứng trước một bối cảnh khác căn bản. Toàn cầu hóa, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế sáng tạo và sự phát triển của các nền tảng xuyên biên giới đang làm thay đổi cách con người sáng tạo, sản xuất, phân phối và hưởng thụ văn hóa. Một tác phẩm có thể đi ra thế giới chỉ sau vài giây, nhưng một sản phẩm độc hại cũng có thể lan truyền với tốc độ tương tự. Ranh giới giữa người sáng tạo và công chúng ngày càng mở; không gian văn hóa không còn bị giới hạn bởi địa lý; dữ liệu, bản quyền và công nghệ trở thành những yếu tố quan trọng của quyền lực văn hóa. Trong bối cảnh ấy, phương thức quản lý cũ, nặng về cấp phép, kiểm soát và xử lý sự vụ, không còn đủ sức giải quyết những vấn đề mới.
Đây là lúc ngành Văn hóa phải thực hiện một bước chuyển quan trọng: từ tư duy chủ yếu “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển văn hóa”. Kiến tạo không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Trái lại, đó là năng lực quản trị ở trình độ cao hơn: Nhà nước xác lập tầm nhìn, hoàn thiện thể chế, bảo vệ giá trị cốt lõi, bảo đảm quyền văn hóa của người dân, đầu tư vào những lĩnh vực thị trường không thể hoặc không muốn đầu tư; đồng thời tạo ra môi trường để nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng và mỗi người dân phát huy tối đa năng lực sáng tạo.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam đã tạo nên một dấu mốc quan trọng về tư duy và thể chế. Văn hóa được nhìn nhận ngày càng đầy đủ hơn trong mối quan hệ giữa nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực tăng trưởng. Đây không chỉ là việc bổ sung nguồn ngân sách hay ban hành thêm chính sách ưu đãi. Điều quan trọng hơn là đặt văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển con người và phát triển đất nước; tạo cơ sở để những quan điểm lớn được chuyển thành nguồn lực, chương trình, dự án và kết quả có thể đo lường.
Trước hết, cần chuyển từ bảo tồn thụ động sang bảo tồn sống. Di sản không thể chỉ tồn tại trong hồ sơ, tủ kính hay những đợt kiểm kê. Di sản chỉ thực sự sống khi được cộng đồng nhận diện là một phần của đời sống, được thế hệ trẻ tiếp nối, được sáng tạo lại một cách có trách nhiệm và tạo ra sinh kế chính đáng cho người dân. Số hóa, hộ chiếu số, bảo tàng thông minh, công nghệ thực tế ảo và các nền tảng kể chuyện mới có thể mở rộng khả năng tiếp cận di sản. Nhưng công nghệ chỉ có ý nghĩa khi phục vụ con người, tôn trọng chủ thể văn hóa, bảo vệ dữ liệu, tri thức truyền thống và quyền lợi của cộng đồng nắm giữ di sản.
Thứ hai, cần chuyển từ coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực chi tiêu sang nhìn nhận văn hóa như một lĩnh vực đầu tư cho tương lai. Đầu tư vào thư viện, bảo tàng, nhà hát, không gian sáng tạo, nghệ thuật học đường hay công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra các hoạt động tinh thần. Đó còn là đầu tư vào năng lực sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, sức hấp dẫn của đô thị, thương hiệu địa phương và vị thế quốc gia. “Vốn mồi” của Nhà nước cần dẫn dắt nguồn lực xã hội; cơ chế hợp tác công - tư cần đủ rõ để doanh nghiệp tham gia khai thác không gian công cộng, tài sản công và giá trị di sản mà vẫn bảo vệ lợi ích công cộng. Mỗi đồng ngân sách cho văn hóa cần được sử dụng hiệu quả, nhưng hiệu quả không thể chỉ được đo bằng doanh thu trực tiếp; còn phải được đánh giá bằng tác động xã hội, mức độ tham gia của người dân và khả năng bồi đắp con người.
Thứ ba, cần chuyển từ cách quản lý theo địa giới và từng lĩnh vực riêng lẻ sang quản trị một hệ sinh thái văn hóa. Một bộ phim không chỉ là câu chuyện của điện ảnh; nó còn liên quan đến du lịch, thời trang, âm nhạc, địa điểm quay, bản quyền, công nghệ và quảng bá quốc gia. Một lễ hội không chỉ là sự kiện văn hóa mà có thể gắn với thủ công, ẩm thực, thiết kế, thương mại và sinh kế cộng đồng. Nếu cơ chế vẫn chia cắt, mỗi cơ quan quản lý một phần, các nguồn lực sẽ khó kết nối để tạo thành chuỗi giá trị. Vì vậy, chính sách văn hóa cần có tư duy liên ngành, liên vùng và dựa trên dữ liệu.
