Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển du lịch văn hóa và hội nhập quốc tế, văn hóa tộc người ngày càng trở thành nguồn tài nguyên quan trọng trong xây dựng các sản phẩm du lịch tại Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa văn hóa thành sản phẩm du lịch cũng đặt ra nhiều vấn đề như thương mại hóa văn hóa, sân khấu hóa các thực hành truyền thống và nguy cơ suy giảm tính nguyên gốc của di sản. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về văn hóa tộc người trong du lịch, vẫn còn thiếu những phân tích về cách thức văn hóa được lựa chọn, tái hiện và tái cấu trúc trong không gian du lịch dưới góc nhìn biểu đạt văn hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, biểu đạt văn hóa tộc người trong du lịch không chỉ là quá trình giới thiệu di sản mà còn là quá trình lựa chọn, tái hiện và gìn giữ bản sắc dưới tác động của thị trường du lịch và toàn cầu hóa. Đồng thời, cộng đồng địa phương không chỉ là đối tượng bị khai thác mà còn là chủ thể tham gia tái kiến tạo và chuyển giao bản sắc văn hóa trong bối cảnh hiện đại. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người theo hướng bền vững.
Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích việc tiếp cận văn hóa Halal trong chiến lược đa dạng hóa thị trường khách du lịch tại Phú Quốc, qua đó làm rõ vai trò của sự thích ứng văn hóa điểm đến trong thu hút khách Hồi giáo. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố gắn với văn hóa Halal, gồm nhân sự am hiểu văn hóa Hồi giáo, cơ sở lưu trú, ẩm thực Halal và thông tin cho du khách, có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng, ý định quay lại và xu hướng giới thiệu điểm đến. Phú Quốc được đánh giá là điểm đến thân thiện Halal, tuy nhiên vẫn còn hạn chế về cơ sở cầu nguyện, thông tin và tính đồng bộ dịch vụ. Nghiên cứu đóng góp học thuật thông qua việc làm rõ mối liên hệ giữa tiếp cận văn hóa Halal, trải nghiệm du khách và đa dạng hóa thị trường quốc tế, đồng thời đề xuất hàm ý chính sách và quản trị nhằm phát triển điểm đến theo hướng bao trùm, nhạy cảm văn hóa và bền vững.
Tóm tắt: Sự ủng hộ của cư dân địa phương được xem là điều kiện quan trọng đối với phát triển du lịch cộng đồng. Lý thuyết trao đổi xã hội (SET) là nền tảng lý thuyết phổ biến để giải thích thái độ của cư dân dựa trên đánh giá lợi ích và chi phí cảm nhận từ phát triển du lịch. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chủ yếu nhấn mạnh tính duy lý cá nhân và chưa phản ánh đầy đủ vai trò của bối cảnh xã hội và thể chế trong quá trình hình thành sự ủng hộ của cộng đồng địa phương. Trên cơ sở tổng quan lý thuyết, bài viết phân tích những hạn chế của SET, đồng thời đề xuất một khung nghiên cứu tích hợp giữa SET, các tiếp cận về tính hợp lý tập thể và lý thuyết các bên liên quan. Nghiên cứu đề xuất vai trò của mức độ trao quyền cộng đồng như một điều kiện thể chế phản ánh khả năng cư dân tham gia và ảnh hưởng trong quá trình ra quyết định phát triển du lịch. Theo đó, sự ủng hộ của cư dân được xem là kết quả của tương tác giữa đánh giá cá nhân, quan hệ xã hội và điều kiện thể chế. Nghiên cứu góp phần mở rộng SET theo hướng xã hội - thể chế và gợi mở định hướng cho các nghiên cứu thực nghiệm về phát triển du lịch cộng đồng.
Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình tái cấu trúc nghề gốm truyền thống tại làng Bàu Trúc trong bối cảnh phát triển du lịch. Dựa trên khảo sát thực địa, kết hợp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu và tư liệu thứ cấp, cùng với tiếp cận lý thuyết về tái cấu trúc văn hóa, nghiên cứu cho thấy dưới tác động của thị trường du lịch, thực hành nghề gốm đang có những chuyển biến đáng kể. Quá trình này thể hiện ở ba phương diện chính: gia tăng quy mô và mức độ tham gia của các hộ dân; mở rộng tổ chức sản xuất theo hướng đa dạng và hình thành các liên kết chuỗi giá trị; cùng với sự tái định vị danh mục sản phẩm từ gốm gia dụng sang gốm mỹ nghệ. Bên cạnh đó, những điều chỉnh về kỹ thuật sản xuất, phân công lao động, phương thức tiêu thụ và cách thức trình hiện nghề gốm như một sản phẩm du lịch cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt của cộng đồng, trong khi các yếu tố cốt lõi như kỹ thuật thủ công, tri thức bản địa và ý nghĩa văn hóa vẫn được duy trì. Từ đó, bài viết góp phần làm rõ cơ chế vận hành của quá trình tái cấu trúc các thực hành sản xuất, đồng thời gợi mở cách tiếp cận phân tích thực hành nghề từ góc nhìn chủ thể tự quyết trong bối cảnh du lịch.
Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích liên kết trong phát triển du lịch văn hóa gắn với Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ từ góc nhìn quản trị điểm đến dựa trên di sản. Trên cơ sở thiết kế nghiên cứu trường hợp định tính, bài viết khai thác công trình khoa học, hồ sơ UNESCO, văn bản chính sách và báo cáo chuyên ngành được cập nhật đến tháng 7/2025. Dữ liệu được xử lý bằng phân tích nội dung theo sáu chiều: quản lý và hoạch định chính sách, tổ chức không gian du lịch, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá, đào tạo nguồn nhân lực, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Kết quả cho thấy liên kết trong bảo tồn di sản, tổ chức lễ hội và huy động cộng đồng đã hình thành tương đối rõ, song liên kết chức năng phục vụ vận hành sản phẩm du lịch còn thiếu ổn định. Các không gian văn hóa vệ tinh chưa được tích hợp thành hệ sản phẩm thường xuyên; quảng bá còn phụ thuộc nhiều vào sự kiện; cơ chế cộng đồng tham gia thiết kế, cung ứng và phân phối lợi ích chưa được thể hiện rõ. Nghiên cứu chỉ ra khoảng cách giữa mạng lưới bảo tồn di sản và mạng lưới tạo giá trị du lịch, từ đó đề xuất chuyển từ phối hợp theo sự kiện sang quản trị điểm đến thường trực và phát triển sản phẩm theo cấu trúc trung tâm - vệ tinh.
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của văn hóa ứng xử trong du lịch bền vững, nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhận thức, giá trị văn hóa và hành vi của du khách. Trên cơ sở tổng hợp lý luận từ các công trình nghiên cứu quốc tế, bài viết làm rõ cách các chuẩn mực văn hóa, bối cảnh xã hội và điều kiện điểm đến định hình hành vi du lịch bền vững, đồng thời chỉ ra khoảng cách phổ biến giữa hiểu biết và hành động. Từ đó, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp gồm truyền thông giá trị văn hóa - xã hội, thiết lập chuẩn mực ứng xử, phát huy vai trò cộng đồng và hướng dẫn viên, ứng dụng thiết kế hành vi và tăng cường giáo dục du lịch có trách nhiệm. Những phân tích này góp phần định hướng xây dựng văn hóa ứng xử bền vững trong bối cảnh phát triển du lịch hiện đại.
