Khi văn hóa bắt đầu từ cách chúng ta hành động

Một trong những điểm nổi bật nhất trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị ngày 3/9 là yêu cầu rất rõ ràng: không được coi học nghị quyết là thủ tục, nghe xong, ban hành kế hoạch là hoàn thành. Giá trị của văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn và tạo ra những chuyển biến mà Nhân dân có thể cảm nhận được. Đây trước hết là yêu cầu đối với tổ chức thực hiện, nhưng nhìn sâu hơn, đó cũng là một yêu cầu về văn hóa. Bởi văn hóa không chỉ nằm trong di sản, nghệ thuật hay những sản phẩm sáng tạo. Văn hóa còn thể hiện trong cách một tổ chức vận hành, trong thái độ của cán bộ đối với công việc, trong cách người đứng đầu chịu trách nhiệm, trong tinh thần nói đi đôi với làm, trong việc đặt lợi ích chung lên trên sự an toàn cá nhân. Theo nghĩa ấy, “văn hóa thực thi” chính là một phần rất quan trọng của văn hóa công vụ và rộng hơn là văn hóa quản trị quốc gia.

2604.ninh_binh_ _gia_tri_di_san_2.jpg
Lễ hội Tràng An  - Ảnh: Trường Huy

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu mỗi nhiệm vụ phải rõ mục tiêu, rõ đầu mối chịu trách nhiệm, rõ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm và dữ liệu kiểm chứng; phải chuyển từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, không lấy văn bản, hội nghị thay chuyển biến thực tế. Trong lĩnh vực văn hóa, yêu cầu ấy đặc biệt có ý nghĩa. Chúng ta có thể ban hành nhiều chiến lược, chương trình, đề án về bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa, thúc đẩy du lịch hay chuyển đổi số. Nhưng sau cùng, điều quan trọng vẫn là: di sản có thực sự được bảo vệ tốt hơn không; nghệ sĩ và người sáng tạo có thêm không gian phát triển không; công chúng có thêm cơ hội tiếp cận những sản phẩm văn hóa có chất lượng không; thiết chế văn hóa có hoạt động hiệu quả không; văn hóa có thực sự đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng kinh tế và chất lượng sống hay chưa. Khi đặt câu hỏi như vậy, chúng ta sẽ nhìn thấy rõ hơn khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn, giữa nguồn lực đã bỏ ra và giá trị xã hội thu được.

Đó cũng là lý do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh rằng “thời gian là một nguồn lực phát triển không thể tái tạo”; chậm thể chế hóa, chậm quyết định, chậm tháo gỡ điểm nghẽn chính là làm tăng chi phí và đánh mất cơ hội. Với văn hóa, thời gian đôi khi còn mang một ý nghĩa đặc biệt hơn. Một di sản xuống cấp có thể không chờ chúng ta hoàn tất mọi thủ tục. Một nghệ nhân cao tuổi có thể mang theo tri thức dân gian nếu chúng ta chậm có chính sách bảo tồn và truyền dạy. Một cơ hội hình thành thị trường mới cho sản phẩm văn hóa có thể nhanh chóng bị những quốc gia khác chiếm lĩnh. Một thế hệ trẻ nếu không được tiếp cận những giá trị tích cực đủ sớm có thể bị cuốn theo những xu hướng lệch chuẩn trên không gian mạng. Bởi vậy, thể chế trong lĩnh vực văn hóa không thể chỉ “theo sau” để quản lý những gì đã xuất hiện. Thể chế phải thực sự trở thành công cụ kiến tạo, mở đường cho cái mới, bảo vệ cái có giá trị và tạo điều kiện để sức sáng tạo của xã hội được giải phóng.

Điều đó đòi hỏi một đội ngũ cán bộ có năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ cầm chừng, né tránh thì công việc vẫn trì trệ. Phải chọn người theo việc, giao việc để thử thách, lấy kết quả để đánh giá, sử dụng và sàng lọc; người dám nghĩ, dám làm, có sản phẩm thực chất phải được ghi nhận, bảo vệ và trọng dụng. Trong lĩnh vực văn hóa, điều này càng cần thiết bởi văn hóa luôn chứa đựng những vấn đề vừa nhạy cảm, vừa sáng tạo, nhiều khi chưa có tiền lệ. Nếu người thực thi chỉ lựa chọn phương án an toàn, không dám thử nghiệm, không dám mở đường cho cái mới, thì rất khó tạo ra bước đột phá. Văn hóa thực thi vì thế phải là văn hóa của trách nhiệm, nhưng đồng thời cũng phải là văn hóa của sáng tạo và dấn thân vì lợi ích chung.

