Có những thời điểm, một nghị quyết không chỉ giải quyết câu chuyện của một ngành mà còn cho thấy sự thay đổi trong tư duy phát triển của cả nền kinh tế. Tôi cho rằng, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới là một văn kiện như vậy.

Sau gần mười năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2017, du lịch Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Hệ thống sản phẩm ngày càng đa dạng, hạ tầng và cơ sở vật chất được cải thiện, doanh nghiệp tư nhân tham gia mạnh mẽ hơn, thị trường quốc tế mở rộng, chuyển đổi số bắt đầu làm thay đổi cách du khách tìm kiếm thông tin, đặt dịch vụ và trải nghiệm điểm đến. Du lịch ngày càng thể hiện rõ vai trò trong tăng trưởng, tạo việc làm, thúc đẩy tiêu dùng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quảng bá hình ảnh đất nước và kết nối Việt Nam với thế giới.

Di san Trang An.jpg
Tràng An (Ninh Bình)- điểm đến hấp dẫn du khách - Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

Tuy vậy, những giới hạn của mô hình phát triển theo chiều rộng cũng ngày càng rõ: sản phẩm ở nhiều nơi còn trùng lặp, mức chi tiêu và thời gian lưu trú chưa tương xứng, liên kết vùng chưa chặt chẽ, chất lượng dịch vụ thiếu đồng đều, năng lực quản trị điểm đến, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và khả năng tạo giá trị từ di sản còn hạn chế. Chính những điểm nghẽn ấy cho thấy du lịch không thể tiếp tục được nhìn như câu chuyện của riêng một ngành, mà phải được đặt trong mối quan hệ với văn hóa, giao thông, thương mại, công nghệ, môi trường, ngoại giao và đời sống cộng đồng.

Điều có ý nghĩa nhất của Nghị quyết 26 -NQ/TW vì vậy không chỉ nằm ở những con số rất tham vọng. Quan trọng hơn là Nghị quyết đã đặt lại câu hỏi căn bản: Việt Nam muốn phát triển du lịch theo mô hình nào trong kỷ nguyên mới? Câu trả lời khá rõ: phát triển theo chiều sâu, chất lượng, thông minh, xanh và sáng tạo; lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi; lấy bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh; gắn du lịch với công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, kinh tế số, kinh tế đêm; quản trị bằng dữ liệu; huy động doanh nghiệp và cộng đồng; đồng thời biến du lịch thành một nguồn lực nâng cao vị thế và sức mạnh mềm quốc gia. Trong cạnh tranh du lịch toàn cầu hiện nay, tài nguyên đẹp là chưa đủ, di sản nhiều cũng chưa đủ. Điều quyết định là khả năng biến tài nguyên thành trải nghiệm, trải nghiệm thành giá trị kinh tế, giá trị kinh tế thành sinh kế bền vững, và mỗi hành trình của du khách thành một cơ hội để kể câu chuyện về Việt Nam.

1. Từ “đếm khách” đến “đếm giá trị”: thay đổi căn bản mô hình tăng trưởng

Nghị quyết 26-NQ/TW  đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp từ 10 đến 12% GDP, đón 45 đến 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 80 đến 90 tỷ USD. Đến năm 2045, du lịch được định hướng đóng góp trực tiếp từ 14 đến 15% GDP, Việt Nam thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới và phấn đấu đón 70 triệu lượt khách quốc tế. Đây là những mục tiêu rất cao. Nhưng nếu chỉ nhìn vào số lượng khách, chúng ta sẽ chưa thấy hết tinh thần của Nghị quyết, bởi trọng tâm đã được đặt vào phân khúc khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, vào giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và chất lượng điểm đến.

Tôi đặc biệt chú ý tới yêu cầu chuyển mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng. Đây là điều đã được nói tới nhiều năm, nhưng lần này được đặt vào trung tâm của một nghị quyết chiến lược. Một điểm đến không thể phát triển bền vững nếu thành công chỉ được đo bằng lượng người đến. Đông khách nhưng chi tiêu thấp, lưu trú ngắn, gây sức ép lớn lên hạ tầng và môi trường chưa chắc đã là thành công. Một địa phương có thể đón hàng triệu lượt khách, nhưng nếu người dân tại chỗ không tăng thu nhập, doanh nghiệp địa phương không tham gia sâu vào chuỗi giá trị, cảnh quan bị quá tải và du khách không muốn quay lại thì sự tăng trưởng đó khó có thể gọi là bền vững.