Tóm tắt: Bài viết phân tích xu hướng nhu cầu và xu hướng hành vi của khách du lịch nội địa tại Việt Nam hiện nay. Thông qua mô hình nghiên cứu kết hợp giữa điều tra xã hội học khách du lịch và phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia du lịch, kết quả cho thấy xu hướng tự chủ chuyến đi, sự phát triển của loại hình du lịch trải nghiệm, du lịch xanh và sự tương đồng cao giữa kỳ vọng của du khách với đánh giá của chuyên gia về các rào cản đang hạn chế sự phát triển du lịch nội địa như hạ tầng, chất lượng dịch vụ, quản lý điểm đến. Bài viết đề xuất các khuyến nghị chính sách thúc đẩy sự phát triển bền vững của du lịch nội địa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Tóm tắt: Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo phát triển mạnh, các ngành công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh quốc gia và thúc đẩy du lịch. Bài viết nghiên cứu sức hút của các sản phẩm công nghiệp văn hóa đối với quyết định đi du lịch của giới trẻ tại Hà Nội - nhóm khách du lịch năng động, nhạy bén với xu hướng văn hóa và truyền thông số. Trên cơ sở tổng hợp lý thuyết hành vi tiêu dùng du lịch và khảo sát 200 người trẻ (18-30 tuổi) tại Hà Nội, kết quả cho thấy 83% người được hỏi bị ảnh hưởng bởi ít nhất một sản phẩm công nghiệp văn hóa (phim ảnh, âm nhạc, lễ hội, không gian sáng tạo…) trong việc hình thành ý định du lịch. Nghiên cứu góp phần làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp văn hóa và hành vi du lịch, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa sáng tạo trong phát triển sản phẩm du lịch hướng đến giới trẻ.
Tóm tắt: Nghiên cứu tích hợp Thuyết xác nhận kỳ vọng (ECT), mô hình Kano và S-O-R nhằm khắc phục giới hạn của thang đo tuyến tính trong việc giải mã thế giới nội tâm của khách du lịch nội địa đối với dịch vụ mặt đất. Phân tích nội dung định hướng (DQCA) và Kỹ thuật sự cố tới hạn (CIT) được áp dụng qua phỏng vấn sâu tại Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất nhằm bóc tách kỳ vọng của khách công tác kết hợp nghỉ dưỡng, khách có nhu cầu đặc biệt và tự túc. Thực chứng chỉ ra tính bất đối xứng đứt gãy hạ tầng vi phạm nhóm yếu tố cơ bản, kiến tạo tương tác nhân văn tiêu cực và hào quang ngược đe dọa ý định quay lại điểm đến. Ngược lại, văn hóa ứng xử chủ động của các chủ thể thực hành văn hóa (nhân viên) và thẩm mỹ không gian chữa lành kiến tạo xác nhận tích cực, chuyển hóa lo âu thành sự thích thú tột độ, thúc đẩy truyền miệng điện tử (eWOM). Khám phá này tái khẳng định vai trò đại sứ thương hiệu của sân bay, đề xuất chiến lược quản trị bằng cảm xúc và bản địa hóa không gian.
Tóm tắt: Làng Lai Xá, xã Hoài Đức, thành phố Hà Nội, nằm bên Quốc lộ 32, cách trung tâm thành phố khoảng 15km về phía Tây. Lai Xá là vùng đất cổ được khai phá từ rất sớm, còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống độc đáo của dân tộc. Đây cũng là làng nghề nhiếp ảnh đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam. Nhiều nghệ nhân của làng đã tới mọi miền của tổ quốc, mở hiệu ảnh từ những năm 1920. Nội dung bài viết tập trung phân tích những tiềm năng của làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá, thực trạng phát triển du lịch hiện tại, từ đó, đề xuất các giải pháp để phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề nhiếp ảnh nơi đây.
Tóm tắt: Du lịch xanh đã và đang là xu hướng, yêu cầu phát triển tất yếu ở các địa phương, điểm đến du lịch. Là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, du lịch muốn phát triển bền vững đòi hỏi phải được định hướng phát triển phù hợp trên cơ sở sử dụng các lý thuyết khoa học đúng đắn. Một trong những lý thuyết khoa học căn bản sử dụng trong công tác quản trị điểm đến du lịch để phát triển du lịch xanh là “Lý thuyết ba phải”. Nội dung lý thuyết đặt ra những yêu cầu cụ thể trong quá trình quản trị điểm đến du lịch, phải: bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và phát triển khoa học công nghệ hiện đại.