
Những khoảng trống văn hóa trên môi trường số
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và các nền tảng số, đang mở ra những cơ hội và điều kiện thuận lợi để mở rộng khả năng chia sẻ tri thức, tăng cường giao lưu, kết nối xã hội, thiết lập các quan hệ mới, đồng thời góp phần khẳng định vị thế, bản sắc và giá trị văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
Cùng với sự tồn tại của không gian văn hóa truyền thống dựa trên các hình thức giao tiếp và tương tác trực tiếp, quá trình chuyển đổi số đang thúc đẩy sự hình thành và phát triển của không gian văn hóa số, nơi nhiều hoạt động sáng tạo, thực hành, truyền bá và tiếp nhận các giá trị văn hóa được thực hiện trên môi trường mạng. Với ưu thế nổi bật về khả năng kết nối, tương tác và lan tỏa thông tin nhanh chóng, môi trường số không chỉ làm thay đổi phương thức sáng tạo và hưởng thụ văn hóa mà còn kiến tạo những không gian sáng tạo mới, thu hút sự tham gia của đông đảo văn nghệ sĩ, trí thức, nhà nghiên cứu, người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và đặc biệt là các tài năng trẻ.
Trên nền tảng công nghệ số, cùng với tinh thần đổi mới sáng tạo, khát vọng cống hiến và nhu cầu khẳng định bản sắc, phong cách cá nhân, các chủ thể sáng tạo ngày càng phát huy hiệu quả sự hỗ trợ của công nghệ và công cụ số để tạo ra nhiều sản phẩm, xuất bản phẩm văn hóa có chất lượng, đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức và phương thức truyền tải, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng đa dạng của công chúng.
Tận dụng ưu thế của khoa học công nghệ và nền tảng số, các quốc gia đã xây dựng các chiến lược truyền thông, quảng bá hình ảnh đất nước, con người bằng sức mạnh mềm văn hóa. Việc quảng bá sức mạnh mềm quốc gia qua các nền tảng số là con đường hiệu quả nhất để lan tỏa và tạo sức hấp dẫn đối với các quốc gia khác, từ đó thiết lập các quan hệ về kinh tế, thương mại, dịch vụ, du lịch, giáo dục đào tạo, kiến tạo hình ảnh, vị thế và sức ảnh hưởng của quốc gia trên trường quốc tế.
Việt Nam hòa mạng internet năm 1997, sau gần 30 năm, tốc độ phát triển internet ở Việt Nam được đánh giá là nhanh nhất trong khu vực và thế giới với cơ sở hạ tầng viễn thông được đầu tư đồng bộ, hiện đại, đạt chuẩn quốc tế. Việt Nam trở thành nhà cung ứng dịch vụ internet, truyền thông cho nhiều quốc gia trong khu vực và châu lục. Số người Việt Nam tham gia internet và các nền tảng trực tuyến không ngừng gia tăng, ngày càng trẻ hóa với số giờ tương tác trên không gian mạng là rất lớn. Theo báo cáo Digital 2026, đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng internet, tương đương 84,2% dân số; số định danh người dùng mạng xã hội đạt khoảng
79 triệu người.
Thời gian qua, bằng nhiều chính sách phát triển hạ tầng không gian số; đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ, phát triển văn hóa Việt Nam, đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhiều hoạt động sáng tạo, thực hành, trao truyền và tiếp nhận văn hóa diễn ra sôi động trên các nền tảng số, mang lại những trải nghiệm thú vị, hấp dẫn cho công chúng, người dùng... qua đó quảng bá, lan tỏa vẻ đẹp đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè, du khách quốc tế. Tuy nhiên, năng lực sáng tạo, số lượng và sức hấp dẫn, lan tỏa của các sản phẩm văn hóa mang thương hiệu “Made in Việt Nam” vẫn chưa theo kịp so với sự phát triển của các nền tảng số và các sản phẩm văn hóa đến từ bên ngoài. Đề cập đến khoảng trống này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ: Sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số.
