Từ một “khoảng trống thể chế” đến yêu cầu về một đạo luật kiến tạo phát triển

Có lẽ chưa bao giờ câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa lại được đặt trong một bối cảnh thuận lợi về nhận thức chính trị và quyết tâm thể chế hóa như hiện nay. Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam không chỉ tiếp tục khẳng định vị trí đặc biệt của văn hóa mà còn đánh dấu bước chuyển rất quan trọng trong tư duy phát triển: văn hóa được nhìn nhận đồng thời là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực của phát triển nhanh và bền vững; xây dựng con người Việt Nam là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực quan trọng nhất của phát triển văn hóa. Trong cách tiếp cận ấy, phát triển công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế không còn là những mảng rời rạc mà trở thành các thành tố của một chỉnh thể phát triển mới.

Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội tiếp tục cụ thể hóa tinh thần đó bằng những cơ chế có tính đột phá hơn về nguồn lực, đầu tư, đặt hàng sáng tạo, phát triển thị trường, chuyển đổi số, hạ tầng văn hóa số và Quỹ văn hóa, nghệ thuật. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô hỗ trợ, mà ở sự thay đổi cách nghĩ về nguồn lực văn hóa: Nhà nước không chỉ đặt câu hỏi “chi bao nhiêu cho văn hóa”, mà phải trả lời “tổ chức nguồn lực ấy như thế nào để hình thành năng lực sáng tạo mới, tài sản trí tuệ mới, sản phẩm mới, doanh nghiệp mới và thị trường mới”. Đây là một chuyển biến có ý nghĩa nền tảng, bởi công nghiệp văn hóa chỉ có thể phát triển bền vững khi nguồn lực công thực sự đóng vai trò dẫn dắt, kích hoạt và chia sẻ rủi ro, thay vì thay thế thị trường.

Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra những “khoảng trống” trong phát triển văn hóa, trong đó có khoảng trống về thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa. Việc đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp ngày càng cao vào GDP cho thấy khoảng cách giữa tiềm năng và khả năng chuyển hóa tiềm năng ấy thành giá trị kinh tế còn rất lớn. Quan trọng hơn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu thực hiện những chuyển dịch căn bản: từ coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là trụ cột và động lực tăng trưởng mới; từ không gian văn hóa truyền thống sang đồng thời phát triển trong không gian thực và không gian số; từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo để văn hóa tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia. Đặc biệt, yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển chính là “đề bài” cốt lõi đối với Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Chúng ta cần một đạo luật riêng không phải vì Việt Nam chưa có pháp luật điều chỉnh các hoạt động văn hóa. Hệ thống pháp luật hiện nay đã có Luật Điện ảnh, Luật Xuất bản, Luật Quảng cáo, Luật Di sản văn hóa, Luật Sở hữu trí tuệ, cùng các luật về doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, thuế, khoa học và công nghệ, công nghệ số. Vấn đề nằm ở chỗ những đạo luật đó phần lớn được thiết kế theo từng ngành, từng loại hình hoạt động và từng thủ tục quản lý, trong khi chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa ngày nay lại vận hành xuyên ngành, xuyên biên giới và ngày càng gắn với công nghệ. Một bộ phim đồng thời liên quan tới điện ảnh, bản quyền, đầu tư, nền tảng số, du lịch và quảng bá quốc gia; một trò chơi điện tử có thể bắt đầu từ lịch sử và di sản, đi qua thiết kế, phần mềm, âm nhạc, sở hữu trí tuệ và phân phối toàn cầu; một di sản khi được số hóa, kể lại bằng điện ảnh, hoạt hình, thiết kế hay trải nghiệm số có thể trở thành nguồn lực của cả một hệ sinh thái sáng tạo.