Vì thế, tư duy mới phải bắt đầu bằng việc thay đổi hệ tiêu chí đánh giá. Chúng ta vẫn cần biết bao nhiêu khách đã đến, nhưng phải quan tâm nhiều hơn đến thời gian lưu trú, mức chi tiêu, tỷ lệ sử dụng hàng hóa và dịch vụ địa phương, mức độ hài lòng, tỷ lệ quay trở lại, sức chứa môi trường và phần lợi ích ở lại với cộng đồng. Nghị quyết đã đi theo hướng đó khi yêu cầu quản trị dựa trên các tiêu chí về tổng thu, mức chi tiêu, thời gian lưu trú, chất lượng điểm đến, an toàn, môi trường, chuyển đổi số và sự hài lòng của du khách. Đây không đơn thuần là kỹ thuật thống kê. Nó sẽ làm thay đổi cách địa phương đặt mục tiêu, cách doanh nghiệp xây dựng sản phẩm và cách Nhà nước phân bổ nguồn lực.

Một điểm mới rất quan trọng khác là tư duy phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp. Giá trị du lịch không nằm riêng ở khách sạn hay lữ hành. Một du khách đến Việt Nam có thể tạo doanh thu cho hàng không, đường sắt, vận tải đô thị, bán lẻ, nhà hàng, biểu diễn nghệ thuật, bảo tàng, nông sản, thủ công mỹ nghệ, chăm sóc sức khỏe, thể thao, công nghệ và truyền thông. Nếu chuỗi cung ứng trong nước được tổ chức tốt, mỗi đồng chi tiêu của khách có thể tạo thêm nhiều vòng giá trị trong nền kinh tế. Nếu phần lớn dịch vụ phụ thuộc vào các nền tảng, thương hiệu và chuỗi cung ứng bên ngoài thì một phần đáng kể giá trị sẽ chảy ra khỏi nền kinh tế.

Bởi vậy, “ngành kinh tế mũi nhọn” không nên được hiểu chỉ đơn giản là một ngành có tỷ lệ GDP thật cao. Mũi nhọn phải là một lĩnh vực có khả năng kéo các ngành khác cùng đi lên. Du lịch có thể mở thị trường cho nông sản, phục hồi làng nghề, tạo nhu cầu cho nghệ thuật biểu diễn, thúc đẩy kinh tế đêm, nâng cấp hạ tầng và tạo việc làm tại chỗ. Một vùng núi có thể không có nhà máy lớn, nhưng nếu biết tổ chức du lịch cộng đồng, sinh thái, nông nghiệp, ẩm thực và văn hóa bản địa một cách chuyên nghiệp, người dân có thể có sinh kế ngay trên quê hương mình. Đó là sức lan tỏa mà một ngành kinh tế mũi nhọn cần tạo ra.

Theo tôi, thông điệp quan trọng nhất ở đây là: Việt Nam không chỉ cần thêm khách mà cần tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi hành trình. Đó là giá trị kinh tế, nhưng đồng thời là giá trị văn hóa, xã hội, môi trường và thương hiệu quốc gia. Khi một điểm đến tạo được nhiều giá trị hơn mà vẫn giữ được tài nguyên cho thế hệ sau, đồng thời giúp người dân sống tốt hơn, khi ấy du lịch mới thực sự trở thành động lực phát triển bền vững.

2. Lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi: từ tài nguyên di sản đến sức mạnh mềm quốc gia

Nếu phải chọn một điểm làm tôi ấn tượng nhất trong Nghị quyết 26-NQ/TW , tôi sẽ chọn quan điểm lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, lấy bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh. Điều này đặt văn hóa vào đúng vị trí trong hệ sinh thái du lịch. Văn hóa không phải phần trang trí cho một sản phẩm, càng không phải kho tài nguyên để khai thác càng nhiều càng tốt. Văn hóa là thứ tạo ra linh hồn, sự khác biệt và khả năng ghi nhớ của một điểm đến.