Trước đó, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (ngày 25/2/2026), đề cập đến một trong những thách thức lớn đối với nền văn hóa dân tộc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng đó là: nguy cơ xói mòn hệ giá trị, lệch chuẩn hành vi, thực dụng hóa, bạo lực ngôn từ, tin giả, tin thất thiệt và sự tấn công của những yếu tố độc hại trong không gian mạng. Nếu không kịp thời chấn hưng văn hóa, chúng ta có thể tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn nhưng sẽ thiếu điểm tựa dài hạn. Con người có thể giàu lên nhưng nghèo đi về chuẩn mực, về lòng tự trọng, về trách nhiệm công dân và về khát vọng cống hiến.
Đặc biệt, trong kỷ nguyên số, môi trường văn hóa mở rộng sang không gian mạng, nơi thông tin lan truyền nhanh, cảm xúc bị kích động dễ dàng và độc hại có thể "đầu độc", tạo mơ hồ trong nhận thức nếu thiếu sức đề kháng. Vì vậy, cần nâng cao năng lực"miễn dịch xã hội" trước tin giả, thông tin xấu độc và xây dựng văn hóa tranh luận văn minh, văn hóa ứng xử có trách nhiệm. Kiên quyết bài trừ bạo lực ngôn từ, xúc phạm nhân phẩm, gieo rắc hằn thù, chia rẽ và suy đồi.
Sự thiếu hụt của các sản phẩm văn hóa với các giá trị nhân văn, nhân bản là một khoảng trống lớn rất dễ bị các sản phẩm văn hóa ngoại lai cạnh tranh, lấn át, chiếm lĩnh thị trường, chi phối thị hiếu và dẫn dắt hành vi, định hướng dư luận. Cũng theo nhận định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Khi không gian số ngày càng định hình nhận thức, thị hiếu và lối sống xã hội, khoảng trống này đặt ra thách thức đối với năng lực chuyển hóa vốn văn hóa dân tộc thành sức mạnh mềm và quyền dẫn dắt giá trị. Nếu không sớm khắc phục, các giá trị ngoại sinh sẽ ngày càng chiếm ưu thế, làm suy giảm sức hấp dẫn của văn hóa dân tộc và đặt ra thách thức mới đối với việc gìn giữ bản sắc, củng cố niềm tin và truyền thừa hệ giá trị Việt Nam.
Sự thiếu vắng của các sản phẩm văn hóa có chất lượng trên môi trường số có nhiều nguyên nhân. Về khách quan, đó là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số xuyên biên giới với khối lượng sản phẩm văn hóa đồ sộ của thế giới không ngừng được đưa lên không gian mạng. Về mặt chủ quan, hiện nay, cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo trên nền tảng số của Việt Nam còn thiếu; vấn đề quản lý hoạt động sáng tạo, tiếp nhận văn hóa trên không gian mạng còn nhiều lỗ hổng về pháp lý; vấn đề xâm phạm, vi phạm bản quyền, sở hữu trí tuệ vẫn diễn ra; nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ năng công nghệ còn mỏng; quá trình dịch chuyển tư duy quản lý văn hóa truyền thống sang quản lý văn hóa trên môi trường số còn chậm; sự kết nối giữa các chủ thể: nhà quản lý – người sáng tạo nội dung số - người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật – cộng đồng doanh nghiệp – đơn vị cung cấp dịch vụ truyền thông, công nghệ số chưa chặt chẽ, thiếu cơ chế phối kết hợp, dẫn đến việc xây dựng hệ sinh thái văn hóa trên môi trường số còn khuyết thiếu với nhiều khoảng trống lớn cần được lấp đầy bằng các sản phẩm văn hóa mới, chứa đựng những giá trị nhân văn, nhân bản.