Khoảng trống vì vậy không nhất thiết nằm ở việc thiếu thêm một giấy phép, một thủ tục hay một cơ quan quản lý mới. Khoảng trống nằm ở những cơ chế kết nối: kết nối văn hóa với thị trường, sáng tạo với tài chính, di sản với tài sản trí tuệ, tài sản trí tuệ với tín dụng, nhà trường với doanh nghiệp, doanh nghiệp Việt Nam với mạng lưới phân phối toàn cầu và nguồn lực nhà nước với khả năng sáng tạo của xã hội. Dự thảo Luật đã bước đầu tiếp cận đúng hướng khi xác định công nghiệp văn hóa là hệ thống các hoạt động kinh tế phát huy tài nguyên văn hóa, kết hợp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tài sản trí tuệ để tạo ra sản phẩm, giá trị kinh tế và xã hội; đồng thời đặt con người, chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ vào vị trí trung tâm. Đây là nền tảng rất quan trọng, nhưng từ nền tảng ấy đến một đạo luật thực sự kiến tạo còn đòi hỏi phải xử lý thận trọng mối quan hệ giữa mở đường cho sáng tạo với kiểm soát rủi ro, giữa tự do thị trường với trách nhiệm xã hội, giữa giá trị kinh tế với giá trị văn hóa.

trinh dien nghe thuat trong Le hoi van hoa the gioi lan thu nhat   Tran Huan.jpg
Trình diễn nghệ thuật trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ Nhất năm 2025 - Ảnh tư liệu minh họa: Trần Huấn

Không chỉ “ưu đãi nhiều hơn”, mà phải tạo ra một hệ sinh thái sáng tạo vận hành được

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia thành công với công nghiệp văn hóa không chỉ vì có nhiều ưu đãi, mà vì họ xây dựng được một hệ sinh thái tương đối đồng bộ từ sáng tạo, đào tạo, tài chính, công nghệ, sở hữu trí tuệ đến phân phối và xuất khẩu. Hàn Quốc là một trường hợp đáng tham khảo. Nước này sớm xây dựng khung pháp luật về thúc đẩy công nghiệp văn hóa và công nghiệp nội dung, đồng thời hình thành các thiết chế hỗ trợ tài chính, đào tạo, nghiên cứu, phát triển công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ và xúc tiến ra thị trường quốc tế. Điều đáng học ở Hàn Quốc không phải là sao chép một mô hình hay một loại quỹ, mà là tính hệ thống: một nhân vật, một câu chuyện, một tài sản trí tuệ thành công không chỉ dừng ở một tác phẩm ban đầu mà có thể phát triển sang phim, hoạt hình, trò chơi, thời trang, hàng lưu niệm, du lịch và nhiều hình thức khai thác khác. Chính khả năng phát triển tài sản trí tuệ gốc thành nhiều lớp sản phẩm phái sinh tạo ra sức mạnh của một nền công nghiệp văn hóa hiện đại.

Vương quốc Anh cho thấy một kinh nghiệm khác. Trong Chiến lược công nghiệp hiện đại năm 2025, các ngành công nghiệp sáng tạo được xác định là một trong những khu vực chiến lược, với kế hoạch riêng nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, kỹ năng, tiếp cận tài chính, xuất khẩu và tăng trưởng vùng. Điểm đáng chú ý là chính sách được gắn với hệ thống nghiên cứu, đánh giá và đo lường khá chặt chẽ. Các chương trình hỗ trợ game, nghề nghiệp sáng tạo, tăng trưởng doanh nghiệp và tiếp cận tài chính được theo dõi, đánh giá để điều chỉnh theo kết quả. Bài học ở đây rất rõ: chính sách công nghiệp văn hóa không thể chỉ dừng ở việc ban hành ưu đãi rồi coi như đã hoàn thành nhiệm vụ, mà phải được đo lường bằng dữ liệu, tác động và khả năng hình thành năng lực mới cho nền kinh tế sáng tạo.

Từ kinh nghiệm đó, điều đầu tiên Việt Nam cần thực hiện là chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển cả chuỗi giá trị. Dự thảo đã xác định chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa gồm các khâu sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, phổ biến, thương mại hóa, trình diễn, tiêu dùng và tái đầu tư. Cách nhìn này rất đúng bởi điểm yếu lâu nay của chúng ta thường không nằm ở việc thiếu tài năng hay thiếu sản phẩm, mà ở các khâu trung gian giúp sản phẩm đi xa hơn. Một bộ phim hay nhưng thiếu hệ thống phân phối thì giá trị kinh tế bị giới hạn; một tác phẩm có sức sống nhưng quản trị bản quyền yếu thì phần lớn giá trị có thể rơi khỏi tay người sáng tạo; một sản phẩm giàu bản sắc nhưng thiếu thiết kế, marketing, bản địa hóa và kết nối thị trường quốc tế thì khó trở thành thương hiệu. Vì vậy, chính sách không nên chỉ hỗ trợ “làm ra sản phẩm” mà phải nhìn toàn bộ vòng đời của giá trị sáng tạo.

