Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, mọi công tác chuẩn bị cho ngày tuyên bố độc lập đã được tiến hành khẩn trương, chu đáo. Hà Nội được vinh dự thay mặt các địa phương trong cả nước chọn là nơi tổ chức ngày lễ độc lập để Chính phủ lâm thời ra mắt đồng bào và chiến sĩ cả nước. Từ sáng sớm ngày 2/9/1945, cả Hà Nội bừng lên trong màu cờ đỏ sao vàng và đèn, hoa rực rỡ. Những biểu ngữ lớn bằng chữ Việt, Pháp, Nga, Anh, Trung Quốc chăng khắp các đường phố, thể hiện rõ không khí sục sôi của cách mạng và sự tin tưởng vào tương lai của dân tộc: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “Độc lập hay là chết”, “Ủng hộ Chính phủ lâm thời”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”... Đến giữa trưa, nhân dân thành phố và các vùng lân cận đã cuồn cuộn đổ về quảng trường Ba Đình, là nơi dựng lễ đài Độc lập.

Đúng 14 giờ, các thành viên của Chính phủ lâm thời bước lên lễ đài. Bài Tiến quân ca vang lên hùng tráng, lá cờ đỏ sao vàng được từ từ kéo lên. Một rừng cánh tay cùng nắm chặt và giơ cao, biểu thị lòng quyết tâm, tinh thần đoàn kết và ý chí sắt đá của hàng vạn đồng bào đang kính chào lá cờ vinh quang của Tổ quốc. Trong không khí thiêng liêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trang trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Người xuất hiện giản dị trong bộ quần áo ka ki và đôi dép cao su tiến ra trước máy phóng thanh. Lời nói của Người trang trọng, đầm ấm vang trên Quảng trường Ba Đình lịch sử. Người đã khái quát được hết hoàn cảnh ra đời của nước Việt Nam, thành quả đấu tranh của toàn thể dân tộc: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà”(1). Người trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(2).
Có được nền tự do và độc lập của ngày 2/9/1945 là kết tinh trí tuệ, bản lĩnh của Đảng, là sự hy sinh của lớp lớp cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân trong suốt 15 năm đấu tranh giành chính quyền đầy gian khổ. Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930), với đường lối lãnh đạo đúng đắn, qua các phong trào đấu tranh 1930 - 1931, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh; phong trào đòi dân sinh dân chủ 1936 - 1939, cách mạng Việt Nam đã có sự phát triển về mọi mặt. Tiếp đó là giai đoạn 1939 - 1945, nhất là từ khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về nước (28/1/1941), trực tiếp lãnh đạo cách mạng, đã tạo ra sự chuyển biến tích cực, nhanh chóng. Đảng tập trung lãnh đạo chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng tiến hành Tổng khởi nghĩa khi thời cơ thuận lợi xuất hiện.
Trước xu thế phát xít Nhật đứng bên bờ vực sụp đổ và đầu hàng quân đồng minh, chớp lấy thời cơ, ngày 14 và ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”(3). Nắm chắc thời cơ để hành động kịp thời, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thấy rõ nguy cơ lớn cần phải vượt qua và hành động nhanh mới có thể giành thắng lợi. Ngay sau đó, ngày 16/8, Đại hội quốc dân họp đã: hiệu triệu nhân dân đứng lên giành chính quyền trên toàn quốc; kêu gọi thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh; thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Nghị quyết của Quốc dân Đại hội đã chỉ ra: “Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được độc lập. Nhiều sự gay go trở ngại sẽ xảy ra. Chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết. Khôn khéo để tránh những sự không lợi cho ta. Kiên quyết để giành cho được nền hoàn toàn độc lập. Trên thế giới, sau cuộc chiến tranh này, một dân tộc quyết tâm và nhất trí đòi quyền độc lập thì nhất định được độc lập. Chúng ta sẽ thắng lợi”(4). Ngay trong ngày 16/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(5). Căn cứ vào chỉ thị của trên, từ ngày 14/8, nhiều địa phương đã chủ động khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 19/8, khởi nghĩa ở Hà Nội, ngày 23/8 ở Huế, ngày 25/8 ở Sài Gòn. Trong vòng hai tuần lễ từ ngày 14/8 đến ngày 28/8, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, 25 triệu đồng bào ta, với tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, đã nhất tề vùng lên giành chính quyền, cuộc tổng khởi nghĩa đã thắng lợi hoàn toàn.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và tinh thần của Ngày Quốc khánh 2/9/1945 không chỉ có giá trị to lớn đối với tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam mà là tấm gương, là nguồn cổ vũ cho các quốc gia - dân tộc đang mất độc lập tự do ở châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh, nhất là các nước láng giềng noi theo. Góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại; giáng một đòn chí mạng vào nền móng của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ ở vị trí xung yếu nhất; cùng với Liên Xô, các lực lượng tiến bộ trên thế giới và quân đồng minh đánh đổ chủ nghĩa thực phát xít, giữ vững hòa bình cho khu vực và trên thế giới. Đó cũng là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Thành công này còn chứng minh tính cách mạng, khoa học của học thuyết Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; đồng thời, khẳng định một chân lý của thời đại: các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập, tự do; đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân và biết tranh thủ sức mạnh của thời đại thì dân tộc đó nhất định thắng lợi.