Định vị chủ quyền văn hóa trên không gian số
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội hay quốc phòng, an ninh mà ngày càng mở rộng sang lĩnh vực văn hóa. Nhiều quốc gia đã và đang chủ động triển khai các chiến lược phát huy sức mạnh mềm văn hóa thông qua các nền tảng và không gian số nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, lan tỏa các giá trị văn hóa đặc trưng, khẳng định bản sắc, chủ quyền văn hóa và nâng cao vị thế, tầm ảnh hưởng quốc gia trong môi trường số.
Với khả năng kết nối toàn cầu, tốc độ lan truyền nhanh và phạm vi tiếp cận rộng lớn, các nền tảng số đã trở thành kênh quan trọng để phổ biến các sản phẩm văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, truyền hình, trò chơi điện tử và nhiều loại hình nội dung số khác. Những sản phẩm này không chỉ nhanh chóng mở rộng thị trường và gia tăng sức ảnh hưởng mà còn góp phần định hình thị hiếu, lối sống, xu hướng tiêu dùng văn hóa và hệ giá trị của công chúng. Qua đó, các quốc gia từng bước gia tăng ảnh hưởng văn hóa, mở rộng không gian hiện diện của bản sắc dân tộc và nâng cao năng lực cạnh tranh bằng sức mạnh mềm trong kỷ nguyên số.
Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng số với những sản phẩm văn hóa đa dạng đã trở thành thị trường tiềm năng, thu về ngân sách lớn cho các quốc gia xuất khẩu văn hóa và sản phẩm công nghệ, truyền thông.
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Để đạt được mục tiêu đó, cần phải gia tăng và phát huy mọi nguồn lực, trong đó có nguồn lực văn hóa. Dự báo kịch bản, xu thế phát triển của thế giới và của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh phát triển của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề ra nhiệm vụ phải “đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số nâng cao sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa Việt Nam”.
Chủ quyền văn hóa là quyền tự chủ của một quốc gia trong việc sáng tạo, gìn giữ, phát huy và bảo vệ hệ giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc và các biểu tượng văn hóa đặc trưng; đồng thời thông qua các giá trị và sản phẩm văn hóa để định vị hình ảnh, thương hiệu quốc gia, khẳng định phẩm chất, cốt cách và bản lĩnh của con người Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế. Việc thực thi chủ quyền văn hóa không tạo ra sự khép kín hay biệt lập mà được đặt trên nền tảng tôn trọng sự đa dạng văn hóa, bình đẳng giữa các dân tộc, tăng cường giao lưu, tiếp biến có chọn lọc và hợp tác cùng phát triển.
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam đã bền bỉ lao động, sáng tạo, kiên cường đấu tranh và sẵn sàng hy sinh để bồi đắp, hình thành lên hệ giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, đồng thời bảo vệ bản sắc ấy trước các âm mưu xâm lược, đồng hóa và áp đặt văn hóa từ bên ngoài. Chính những giá trị bền vững như lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử và lối sống giản dị đã trở thành nền tảng tinh thần, nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Phát huy truyền thống cha anh, thế hệ trẻ ngày nay cần nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo, khát vọng cống hiến, làm chủ không gian mạng, sáng tạo ra nhiều tác phẩm, chứa đựng những giá trị nhân văn, nhân bản, truyền cảm hứng tích cực trong cộng đồng. Các sản phẩm sáng tạo trên môi trường số cần kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn với phát triển; giữa bản sắc văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại.
Để đạt được mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam xây dựng được môi trường văn hóa số lành mạnh, trong đó các giá trị văn hóa Việt Nam có vị trí tương xứng, có sức hấp dẫn, sức cạnh tranh và khả năng lan tỏa mạnh mẽ, như định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có những giải pháp cơ bản như:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc hiện nay, đó là định vị và xác lập chủ quyền văn hóa trên không gian số. Không gian số không chỉ là nơi đưa các giá trị văn hóa lên môi trường mới, mà phải trở thành không gian để văn hóa Việt Nam hiện diện, được nhận biết, được yêu thích, được lan tỏa và có khả năng tham gia định hướng giá trị xã hội.