Điều thứ hai là chuyển từ tư duy tài trợ dựa trên tài sản hữu hình sang nhìn nhận tài sản trí tuệ như một tài sản kinh tế thực sự. Đây là một trong những nội dung đáng kỳ vọng nhất của dự thảo khi dành riêng một chương cho mã định danh, hồ sơ, định giá, góp vốn và sử dụng tài sản trí tuệ trong quan hệ tín dụng. Điểm nghẽn rất lớn của doanh nghiệp sáng tạo là họ có kịch bản, thiết kế, âm nhạc, phần mềm, thương hiệu, cộng đồng người dùng và quyền khai thác nhưng lại không có nhiều đất đai, nhà xưởng hay máy móc để thế chấp. Một hệ thống tài chính chỉ nhìn vào tài sản hữu hình sẽ luôn đánh giá thấp giá trị của doanh nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, luật cũng không thể chỉ tuyên bố rằng tài sản trí tuệ có thể dùng làm tài sản bảo đảm rồi kỳ vọng ngân hàng tự động mở rộng tín dụng. Muốn cơ chế này vận hành phải có dữ liệu giao dịch, phương pháp định giá, tổ chức trung gian, cơ chế chia sẻ rủi ro, xử lý quyền và dòng tiền khi dự án thất bại. Nghị quyết 28 mở ra một tư duy đáng chú ý khi cho phép thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo hướng chấp nhận rủi ro và vận hành gần hơn với cơ chế thị trường; đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục thiết kế những công cụ tài chính phù hợp với đặc thù của sáng tạo.

Điều thứ ba là đặt người sáng tạo ở trung tâm, chứ không chỉ đặt doanh nghiệp và công trình ở trung tâm. Dự thảo đã ghi nhận cá nhân hoạt động độc lập, chủ thể sáng tạo, nhóm sáng tạo, hộ kinh doanh, hợp tác xã, tổ chức phi lợi nhuận cùng nhiều thành tố khác của hệ sinh thái. Đây là một điểm tiến bộ, bởi thực tế của công nghiệp sáng tạo khác khá xa các ngành công nghiệp truyền thống. Một đạo diễn, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thiết kế, biên kịch hay người làm game có thể cùng lúc tham gia nhiều dự án, làm cho nhiều đơn vị, thậm chí làm việc xuyên biên giới; quan hệ lao động linh hoạt hơn nhưng cũng dễ bị tổn thương hơn. Vì vậy, Luật cần quan tâm đến khả năng tiếp cận đào tạo, không gian sáng tạo, tài chính, bảo hiểm, tư vấn pháp lý, quản trị bản quyền và thị trường của chính người sáng tạo. Chúng ta khó có thể xây dựng một nền công nghiệp sáng tạo mạnh nếu người sáng tạo luôn là mắt xích yếu nhất trong chuỗi giá trị.

Điều thứ tư là phát triển hạ tầng nhưng không đồng nhất công nghiệp văn hóa với bất động sản văn hóa. Các mô hình tổ hợp sáng tạo, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, không gian sáng tạo và hạ tầng số là cần thiết, nhưng cứ có đất, có công trình chưa chắc đã có hệ sinh thái sáng tạo. Một khu công nghiệp văn hóa chỉ có ý nghĩa khi trong đó hình thành được tương tác thực chất giữa người sáng tạo, doanh nghiệp, trường học, trung tâm nghiên cứu, tài chính, công nghệ và công chúng. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu các địa phương trọng điểm lựa chọn có trọng tâm, không làm dàn trải, mỗi nơi chỉ nên tập trung một số dự án dẫn dắt và từng dự án phải làm rõ sản phẩm, doanh nghiệp, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và đóng góp dự kiến. Đây là tinh thần rất cần chuyển hóa vào Luật: mở cơ chế về đất đai và hạ tầng nhưng đồng thời có hàng rào đủ chặt để tránh việc lợi dụng danh nghĩa công nghiệp văn hóa nhằm hưởng ưu đãi bất động sản.