Lấy văn hóa, bản sắc và trải nghiệm làm lợi thế phát triển

Một nội dung rất đáng chú ý trong phát biểu tại Hội nghị là cách Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt phát triển du lịch trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước. Du lịch phải trở thành một động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao sức mạnh mềm; được tổ chức như một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Đặc biệt, phải chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh; lấy văn hóa, bản sắc, trải nghiệm làm lợi thế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh làm động lực. Đây là một định hướng có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển văn hóa trong giai đoạn mới. Bởi trong nhiều năm, khi nói tới giá trị kinh tế của văn hóa, đôi khi chúng ta vẫn còn tâm lý dè dặt. Văn hóa thường được nhìn nhiều hơn như lĩnh vực cần được đầu tư, hỗ trợ, bảo tồn. Nhưng trong nền kinh tế sáng tạo hiện nay, văn hóa không chỉ là đối tượng thụ hưởng nguồn lực phát triển mà chính là một nguồn lực tạo ra phát triển.

Di sản có thể tạo ra sản phẩm du lịch. Nghệ thuật có thể trở thành công nghiệp biểu diễn. Thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thủ công mỹ nghệ, trò chơi điện tử và những nội dung sáng tạo số đều có khả năng tạo việc làm, giá trị gia tăng, xuất khẩu và hình ảnh quốc gia. Điều quan trọng là chúng ta tổ chức nguồn lực ấy như thế nào. Thông điệp “lấy văn hóa, bản sắc, trải nghiệm làm lợi thế” cho thấy cạnh tranh du lịch trong giai đoạn tới không thể chủ yếu dựa trên giá rẻ hay số lượng khách. Điều làm nên sức hút bền vững của một điểm đến phải là những giá trị riêng có mà nơi khác không thể sao chép. Đó có thể là một di sản, một lễ hội, một món ăn, một làng nghề, một loại hình nghệ thuật, một lối sống, một ký ức đô thị hay cách người dân địa phương kể câu chuyện về chính vùng đất của mình.

Nhưng văn hóa chỉ trở thành lợi thế khi nó được chuyển hóa thành sản phẩm và trải nghiệm có chất lượng. Chúng ta không thể chỉ có di sản mà thiếu cách kể chuyện hấp dẫn; không thể chỉ có tài nguyên văn hóa mà thiếu những sản phẩm sáng tạo; không thể chỉ quảng bá hình ảnh mà thiếu một hệ sinh thái dịch vụ đủ tốt để giữ chân du khách và khuyến khích họ chi tiêu nhiều hơn. Ở đây, công nghiệp văn hóa và du lịch có thể trở thành hai lĩnh vực bổ trợ rất mạnh cho nhau. Một bộ phim hay có thể quảng bá điểm đến. Một lễ hội âm nhạc có thể kéo du khách đến thành phố. Một bảo tàng ứng dụng công nghệ tốt có thể trở thành sản phẩm du lịch. Một không gian sáng tạo, một tuyến phố nghệ thuật hay một làng nghề được tổ chức bài bản có thể vừa bảo tồn văn hóa, vừa tạo sinh kế.

Quan trọng hơn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh nguyên tắc không đánh đổi di sản, bản sắc, môi trường lấy tăng trưởng trước mắt. Đó là giới hạn rất quan trọng của tư duy phát triển. Nếu một điểm đến thu hút được nhiều khách nhưng làm tổn hại di sản, làm biến dạng văn hóa cộng đồng hoặc gây quá tải môi trường, thì đó chưa thể coi là thành công. Nếu một lễ hội trở nên thương mại hóa đến mức mất đi ý nghĩa tinh thần ban đầu, thì lợi ích kinh tế trước mắt có thể phải trả giá bằng mất mát lâu dài. Phát triển dựa trên văn hóa phải là phát triển có trách nhiệm với văn hóa. Chúng ta khai thác di sản nhưng đồng thời phải tái đầu tư cho bảo tồn; phát triển du lịch nhưng phải bảo đảm cộng đồng địa phương là chủ thể và người hưởng lợi; đưa công nghệ vào văn hóa nhưng không để công nghệ làm mất đi tính chân thực; hội nhập với thế giới nhưng càng phải làm rõ hơn bản sắc của chính mình. Khi đó, văn hóa mới thực sự trở thành một nguồn lực phát triển bền vững và sức mạnh mềm quốc gia.

mung lua moi dt chu ru.JPG
Lễ Mừng lúa mới của dân tộc Chu Ru, tỉnh Lâm Đồng, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Không gian mạng cũng phải trở thành không gian của văn hóa và niềm tin

Một điểm rất mới và rất đáng suy nghĩ trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là yêu cầu “phải coi không gian mạng là địa bàn trọng yếu của công tác tư tưởng và là kênh lắng nghe Nhân dân”. Đồng thời, cần phân biệt những băn khoăn, phản biện, thông tin chưa đầy đủ với tin giả, xuyên tạc, thao túng có tổ chức; không quy chụp ý kiến khác biệt và không để thông tin giả mạo, độc hại, lệch chuẩn dẫn dắt. Không gian mạng ngày nay không còn là một thế giới tách rời cuộc sống thực. Nó chính là một phần của môi trường văn hóa. Những video chúng ta xem, những câu chuyện được chia sẻ, những biểu tượng được tôn vinh, những hành vi được khuyến khích hoặc lên án trên mạng đều góp phần hình thành chuẩn mực xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ.