Ngày Quốc khánh diễn ra trên Quảng trường Ba Đình lịch sử cách đây 81 năm mãi là mốc son chói lọi đánh dấu sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một nhà nước hoàn toàn mới trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, đem lại cuộc đổi đời lịch sử cho người dân khi đón nhận những thành quả “độc lập - tự do - hạnh phúc”, không còn sự nô dịch và bóc lột. Nhớ về thời khắc thiêng liêng đó để chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ của dân tộc trong kỷ nguyên mới hôm nay.

Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, từ một nước thuộc địa, không có tên trên bản đồ thế giới, lại bị kẻ thù dân tộc xâm lược và đàn áp, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự tin tưởng và ủng hộ của quần chúng nhân dân, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, tự chủ, tự cường, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, đóng góp xứng đáng cho sự phát triển chung của nhân loại. Bước vào công cuộc đổi mới đất nước, Đảng đã luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh của thời đại, từng bước đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, vững bước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa.
Quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới đã từng bước định hình và bổ sung lý luận về đường lối đổi mới, là cơ sở để hoạch định chủ trương, đường lối đổi mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Những phát triển nhận thức đó được thể hiện sinh động như sự phát triển nhận thức lý luận về: chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. ; văn hóa, xã hội và con người; quốc phòng, an ninh và đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Đáng chú ý, việc định hình ba trụ cột cốt lõi của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là thành tựu rất quan trọng, làm cơ sở để phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong đó, nền tảng của ba trụ cột là nhân dân, “dân là gốc”, “dân là chủ”, “dân là trung tâm”, dân vừa là mục tiêu vừa là động lực, nguồn lực cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ sở, nền tảng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ.
Đây là những phát triển nhận thức mang tính đột phá, góp phần bổ sung và làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới; đồng thời, là cơ sở vững chắc để Đảng hoạch định đường lối đổi mới đúng đắn. Vì vậy, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; trong đó, phát triển kinh tế là lĩnh vực tiêu biểu và có thành tích vượt bậc. Tốc độ tăng trưởng, quy mô và sự phát triển của nền kinh tế đất nước đạt bình quân 6% trong giai đoạn 1986 - 2025. Đáng chú ý, “Năm 2024, GDP của Việt Nam tình theo giá hiện hành ước đạt 11.511,9 nghìn tỉ đồng, tương đương 476,3 tỷ USD, dự báo đứng thứ 33 thế giới; năm 2025 ước đạt 510 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN”(6). Thu nhập bình quân đầu người tăng hằng năm, đến năm 2024 đạt 4.700 USD/người, tăng 377 USD so với năm 2023 và tăng gần 60 lần so với năm 1986, đến năm 2025 đạt 5.026 USD.
Trong quá trình đổi mới, Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Các tiềm lực cơ bản khác như về chính trị, tinh thần, về văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ cũng không ngừng nâng cao. Đáng chú ý, tiềm lực về quốc phòng, an ninh của đất nước đã được tăng cường với khả năng và sức mạnh mới; thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được xây dựng, củng cố ngày càng vững chắc... Những thành tựu nêu trên là cơ sở để Đảng khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
Với những thành quả đã đạt được và đường lối lãnh đạo đúng đắn, nhất là chủ trương về phát triển đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và các quyết sách chiến lược của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đề ra thời gian vừa qua đã giúp chúng ta càng củng cố và vững niềm tin vào thành công của công cuộc đổi mới, vào vận hội của dân tộc. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu “đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(7).
_____________________
1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr.3.
2. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr.3.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2000, tr.424.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2000, tr.561.
5. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr.596.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.114.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2026, tr.84.
TS Nguyễn Văn Trường
Nguồn: Tạp chí VHNT số 652, tháng 8/2026