Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích trải nghiệm Templestay như một hình thức du lịch dựa vào di sản văn hóa Phật giáo tại một số quốc gia Đông Bắc Á, nhằm gợi mở định hướng phát triển cho Việt Nam. Kết quả cho thấy hoạt động Templestay tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc không tồn tại mô hình đồng nhất mà được hiện thực hóa khác nhau theo bối cảnh văn hóa - xã hội ở mỗi quốc gia. Hàn Quốc phát triển theo hướng có cấu trúc hệ thống, Nhật Bản nhấn mạnh trải nghiệm nội quán, trong khi Trung Quốc linh hoạt kết hợp với các hình thức chữa lành. Từ đó, nghiên cứu nhấn mạnh rằng việc phát triển Templestay tại Việt Nam cần dựa trên thiết kế trải nghiệm cấu trúc, thay vì sao chép mô hình. Đồng thời, nghiên cứu góp phần làm rõ cách thức Templestay được hình thành và vận hành trong bối cảnh hiện nay.
Tóm tắt: Du lịch ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Cùng với nhu cầu di chuyển và sự đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, du lịch Hồi giáo nổi lên như một phân khúc giàu tiềm năng. Malaysia, thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) và có Hồi giáo là quốc giáo, đã khai thác hiệu quả yếu tố văn hóa - tôn giáo để phát triển loại hình du lịch này. Thông qua quảng bá lễ hội ẩm thực Halal, hội nghị và sự kiện thời trang Hồi giáo, Malaysia xây dựng thành công hình ảnh điểm đến thân thiện với du khách Hồi giáo và trung tâm Halal toàn cầu. Kinh nghiệm này mang lại nhiều bài học cho Việt Nam trong hoạch định chính sách, phát triển hạ tầng và nâng cao hình ảnh du lịch Halal để thu hút thị trường khách tiềm năng.
Tóm tắt: Bài viết sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả trên 500 đơn vị mẫu khảo sát, được xử lý bằng phần mềm SPSS 20, nhằm khám phá cách thức khách du lịch tiếp cận thông tin, lựa chọn và cảm nhận thương hiệu điểm đến Nghệ An trên các nền tảng mạng xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy mạng xã hội, đặc biệt là Facebook và TikTok, giữ vai trò nổi bật trong việc tiếp cận thông tin du lịch. Tuy nhiên, quyết định lựa chọn điểm đến vẫn chủ yếu chịu tác động từ các yếu tố nội tại như cảnh quan, ẩm thực và giá trị lịch sử, văn hóa, trong khi ảnh hưởng trực tiếp của truyền thông số còn hạn chế. Đồng thời, thương hiệu điểm đến Nghệ An được đánh giá tích cực về hình ảnh tổng thể, nhưng mức độ khác biệt và nổi bật chưa cao. Các liên tưởng thương hiệu chủ yếu mang tính cảm xúc và ổn định, tập trung vào các giá trị như thân thiện, yên bình và truyền thống. Từ những kết quả này, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cơ chế hình thành nhận thức thương hiệu điểm đến, đồng thời, đề xuất một số hàm ý cho hoạt động xúc tiến thương hiệu điểm đến Nghệ An trên nền tảng mạng xã hội.
Tóm tắt: Bắc Ninh - vùng đất cổ với bề dày lịch sử hàng nghìn năm, sở hữu hệ thống di tích, lễ hội và không gian văn hóa tâm linh đặc sắc, mang đậm bản sắc truyền thống và tín ngưỡng của người Việt. Trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững, du lịch văn hóa tâm linh đang trở thành loại hình có sức hấp dẫn đặc biệt. Trong những năm gần đây, du lịch tâm linh Bắc Ninh có xu hướng tăng trưởng, đặc biệt vào mùa lễ hội. Tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều chính sách phát triển du lịch tâm linh như phát triển du lịch cộng đồng, tổ chức các tour du lịch gắn với không gian văn hóa lễ hội, tín ngưỡng dân gian, trình diễn nghệ thuật; tăng cường truyền thông trên các nền tảng số... Với định hướng phát triển bền vững, gắn bảo tồn với khai thác hợp lý, Bắc Ninh có tiềm năng trở thành trung tâm du lịch văn hóa tâm linh tiêu biểu của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước. Bài viết tập trung nghiên cứu, đánh giá tiềm năng du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh Bắc Ninh thông qua hệ thống di tích, lễ hội truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa. Qua đó, bài viết làm rõ vai trò của du lịch văn hóa tâm linh trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương, đề xuất một số định hướng nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng này gắn với phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Ninh.