Bởi vậy, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong thời đại số không thể chỉ tập trung vào những thiết chế văn hóa truyền thống. Không gian mạng cũng phải được coi là một không gian văn hóa quan trọng. Ở đó, chúng ta cần đấu tranh với tin giả, nội dung độc hại, sự thao túng cảm xúc hay những hành vi lệch chuẩn. Nhưng chỉ chống cái xấu là chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải làm cho cái tốt, cái đẹp, cái nhân văn hiện diện mạnh mẽ hơn và có sức hấp dẫn hơn. Muốn như vậy, chúng ta cần một hệ sinh thái nội dung số tích cực; cần báo chí chuyên nghiệp và đủ sức cạnh tranh; cần những người sáng tạo nội dung có trách nhiệm; cần những sản phẩm văn hóa số hấp dẫn đối với thế hệ trẻ; cần giáo dục kỹ năng số, năng lực kiểm chứng thông tin và văn hóa ứng xử trên môi trường mạng ngay từ nhà trường.

Đặc biệt, việc coi không gian mạng là “kênh lắng nghe Nhân dân” mở ra một cách tiếp cận rất đáng chú ý. Lắng nghe không có nghĩa là chạy theo mọi phản ứng tức thời trên mạng xã hội. Nhưng những phản ánh, băn khoăn hay phản biện chính đáng cần được coi là một nguồn dữ liệu xã hội để cơ quan quản lý hiểu đời sống tốt hơn. Một nền quản trị hiện đại phải biết nhận diện những tín hiệu từ xã hội trước khi chúng trở thành vấn đề lớn. Những khoảng trống thông tin phải được lấp đầy kịp thời. Những vấn đề chính đáng của người dân phải được giải thích và xử lý. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu truyền thông chính sách phải kịp thời, chính xác, dễ hiểu; tăng giải thích, đối thoại, lắng nghe và tạo đồng thuận bằng sự thật, lý lẽ, kết quả thực tiễn. Đây có lẽ chính là điểm cốt lõi của quản trị niềm tin trong thời đại số.

Niềm tin không thể chỉ được tạo dựng bằng truyền thông. Truyền thông có thể giúp người dân hiểu đúng một chính sách, nhưng không thể làm cho một chính sách chưa tốt trở nên tốt. Công nghệ có thể giúp phân tích dư luận, nhưng không thể thay thế trách nhiệm của người cán bộ. Bởi vậy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khẳng định rất rõ: “Sức thuyết phục cao nhất vẫn là chính sách đúng, cán bộ gương mẫu, vấn đề chính đáng của Nhân dân được giải quyết”. Đó cũng là mối liên hệ sâu sắc nhất giữa văn hóa và quản trị. Một cán bộ gương mẫu chính là một hình ảnh văn hóa. Một chính quyền biết lắng nghe cũng là biểu hiện của văn hóa. Một chính sách tôn trọng quyền lợi chính đáng của người dân cũng phản ánh nền tảng văn hóa của Nhà nước.

Vì thế, cuối cùng, tất cả lại trở về với Nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh rằng Nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng; giá trị của nghị quyết phải thể hiện ở đời sống và niềm tin của Nhân dân. Đó cũng chính là thước đo cao nhất của phát triển văn hóa. Không phải chúng ta có bao nhiêu di sản được ghi danh, tổ chức bao nhiêu lễ hội, đầu tư bao nhiêu thiết chế hay sản xuất bao nhiêu sản phẩm văn hóa, mà điều cuối cùng cần hướng tới là con người có sống tốt hơn không, xã hội có nhân văn hơn không, cộng đồng có gắn kết hơn không, bản sắc dân tộc có được bồi đắp và sức sáng tạo có được khơi thông hay không.

Phát biểu tại Hội nghị ngày 3/9 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vì vậy không chỉ đặt ra yêu cầu đưa 5 nghị quyết, 1 chỉ thị vào cuộc sống. Xa hơn, đó là lời thúc giục xây dựng một văn hóa hành động mới: nói đi đôi với làm, quyết sách đi cùng trách nhiệm, đổi mới đi cùng hiệu quả, phát triển đi cùng bản sắc và mọi thành quả cuối cùng phải được kiểm chứng bằng đời sống, sự hài lòng và niềm tin của Nhân dân. Khi văn hóa hiện diện trong cách chúng ta thực thi chính sách, trong cách chúng ta phát triển du lịch, quản trị không gian mạng, ứng xử với di sản và lắng nghe Nhân dân, văn hóa sẽ không còn chỉ là một lĩnh vực của đời sống. Văn hóa sẽ thực sự trở thành sức mạnh của phát triển.