Trong một thế giới mà khách sạn cao cấp, trung tâm mua sắm hay khu vui chơi có thể được xây dựng theo những mô hình khá giống nhau, thứ khó sao chép nhất là bản sắc. Du khách có thể tìm thấy một khu nghỉ dưỡng đẹp ở nhiều quốc gia, nhưng họ chỉ có thể cảm nhận một Hà Nội với lớp trầm tích nghìn năm, một Huế với không gian cung đình và nhã nhạc, một Hội An với ký ức thương cảng, một Tây Bắc với văn hóa các cộng đồng tộc người, một Tây Nguyên với không gian cồng chiêng, một Nam Bộ với văn hóa sông nước khi đến Việt Nam. Chính những khác biệt ấy tạo ra lý do để người ta lựa chọn chúng ta thay vì một điểm đến khác.

Nghị quyết không dừng ở việc nói chung về văn hóa mà gắn du lịch văn hóa với các lĩnh vực công nghiệp văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, giải trí, thời trang, công nghệ số, sáng tạo, kinh tế di sản, kinh tế đêm; đồng thời hướng tới các sản phẩm biểu tượng quốc gia và chuỗi giá trị văn hóa - du lịch có khả năng cạnh tranh quốc tế. Đây là một hướng đi chiến lược. Nhiều quốc gia thành công không chỉ bán cảnh quan mà bán cả câu chuyện, lối sống, âm nhạc, ẩm thực, điện ảnh và trí tưởng tượng. Một bộ phim có thể tạo ra làn sóng du lịch đến địa điểm quay; một lễ hội âm nhạc có thể kéo hàng chục nghìn khách; một bảo tàng được tổ chức tốt có thể trở thành biểu tượng đô thị; một món ăn có thể là lý do khiến du khách quay trở lại.

Ở đây, công nghiệp văn hóa đóng vai trò như một cơ chế gia tăng giá trị cho tài nguyên du lịch. Một di sản nếu chỉ bán vé thì giá trị kinh tế bị giới hạn. Khi di sản được kết nối với thiết kế, nghệ thuật, phim ảnh, âm nhạc, sản phẩm lưu niệm, nội dung số và giáo dục, nó tạo ra nhiều lớp giá trị mới mà không nhất thiết phải tăng số người tới cùng lúc. Đó là cách vừa bảo tồn, vừa phát huy, vừa nâng sức cạnh tranh. Điều kiện tiên quyết là tôn trọng tính xác thực, tôn trọng cộng đồng và tránh thương mại hóa một cách thô thiển những giá trị thiêng liêng.

Tôi đặc biệt đồng tình với tinh thần coi người dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng. Du lịch văn hóa không thể bền vững nếu cộng đồng địa phương chỉ đứng ngoài nhìn người khác khai thác những giá trị mà họ đã gìn giữ qua nhiều thế hệ. Người dân phải được tham gia từ khâu hình thành ý tưởng, tổ chức sản phẩm, cung ứng dịch vụ đến chia sẻ lợi ích. Khi họ thấy việc giữ một ngôi nhà cổ, một làn điệu dân ca, một nghề thủ công hay một lễ hội giúp cuộc sống tốt hơn, động lực bảo tồn sẽ mạnh hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu chỉ thấy khách đông, giá đất tăng, môi trường chịu áp lực mà lợi ích không đến với mình, xung đột giữa bảo tồn và phát triển sẽ ngày càng rõ.

Nghị quyết 26 -NQ/TW còn mở rộng tầm nhìn khi gắn du lịch với quảng bá hình ảnh quốc gia và sức mạnh mềm. Hàng chục triệu du khách quốc tế đến Việt Nam mỗi năm không chỉ là người mua dịch vụ; họ còn mang theo trải nghiệm và câu chuyện về Việt Nam khi trở về. Nếu được đón tiếp trong một môi trường an toàn, văn minh, thân thiện; nếu được trải nghiệm sản phẩm có bản sắc, dịch vụ chuyên nghiệp và sự tử tế của con người Việt Nam, mỗi du khách có thể trở thành một kênh truyền thông tự nhiên cho đất nước.