Tóm tắt: Lam Sơn - Lam Kinh là vùng đất thiêng, quê hương của người anh hùng dân tộc Lê Lợi, nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh trong mười năm đầy gian khổ (1418-1428), cũng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vua, thái hoàng, thái hậu triều Lê Sơ. Khu di tích Lam Kinh (Thanh Hóa) có nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa đã được khai thác hiệu quả để phát triển du lịch bền vững. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc khai thác giá trị di sản Lam Kinh cho phát triển du lịch còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của hệ thống đồ sộ di tích lịch sử văn hóa này. Bài viết đề cập đến giá trị của di sản văn hóa Lam Kinh; kết quả khai thác những giá trị lịch sử, văn hóa phục vụ phát triển du lịch và những khó khăn gặp phải, đồng thời đưa ra các giải pháp để thúc đẩy phát triển du lịch tại khu di tích Lam Kinh.
Tóm tắt: Kiến tạo văn hóa du lịch là một góc độ tiếp cận mới được đề cập trong những năm gần đây nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, giúp nâng cao trải nghiệm của du khách tại các điểm đến. Bài viết đề cập đến việc kiến tạo văn hóa du lịch để nâng cao trải nghiệm của du khách nước ngoài của trường hợp chợ nổi Tân Phong (xã Hiệp Đức, tỉnh Đồng Tháp) từ việc thu thập ý kiến chia sẻ của một số bên liên quan. Việc tạo dựng hay kiến tạo chợ nổi Tân Phong là cần thiết trong bối cảnh chợ nổi Cái Bè đã “biến mất” gây nên sự hụt hẫng của các công ty du lịch, du khách trong và ngoài nước, mà từ lâu sự tồn tại của nó là cái “lõi trung tâm” thiết kế sản phẩm du lịch của các công ty lữ hành khi đưa khách đến khu vực chợ nổi Cái Bè - Cù lao Tân Phong. Ngoài phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp tư liệu thứ cấp, bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu phỏng vấn sâu đối với một số bên liên quan trong phát triển du lịch, từ đó khẳng định việc kiến tạo văn hóa du lịch nhằm nâng cao trải nghiệm của du khách ở khu vực xã Cái Bè và Cù lao Tân Phong là cần thiết. Việc kiến tạo chợ nổi Tân Phong hiện nay là một trường hợp đáng suy ngẫm có thể tham khảo cho bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các chợ nổi khác ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng và tiềm năng của mô hình du lịch sáng tạo thông qua hoạt động trải nghiệm làm hoa giấy tại làng Thanh Tiên, Huế. Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và phỏng vấn sâu, tác giả xác định các yếu tố then chốt tạo nên giá trị trải nghiệm gồm: sự tham gia trực tiếp của khách thể, tính tương tác với nghệ nhân và không gian thực hành đậm chất văn hóa. Dựa trên những phát hiện này, nghiên cứu khẳng định triển vọng của làng nghề trong phân khúc du lịch sáng tạo, đồng thời đưa ra các kiến nghị chính sách nhằm phát triển bền vững và bảo tồn di sản.