Điều thứ năm là xây dựng thị trường nhưng không hành chính hóa thị hiếu và bản sắc. Mục tiêu khuyến khích sản phẩm mang bản sắc Việt Nam là hoàn toàn đúng, nhưng bản sắc là một khái niệm sống động, luôn được sáng tạo và diễn giải trong bối cảnh mới. Văn hóa Việt Nam không chỉ nằm trong hoa văn truyền thống, trang phục cổ, nhạc cụ dân tộc hay bối cảnh lịch sử; bản sắc còn có thể hiện diện trong cách người Việt hôm nay sống, yêu, ứng xử, kể chuyện và nhìn thế giới. Nếu biến “bản sắc” thành một bảng điểm hành chính quá cứng, chúng ta có thể vô tình thu hẹp sáng tạo và hình thành thêm thủ tục xin - cho. Theo tôi, nên sử dụng nhiều hơn những tiêu chí khách quan như chủ thể sáng tạo Việt Nam, quyền sở hữu tài sản trí tuệ tại Việt Nam, mức độ sử dụng chất liệu văn hóa, tỷ lệ chi phí sản xuất trong nước, lao động Việt Nam, khả năng phát triển sản phẩm phái sinh, khả năng tiếp cận công chúng và tiềm năng quốc tế. Nhà nước nên khuyến khích bản sắc, chứ không nên định nghĩa thay nghệ sĩ thế nào mới là sáng tạo “đủ bản sắc”.

Điều thứ sáu là chuyển từ quản lý bằng báo cáo sang quản trị bằng dữ liệu và kết quả. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu phải hình thành số liệu gốc, phương pháp tính thống nhất và cơ chế công bố định kỳ về công nghiệp văn hóa, đo được đóng góp của từng ngành, địa phương, doanh thu, xuất khẩu, doanh nghiệp, việc làm, thu nhập, bản quyền và tài sản trí tuệ. Dự thảo cũng đã có các điều về cơ sở dữ liệu quốc gia, thống kê và bộ chỉ số phát triển. Đây không phải là phần kỹ thuật ở cuối Luật mà chính là điều kiện để mọi chính sách phía trước vận hành có trách nhiệm. Nếu không có dữ liệu, chúng ta sẽ không biết ngành nào thực sự tăng trưởng, ưu đãi nào có hiệu quả, khu sáng tạo nào đang hoạt động thực chất, dự án nào tạo việc làm, đồng vốn ngân sách nào tạo ra tài sản trí tuệ và chính sách nào cần được điều chỉnh hoặc chấm dứt.

Một đạo luật cho kỷ nguyên mới phải “mở đường” nhưng không tạo ra một vòng xin - cho mới

Từ những phân tích trên, điều cần nhất ở vòng xây dựng Luật này là giữ được tinh thần đổi mới nhưng đồng thời phải rất tỉnh táo trong thiết kế thể chế. Một đạo luật phát triển không thể được đánh giá bằng số lượng ưu đãi. Ưu đãi là cần thiết khi thị trường chưa hình thành đầy đủ, nhưng nếu cái gì cũng “đặc biệt ưu đãi”, “mức cao nhất”, “ưu tiên cao nhất” thì cuối cùng ưu tiên sẽ mất ý nghĩa. Dự thảo hiện có nhiều chính sách mạnh đối với hạ tầng, tổ hợp, cụm, khu sáng tạo, sản phẩm trọng điểm và dự án đầu tư nước ngoài. Tinh thần quyết liệt ấy rất đáng ghi nhận, nhưng nên được thiết kế có trọng tâm hơn để bảo đảm nguồn lực công thực sự đến đúng nơi cần thiết và tạo được hiệu ứng lan tỏa.