Tôi tin rằng lợi thế lớn nhất của du lịch Việt Nam trong giai đoạn tới không nằm ở việc cố gắng giống những điểm đến nổi tiếng khác, mà ở khả năng trở thành chính mình một cách hấp dẫn hơn. Khi văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm, khi mỗi sản phẩm có một câu chuyện, mỗi điểm đến có một cá tính, mỗi cộng đồng được tôn trọng và mỗi du khách cảm thấy mình đã chạm được vào một phần chân thực của Việt Nam, lúc đó bản sắc mới thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh và du lịch mới trở thành một nguồn sức mạnh mềm bền vững.

3. Từ nghị quyết đến hành động: thể chế phải mở đường, quản trị phải đổi mới, người dân phải được hưởng lợi

Một nghị quyết chiến lược chỉ thực sự tạo ra thay đổi khi được chuyển hóa thành thể chế, chương trình hành động, dự án cụ thể và những kết quả có thể đo lường. Nghị quyết 26-NQ/TW  dành một phần rất quan trọng cho việc tháo gỡ các điểm nghẽn mà du lịch đã gặp trong nhiều năm: thể chế, hạ tầng, nguồn lực, liên kết, công nghệ, nhân lực và phương thức quản trị. Theo tôi, đây là phần quyết định sự thành công của Nghị quyết.

Trước hết là thể chế. Du lịch hiện đại phát triển nhanh hơn nhiều so với các khuôn khổ quản lý truyền thống. Kinh tế chia sẻ, nền tảng số xuyên biên giới, kinh tế đêm, du lịch chăm sóc sức khỏe, người làm việc từ xa, tổ hợp du lịch - văn hóa - thể thao - giải trí, du thuyền, các mô hình lưu trú mới và thanh toán xuyên biên giới đang tạo ra những không gian kinh doanh mà pháp luật nhiều khi chưa kịp điều chỉnh. Nếu Nhà nước chỉ quản lý cái đã có, chúng ta sẽ luôn đi sau thị trường. Tinh thần đáng chú ý của Nghị quyết là nghiên cứu cơ chế thí điểm có kiểm soát đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay, kể cả khi chưa có quy định hoặc cần áp dụng khác với quy định hiện hành, nhưng phải đi cùng kiểm tra, giám sát và hậu kiểm.

Với Quốc hội, nhiệm vụ thể chế hóa có ý nghĩa đặc biệt. Nghị quyết giao Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo việc rà soát, hoàn thiện pháp luật liên quan và tăng cường giám sát thực hiện. Điều đó cho thấy yêu cầu không chỉ là sửa một luật chuyên ngành. Du lịch liên quan tới đất đai, đầu tư, xây dựng, giao thông, hàng không, xuất nhập cảnh, thuế, thương mại, tài sản công, di sản văn hóa, môi trường, dữ liệu, lao động và nhiều lĩnh vực khác. Vì vậy, cần một cuộc rà soát có tính hệ thống để nhận diện những quy định đang làm tăng chi phí, kéo dài thủ tục hoặc khiến các mô hình mới không thể triển khai; đồng thời phải giám sát kết quả thực thi, tránh tình trạng chính sách đã có nhưng doanh nghiệp và địa phương vẫn vướng.

Thứ hai là hạ tầng. Một điểm đến dù đẹp đến đâu cũng khó cạnh tranh nếu tiếp cận bất tiện. Chất lượng du lịch bắt đầu từ lúc du khách tìm chuyến bay, làm thủ tục nhập cảnh, di chuyển từ sân bay, tiếp cận điểm tham quan, thanh toán, tìm thông tin và xử lý tình huống phát sinh. Vì vậy, việc Nghị quyết nhấn mạnh hạ tầng kết nối đa phương tiện, cao tốc, đường ven biển, cảng hàng không, cảng tàu du lịch, bến du thuyền, đường sắt du lịch, trung tâm hội nghị - triển lãm, thiết chế văn hóa và hạ tầng số là rất đúng hướng.

Thứ ba là công nghệ và dữ liệu. Nghị quyết đặt mục tiêu hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia và nền tảng số du lịch quốc gia; thúc đẩy bản đồ số, vé điện tử, trợ lý du lịch ảo đa ngôn ngữ, bảo tàng số, thuyết minh đa phương tiện, cảnh báo và hỗ trợ du khách; ứng dụng dữ liệu lớn, internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo. Nhưng công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa nếu làm thay đổi cách ra quyết định.