Thứ tư, phải coi công chúng không chỉ là người thụ hưởng mà là chủ thể đồng kiến tạo đời sống văn hóa. Quyền tiếp cận và tham gia văn hóa cần được bảo đảm cho mọi người, đặc biệt là trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa và các nhóm dễ bị tổn thương. Mọi chủ trương lớn nếu không đi tới đời sống của người dân đều chưa hoàn thành sứ mệnh. Văn hóa phải hiện diện trong khu dân cư, trường học, cơ quan, doanh nghiệp, gia đình và trên không gian mạng; phải làm cho điều tốt đẹp trở nên gần gũi, hấp dẫn và có khả năng dẫn dắt.
Cùng với việc mở đường cho sáng tạo, Nhà nước phải bảo vệ sự sáng tạo. Một thị trường văn hóa lành mạnh không thể hình thành nếu bản quyền bị xâm phạm, nghệ sĩ không sống được bằng lao động nghề nghiệp, sản phẩm giả và nội dung sao chép lấn át tác phẩm chân chính. Cần xây dựng hạ tầng bản quyền số, cơ chế chia sẻ doanh thu công bằng, trách nhiệm minh bạch của nền tảng xuyên biên giới và công cụ bảo vệ dữ liệu văn hóa. Chỉ khi quyền lợi của người sáng tạo được tôn trọng, chúng ta mới có thể khuyến khích tài năng, thu hút đầu tư và hình thành các thương hiệu văn hóa Việt Nam có sức cạnh tranh.
Bước chuyển từ quản lý sang kiến tạo, vì thế, phải bắt đầu bằng thể chế nhưng không kết thúc ở thể chế. Luật pháp tốt chỉ tạo ra đường băng; để cất cánh còn cần đội ngũ thực thi có năng lực, nguồn lực đủ mạnh, cơ chế phối hợp hiệu quả và một xã hội biết trân trọng sáng tạo. Muốn văn hóa tạo ra sức mạnh, trước hết phải giải phóng được sức sáng tạo; muốn giải phóng sức sáng tạo, phải dám thay đổi tư duy, tháo gỡ những rào cản đã kéo dài và trao cơ hội cho những ý tưởng mới được thử nghiệm.

Những người làm văn hóa trước sứ mệnh kiến tạo tương lai Việt Nam
Trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh văn hóa phải đi trước một bước, soi đường, dẫn dắt, bồi đắp bản lĩnh, củng cố niềm tin và hình thành năng lực mềm quốc gia. Đó không chỉ là sự khẳng định vị trí của văn hóa mà còn là một yêu cầu rất cao đối với toàn ngành. “Đi trước” không có nghĩa là áp đặt những khuôn mẫu có sẵn lên đời sống. “Đi trước” là khả năng nhận diện sớm những biến đổi của xã hội, dự báo những vấn đề đạo đức và văn hóa sẽ nảy sinh, tạo ra những giá trị có sức thuyết phục và mở đường cho con người hướng tới điều tốt đẹp.
Người làm văn hóa trong thời đại mới, do đó, không thể chỉ là người tổ chức sự kiện, quản lý hồ sơ hay vận hành thiết chế. Họ phải là người kết nối truyền thống với hiện đại, di sản với sáng tạo, công nghệ với nhân văn, bản sắc dân tộc với tinh hoa nhân loại. Họ cần hiểu giá trị của một làn điệu dân ca nhưng cũng phải biết cách đưa làn điệu ấy đến với công chúng trẻ; trân trọng ký ức của một di tích nhưng cũng phải biết kể lại ký ức ấy bằng ngôn ngữ của thời đại số; bảo vệ nguyên tắc nhưng không biến nguyên tắc thành rào cản đối với tài năng và thử nghiệm.
Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về xây dựng đội ngũ. Cán bộ văn hóa phải có bản lĩnh chính trị, nền tảng tri thức, năng lực chuyên môn, tư duy quản trị hiện đại, khả năng sử dụng công nghệ và tinh thần phụng sự. Cần khắc phục tình trạng coi công tác văn hóa là lĩnh vực có thể bố trí cán bộ theo cách “làm đâu cũng được”. Văn hóa là lĩnh vực tinh tế, liên quan trực tiếp đến hệ giá trị, tâm lý xã hội và căn tính cộng đồng; người làm văn hóa không chỉ cần đúng quy trình mà còn phải có sự nhạy cảm, lòng nhân ái và khả năng đối thoại.
Cùng với đội ngũ quản lý, phải tạo không gian phát triển cho văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, doanh nghiệp sáng tạo và các cộng đồng thực hành văn hóa. Không nên chỉ tôn vinh nghệ nhân khi trao danh hiệu mà cần quan tâm đến điều kiện sống, khả năng truyền nghề và vị trí của họ trong cộng đồng. Không nên chỉ kêu gọi văn nghệ sĩ dấn thân mà cần xây dựng cơ chế đặt hàng minh bạch, quỹ hỗ trợ độc lập, môi trường tự do sáng tạo gắn với trách nhiệm xã hội. Không nên chỉ mong doanh nghiệp đầu tư vào văn hóa mà phải tạo hành lang pháp lý ổn định, chia sẻ hợp lý rủi ro và lợi ích. Nhân tài văn hóa cần được phát hiện, nuôi dưỡng và trao cơ hội bằng chất lượng cống hiến, chứ không chỉ bằng bằng cấp hay vị trí hành chính.