Để xây dựng chủ quyền văn hóa số, công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về những giá trị, đặc trưng của văn hóa Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng. Cần đa dạng, đổi mới phương thức truyền thông trên các nền tảng số, đưa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đến gần hơn với Nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Thứ hai, các bộ, ngành cần tiếp tục hoàn thể thể chế, hình thành hệ sinh thái văn hóa số lành mạnh, nhân văn, hiện đại. Xây dựng và triển khai Chương trình phát triển không gian văn hóa số quốc gia; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các nền tảng, kênh truyền thông và hệ sinh thái nội dung văn hóa số mang bản sắc Việt Nam. Có cơ chế huy động sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng sáng tạo trong việc sản xuất, phổ biến các sản phẩm văn hóa có chất lượng, có sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh trong môi trường số. Có cơ chế phát triển, đặt hàng, đầu tư có trọng điểm đối với các tác phẩm, sản phẩm văn hóa có chất lượng nghệ thuật cao, có khả năng tiếp cận công chúng lớn, có giá trị giáo dục, có khả năng cạnh tranh và lan tỏa quốc tế, bởi các sản phẩm văn hóa như điện ảnh, văn học, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, thiết kế, xuất bản, trò chơi điện tử, hoạt hình và các sản phẩm nội dung số không chỉ là hoạt động văn hóa mà còn là những phương tiện quan trọng để kể câu chuyện Việt Nam với thế giới.
Thứ ba, xây dựng, hoàn thiện bộ chỉ số đánh giá hiệu quả và tác động của các sản phẩm văn hóa trên môi trường số. Xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số không chỉ dừng lại ở số lượng các sản phẩm văn hóa được đưa lên môi trường số mà phải đo lường được mức độ nhận diện, sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa Việt Nam và sự chuyển biến trong nhận thức, tình cảm, hành vi văn hóa của người dân, nhất là thế hệ trẻ.
Thứ tư, quan tâm đầu tư xây dựng và hiện đại hóa hạ tầng văn hóa số, hình thành cơ sở dữ liệu về văn hóa, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, nền tảng số dùng chung trong lĩnh vực văn hóa với sự tham gia của nhiều chủ thể, nhất là cộng đồng doanh nghiệp văn hóa ở trong và ngoài nước. Phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến của mỗi người dân Việt Nam trong việc tạo ra những tác phẩm, những giá trị mới; đồng thời tiếp nhận có chọn lọc đối với các xuất bản phẩm đến từ bên ngoài; nhận diện, đấu tranh và đẩy lùi những xuất bản phẩm kém giá trị, những hành vi lợi dụng xuất bản và môi trường số để xuyên tạc lịch sử, đi ngược lại truyền thống, xâm phạm lợi ích quốc gia. Xây dựng môi trường số trong sạch, lành mạnh, nhân văn, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số là yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển văn hóa và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là quá trình gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mà còn là quá trình nâng cao năng lực sáng tạo, sức cạnh tranh và khả năng lan tỏa các giá trị Việt Nam trên môi trường số. Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, việc xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số cần được triển khai đồng bộ bằng tư duy đổi mới, thể chế phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái văn hóa số hiện đại. Chỉ khi văn hóa Việt Nam hiện diện mạnh mẽ bằng những sản phẩm có giá trị, có sức hấp dẫn và sức lan tỏa rộng lớn, chủ quyền văn hóa mới thực sự được khẳng định, góp phần phát huy sức mạnh mềm quốc gia, củng cố nền tảng tinh thần của xã hội và tạo động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số.
TS NGUYỄN HUY PHÒNG
Hội đồng Lý luận Trung ương
Nguồn: Tạp chí VHNT số 652, tháng 8/2026