Theo tôi, ưu đãi cần đi theo kết quả tạo ra, chứ không chỉ theo tên gọi hay địa chỉ. Một doanh nghiệp không nên được hưởng ưu đãi rất cao chỉ vì đặt trụ sở trong một “khu sáng tạo”; điều cần đo là doanh nghiệp ấy tạo ra bao nhiêu tài sản trí tuệ, bao nhiêu việc làm chất lượng cao, khả năng xuất khẩu thế nào, mức độ chuyển giao công nghệ ra sao và có đóng góp gì cho cộng đồng. Tương tự, một công trình không nên tiếp tục nhận ngân sách chỉ vì mang danh “hạ tầng văn hóa”; điều quan trọng phải là số người sử dụng, số ngày hoạt động, số sản phẩm được tạo ra, khả năng kết nối doanh nghiệp, người sáng tạo và công chúng. Dự thảo có điểm tiến bộ khi yêu cầu đánh giá hiệu quả hạ tầng bằng cả hiệu quả khai thác, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và tác động phát triển; tư duy này nên trở thành nguyên tắc chung của toàn bộ Luật: mọi chính sách hỗ trợ đều phải có mục tiêu, thời hạn, kết quả đầu ra, cơ chế đánh giá và điểm kết thúc.

Một vấn đề đặc biệt quan trọng là phải kiểm soát nguy cơ hình thành một vòng xin - cho mới. Những khái niệm như “sản phẩm trọng điểm”, “thương hiệu quốc gia”, “tài sản trí tuệ gốc trọng điểm” hay “sản phẩm mang bản sắc Việt Nam” đều có lý do để tồn tại, nhưng nếu mỗi khái niệm ấy kéo theo một hồ sơ xin công nhận, một hội đồng, một giấy chứng nhận và một quyền hưởng ưu đãi thì hệ thống có thể trở nên phức tạp. Người sáng tạo cuối cùng lại dành nhiều thời gian làm hồ sơ thay vì sáng tạo. Vì vậy, các chương trình sử dụng ngân sách phải công khai tiêu chí trước, có hội đồng chuyên gia độc lập, kê khai xung đột lợi ích, công khai kết quả và lý do lựa chọn, có cơ chế phản hồi, khiếu nại và đặc biệt phải đánh giá sau hỗ trợ để biết sản phẩm thực sự tạo ra giá trị gì.

Cùng với đó, cần rất thận trọng khi tạo ra ngoại lệ đối với pháp luật hiện hành. Một số vấn đề trong dự thảo liên quan trực tiếp đến lựa chọn nhà đầu tư, thuế, đất đai, tuyển dụng nhân lực chất lượng cao, quản lý vốn đồng đầu tư, phá sản hay sở hữu trí tuệ. Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần đủ mạnh để tháo gỡ điểm nghẽn, nhưng càng tạo đột phá càng phải xác định rõ phạm vi và trách nhiệm. Không nên chỉ có một điều chung khẳng định Luật này được ưu tiên áp dụng khi khác với luật khác rồi để Chính phủ lựa chọn cơ chế thuận lợi hơn. Cách chắc chắn hơn là Quốc hội xác định rõ ngoại lệ nào thực sự cần thiết, ghi chính xác ngay trong điều luật hoặc sửa trực tiếp các luật có liên quan. Làm như vậy không làm giảm tính đột phá, mà giúp đột phá có nền tảng pháp lý vững chắc và tránh rủi ro trong thực thi.

Một đạo luật kiến tạo cũng không nên biến Nhà nước từ người quản lý thành người làm thay thị trường. Dự thảo đề xuất sàn giao dịch công nghiệp văn hóa, bộ công cụ sáng tạo, kho dữ liệu, nền tảng số và thương hiệu quốc gia; những thiết chế này đều có thể hữu ích, nhưng Nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp xây dựng và vận hành tất cả. Chức năng quan trọng hơn của Nhà nước là đặt tiêu chuẩn, tạo hạ tầng dùng chung ở những nơi thị trường không tự làm được, bảo đảm khả năng liên thông, tạo môi trường cạnh tranh công bằng và đặt hàng khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ. Một sàn giao dịch có thể do doanh nghiệp vận hành, một công cụ sáng tạo có thể do startup phát triển, một không gian sáng tạo có thể do cộng đồng quản trị, và một nguồn dữ liệu văn hóa do Nhà nước tạo lập có thể được mở để hàng nghìn doanh nghiệp khai thác hợp pháp, tạo ra vô số sản phẩm mới. Đó mới là tinh thần của Nhà nước kiến tạo phát triển.