Trọng tâm cuối cùng của mọi chính sách văn hóa phải là con người. Chúng ta có thể xây thêm nhiều công trình, tổ chức thêm nhiều lễ hội, tạo ra nhiều sản phẩm, nhưng nếu con người trở nên vô cảm hơn, gia đình lỏng lẻo hơn, cộng đồng chia rẽ hơn và niềm tin xã hội suy giảm thì phát triển văn hóa chưa đạt tới mục tiêu. Văn hóa phải giúp hình thành những con người có lòng yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật, sáng tạo; biết tôn trọng sự khác biệt nhưng không thờ ơ với lợi ích chung; có năng lực hội nhập mà không đánh mất bản sắc.
Trong môi trường số, nhiệm vụ ấy càng trở nên cấp thiết. Không gian mạng không phải là một thế giới tách khỏi đời sống thực, mà là một phần của môi trường văn hóa. Cần xây dựng “sức đề kháng số” cho mỗi công dân, nhất là thanh thiếu niên; nâng cao năng lực phân biệt đúng - sai, đẹp - xấu, chân thực - giả tạo; đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm tích cực đủ hấp dẫn để cạnh tranh với nội dung độc hại. Quản lý chỉ bằng gỡ bỏ và xử phạt luôn đi sau sự việc. Giải pháp căn cơ hơn là kết hợp pháp luật, công nghệ, giáo dục, trách nhiệm của nền tảng và sự tự chủ văn hóa của mỗi con người.
Trong giai đoạn tới, theo tôi, ngành Văn hóa cần tập trung vào một số ưu tiên có tính nền tảng: hoàn thiện đồng bộ thể chế và tổ chức thực thi; đầu tư có trọng tâm cho thiết chế văn hóa và hạ tầng văn hóa số; xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa và thị trường sáng tạo; bảo vệ bản quyền, chủ quyền văn hóa và an ninh văn hóa trên không gian mạng; đưa giáo dục nghệ thuật, lịch sử và di sản đến gần hơn với thế hệ trẻ; phát triển các thương hiệu văn hóa quốc gia; đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu và tiêu chí đánh giá để mọi nguồn lực được sử dụng minh bạch, hiệu quả. Mỗi địa phương cần xác định rõ tài sản văn hóa đặc sắc của mình, không chạy theo những mô hình giống nhau, từ đó tạo ra sản phẩm mang bản sắc riêng và đóng góp vào sự đa dạng chung của văn hóa Việt Nam.
Song, văn hóa không phải là công việc riêng của ngành Văn hóa. Văn hóa phải thấm vào công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, vào hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương; vào giáo dục, kinh tế, ngoại giao, quốc phòng, an ninh; vào cách doanh nghiệp ứng xử với người lao động và khách hàng; vào cách mỗi gia đình nuôi dạy con cái; vào thái độ của mỗi công dân trước cộng đồng. Mỗi chính sách công đều chứa đựng một lựa chọn văn hóa, bởi nó thể hiện điều xã hội coi trọng, cách chúng ta đối xử với con người và hình dung về tương lai.
Kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, chúng ta có quyền tự hào về một hành trình đã đồng hành cùng dân tộc qua chiến tranh, kiến quốc, đổi mới và hội nhập. Nhưng niềm tự hào lớn nhất không phải để bằng lòng với quá khứ, mà để tiếp thêm bản lĩnh cho những bước đi mới. Ngành Văn hóa cần tiếp tục giữ ngọn lửa truyền thống, đồng thời dũng cảm mở đường cho sáng tạo; gìn giữ bản sắc nhưng không khép mình; phát triển thị trường nhưng không đánh đổi những giá trị cốt lõi; ứng dụng công nghệ nhưng luôn đặt con người và phẩm giá con người ở vị trí trung tâm.
Từ “soi đường cho quốc dân đi” đến khát vọng kiến tạo tương lai đất nước là một hành trình vừa kế thừa, vừa đổi mới. Văn hóa phải tiếp tục là ánh sáng định hướng, là nền đất nuôi dưỡng tâm hồn, đồng thời trở thành nguồn năng lượng thúc đẩy sáng tạo, liên kết cộng đồng và nâng cao vị thế Việt Nam. Khi văn hóa thấm sâu vào từng quyết sách, từng thiết chế và từng hành vi xã hội; khi mỗi người Việt Nam vừa là người thụ hưởng, vừa là chủ thể sáng tạo và đại sứ của văn hóa dân tộc, văn hóa sẽ không chỉ giúp chúng ta biết mình là ai, mà còn trao cho chúng ta sức mạnh để xác định mình muốn trở thành một đất nước như thế nào trong tương lai.
Đó cũng là cách thiết thực nhất để tri ân những thế hệ đã làm nên hành trình 81 năm: tiếp tục để ngọn lửa văn hóa soi sáng con đường phát triển của dân tộc, góp phần xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, nhân văn và có vị thế xứng đáng trên thế giới.