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch ẩm thực chay tại Huế trong bối cảnh du lịch đương đại. Trên nền tảng khái niệm ẩm thực, du lịch ẩm thực, nghiên cứu làm rõ giá trị văn hóa, thẩm mỹ đặc thù của ẩm thực chay Huế như một bộ phận hữu cơ trong văn hóa ẩm thực cố đô. Thông qua tổng hợp tư liệu, khảo sát thực tiễn và phân tích các hoạt động quảng bá, lễ hội, sự kiện du lịch tại Huế trong giai đoạn nghiên cứu, bài viết chỉ ra rằng, ẩm thực nói chung và ẩm thực chay nói riêng đã được quan tâm khai thác như một nguồn lực phát triển du lịch, song vẫn chủ yếu dừng ở vai trò bổ trợ, chưa hình thành các sản phẩm du lịch chuyên biệt và bền vững. Trên cơ sở đó, bài viết nhấn mạnh các nhóm giải pháp nhằm chuẩn hóa tri thức, đa dạng hóa trải nghiệm, tăng cường truyền thông và phát triển sản phẩm du lịch ẩm thực chay đặc thù, qua đó góp phần định vị Huế như một điểm đến văn hóa - ẩm thực có chiều sâu và bản sắc.
Tóm tắt: Nghiên cứu quản lý bảo tàng trong mối quan hệ với phát triển du lịch trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa bảo tàng học, quản lý di sản và du lịch học là nghiên cứu có góc nhìn đa chiều. Thông qua cơ sở lý luận và thực trạng tại Bảo tàng Văn hóa Sa Huỳnh, phường Hội An, kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động quản lý bảo tàng đã bảo đảm các chức năng cốt lõi về bảo tồn, nghiên cứu và giáo dục, đồng thời từng bước tham gia vào chuỗi giá trị du lịch Hội An. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa bảo tàng và du lịch vẫn mang tính phụ thuộc, thể hiện qua sự biến động của lượng khách, tỷ lệ khách nội địa thấp và mức độ hạn chế trong quản trị trải nghiệm và liên kết thị trường du lịch. Trên cơ sở đó, bài viết thảo luận các vấn đề đặt ra và đề xuất hàm ý quản lý theo hướng tích hợp bảo tồn di sản, phát huy giá trị văn hóa và phát triển du lịch bền vững, đồng thời nhấn mạnh vai trò của quản lý rủi ro thảm họa như một cấu phần quan trọng trong quản lý bảo tàng ở bối cảnh đô thị di sản ven biển.
Tóm tắt: Trong bối cảnh hậu đại dịch COVID-19, du lịch chăm sóc sức khỏe nổi lên như một xu hướng tất yếu, chuyển dịch từ nhu cầu giải trí sang tái tạo năng lượng và giá trị sống. Nghiên cứu này nhằm phân tích, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe tại vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Tây Ninh. Bài viết sử dụng phương pháp định tính thông qua phỏng vấn bán cấu trúc 15 chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp và quan sát thực địa, kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2020-2025. Kết quả cho thấy vùng Đồng Tháp Mười sở hữu lợi thế vượt trội về tài nguyên sinh thái đất ngập nước, nguồn dược liệu bản địa phong phú và tri thức y học cổ truyền. Tuy nhiên, việc phát triển còn gặp nhiều rào cản lớn về hạ tầng giao thông, cơ sở lưu trú đạt chuẩn, nguồn nhân lực chuyên môn và sự chồng chéo trong cơ chế quản lý liên ngành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng phát triển dựa trên sự hài hòa giữa khai thác và bảo tồn, nhằm đưa Tây Ninh trở thành điểm đến du lịch chăm sóc sức khỏe bền vững.
Tóm tắt: Địa đạo Tam giác sắt là di tích lịch sử đã được công nhận là Di tích quốc gia từ năm 1996 với những giá trị lịch sử và văn hóa đặc sắc được kiến tạo trong chiến tranh Việt Nam. Bài viết góp phần nhận diện giá trị địa đạo Tam Giác Sắt trong phát triển loại hình du lịch di sản. Một số phương pháp nghiên cứu được vận dụng như phân tích và tổng hợp tư liệu thứ cấp, phỏng vấn bán cấu trúc và quan sát tham dự. Qua phân tích và tổng hợp tư liệu nghiên cứu và ý kiến trao đổi của một số bên liên quan cho thấy địa đạo Tam Giác Sắt là một di sản văn hóa đặc sắc rất có tiềm năng để phát triển và trở thành một địa điểm du lịch di sản liên quan đến chiến trường xưa trong chiến tranh Việt Nam. Các bên liên quan cần “hành động” để giúp địa điểm di sản này thành một điểm tham quan xứng tầm với giá trị của nó.