Trong kỷ nguyên số, tài nguyên chiến lược của công nghiệp văn hóa cũng không chỉ là nhà hát, bảo tàng, phim trường hay đất đai, mà ngày càng là dữ liệu văn hóa. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng số hóa di sản không thể chỉ dừng ở việc chụp ảnh, quét tài liệu hay lập kho lưu trữ, mà dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng; quan trọng hơn, số hóa phải tạo ra tri thức số và tài sản trí tuệ phục vụ giáo dục, nghiên cứu, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Tiếng Việt, lịch sử, thư tịch, âm nhạc, hình ảnh, thiết kế truyền thống, tri thức dân gian và tác phẩm nghệ thuật nếu được số hóa đúng cách đều có thể trở thành nguyên liệu cho giáo dục số, điện ảnh, hoạt hình, trò chơi, thiết kế và AI. Nhưng đi cùng cơ hội là những câu hỏi pháp lý mới về quyền khai thác, quyền của cộng đồng nắm giữ di sản, bảo vệ quyền tác giả, dữ liệu cá nhân và chia sẻ lợi ích; đó là những vấn đề mà một đạo luật của kỷ nguyên mới phải bắt đầu trả lời.

Và cuối cùng, Luật phải được thiết kế bằng một tinh thần rất Việt Nam. Kinh nghiệm Hàn Quốc đáng học, kinh nghiệm Vương quốc Anh đáng tham khảo, nhưng Việt Nam không thể sao chép. Chúng ta có cấu trúc văn hóa, hệ thống quản trị và kho di sản rất riêng, với văn hóa cộng đồng, làng nghề, nghệ thuật truyền thống và sự đa dạng vùng miền đặc biệt phong phú. Sức mạnh của công nghiệp văn hóa Việt Nam không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc cố tạo ra một phiên bản K-pop hay Hollywood của riêng mình, mà có thể bắt đầu từ việc biến chính những điều Việt Nam có thành những sản phẩm mà thế giới muốn trải nghiệm: một câu chuyện lịch sử được kể bằng trò chơi; một di sản bước vào điện ảnh; một làng nghề đi vào thiết kế đương đại; một chất liệu dân gian trở thành hoạt hình; một món ăn, trang phục, âm thanh hay kiến trúc được kể bằng ngôn ngữ sáng tạo của thế hệ mới.

Tinh thần sâu xa nhất của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, theo tôi, không phải là làm cho văn hóa “được kinh doanh nhiều hơn”, mà là làm cho những giá trị văn hóa của dân tộc sống mạnh mẽ hơn trong đời sống đương đại; để người sáng tạo có thể sống bằng tài năng, doanh nghiệp có thể lớn lên từ tài sản trí tuệ Việt Nam, di sản trở thành nguồn cảm hứng chứ không bị đóng kín trong kho lưu trữ, công chúng được thụ hưởng những sản phẩm tốt hơn và Việt Nam có thêm những câu chuyện, hình ảnh, âm thanh, biểu tượng đủ sức đi xa trên thế giới. Nghị quyết 80 đã tạo ra định hướng chính trị rõ ràng, Nghị quyết 28 đã mở ra nhiều cơ chế đặc thù, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định trực tiếp yêu cầu chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển; nhiệm vụ của chúng ta lúc này là làm cho đạo luật đủ rõ để thực hiện, đủ mở cho sáng tạo, đủ linh hoạt trước công nghệ, đủ minh bạch để tránh xin - cho và đủ mạnh để hình thành thị trường.

Một đạo luật thành công vì thế sẽ không phải là đạo luật có nhiều ưu đãi nhất, nhiều quỹ nhất hay nhiều khu công nghiệp sáng tạo nhất. Thước đo cuối cùng phải là sau khi Luật có hiệu lực, có nhiều người Việt Nam sáng tạo hơn, nhiều tài sản trí tuệ Việt Nam được hình thành hơn, nhiều doanh nghiệp văn hóa Việt Nam lớn mạnh hơn, nhiều sản phẩm văn hóa Việt Nam có thị trường hơn và nhiều giá trị Việt Nam được thế giới biết đến, yêu thích và trân trọng hơn. Khi thể chế có thể tạo ra những kết quả ấy, văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, công nghiệp văn hóa mới thực sự trở thành một động lực phát triển và Luật Phát triển công nghiệp văn hóa mới hoàn thành sứ mệnh của một đạo luật dành cho kỷ nguyên mới.