Cùng với số hóa là chuyển đổi xanh. Đây không còn là lựa chọn mang tính hình ảnh. Du lịch phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng môi trường, nên nếu môi trường không xanh, sạch thì chính ngành sẽ làm suy giảm nguồn lực của mình. Các tiêu chí về giảm rác thải nhựa, xử lý nước thải, sử dụng năng lượng sạch, giao thông xanh, vật liệu thân thiện, kinh tế tuần hoàn và kiểm soát sức tải môi trường cần được lượng hóa, đi cùng cơ chế khuyến khích cụ thể. Doanh nghiệp đầu tư dự án xanh phải nhìn thấy lợi ích về vốn, chính sách hoặc thương hiệu; những mô hình gây tổn hại môi trường phải chịu chi phí tương xứng.

Thứ tư là doanh nghiệp và nguồn nhân lực. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh quốc tế. Muốn bước ra thị trường toàn cầu, Việt Nam cần những doanh nghiệp đủ năng lực quản trị, tài chính, công nghệ, marketing và mạng lưới phân phối. Tuy nhiên, phần lớn sự đa dạng và sức sống của du lịch lại nằm ở doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cộng đồng địa phương. Chính sách phải tạo sân chơi công bằng, nơi doanh nghiệp lớn dẫn dắt các chuỗi giá trị mới nhưng không lấn át chủ thể nhỏ; ngược lại, doanh nghiệp nhỏ cần được hỗ trợ chuyển đổi số, nâng chuẩn chất lượng, tiếp cận vốn, đào tạo và thị trường. Nhân lực cũng phải được nâng chuẩn đồng thời về nghiệp vụ, ngoại ngữ, công nghệ, năng lực liên văn hóa và văn hóa phục vụ; bởi trong một ngành kinh tế của trải nghiệm, chất lượng cuối cùng vẫn được tạo ra bởi con người.

Cuối cùng, mọi thành tựu của du lịch phải được đo bằng cuộc sống của người dân. Nghị quyết xác định doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng. Đây không nên chỉ là một nguyên tắc đẹp trên giấy. Ở nơi du lịch phát triển, người dân phải có cơ hội kinh doanh, có việc làm tốt hơn, được đào tạo, được hưởng hạ tầng tốt hơn và có tiếng nói trong những quyết định liên quan đến không gian sống của họ. Nếu một dự án làm mất quyền tiếp cận bãi biển, gây áp lực lên nguồn nước, làm tổn hại di sản hoặc đẩy cộng đồng ra ngoài chuỗi giá trị, thì dù doanh thu lớn đến đâu vẫn cần đặt câu hỏi về chất lượng phát triển.

Để Nghị quyết 26-NQ/TW đi vào cuộc sống, theo tôi cần đặc biệt chú ý ba yêu cầu: nhanh, đồng bộ và đo lường được. Nhanh trong ban hành chương trình hành động, rà soát thể chế và triển khai các cơ chế thí điểm cần thiết. Đồng bộ trong phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, giữa hạ tầng cứng và hạ tầng số, giữa du lịch với văn hóa, giao thông, thương mại, môi trường và ngoại giao. Đo lường được bằng những chỉ số cụ thể về giá trị gia tăng, chất lượng trải nghiệm, mức độ hài lòng, thu nhập của người dân, sức khỏe môi trường và năng lực cạnh tranh quốc tế.

Nếu làm được điều đó, du lịch sẽ không chỉ là một ngành đóng góp 10 hay 15% GDP. Du lịch sẽ trở thành một cách để Việt Nam kể câu chuyện của mình với thế giới; để di sản bước vào đời sống đương đại; để văn hóa tạo ra giá trị kinh tế mà vẫn được gìn giữ; để người dân ở nhiều vùng đất có thêm cơ hội phát triển; và để hình ảnh Việt Nam lan tỏa bằng những trải nghiệm chân thực, sống động, đầy thiện cảm. Đó mới là ý nghĩa sâu xa của việc đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới: không chỉ đưa nhiều người đến Việt Nam hơn, mà làm cho mỗi người khi rời Việt Nam đều hiểu hơn, yêu hơn và muốn trở lại; không chỉ tạo thêm doanh thu, mà tạo thêm giá trị cho đất nước; không chỉ khai thác những gì đang có, mà kiến tạo những giá trị mới từ chính văn hóa, con người và trí tuệ Việt Nam.