
Làng Viêm Xá (xã Hòa Long, TP Bắc Ninh) nay là tổ dân phố Viêm Xá, phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh. Nằm trong trung tâm vùng Quan họ, làng Viêm Xá được coi là làng tối cổ bởi minh chứng qua những di tích lịch sử Đền Vua Bà, Đình làng Diềm, Chùa Viêm Xá và Đền Cùng - Giếng Ngọc đã tạo nên một quần thể kiến trúc và tín ngưỡng độc đáo, khẳng định bề dày của văn hóa lịch sử.
Viêm Xá với cái tên quen thuộc - cái nôi của Dân ca Quan họ, gắn liền với sự tích Đức Vua Bà - Thủy tổ Quan Họ. Trong số những truyền thuyết, huyền thoại được lưu truyền có hai mô típ được gìn giữ hơn cả. Một trong hai huyền thoại kể rằng, bà là Nhữ Nương từ nơi xa đến Viêm Xá, ngày ngày lao động vất vả nhưng luôn cất cao tiếng hát. Một hôm trong lúc cặm cụi làm đồng bà đã hát:
Tay cầm bán nguyệt xênh xang
Muôn vàn cây cỏ lai hàng tay ta
Đúng lúc đó, Vua Thủy tề đi tuần qua sông Cầu nghe tiếng hát, lại thấy trên trời có đám mây vàng rực rỡ che chở cho bà. Đức Vua vừa mê giọng hát lại thấy đây là một người con gái khác thường bèn xin lấy làm vợ đưa về thủy cung. Nhân dân trong làng tưởng nhớ con người đức hạnh và có tài ca hát đã rủ nhau học thuộc những bài hát của bà mà sau này chính là dân ca Quan họ...
Còn một huyền thoại khác được coi là căn cứ từ các di tích và sử liệu tại đền Vua Bà, cho rằng Đức Vua Bà là con gái Vua Hùng. Sau một cơn phong vũ, bà giáng hạ xuống Viêm Xá, hướng dẫn nhân dân khai hoang, phát triển nông nghiệp, dệt lụa và dạy lễ nghĩa. Đặc biệt, bà đã sáng tác những bài ca ca ngợi tình yêu, cuộc sống lao động và thiên nhiên, những bài ca này sau này trở thành Dân ca Quan Họ. Để tưởng nhớ công ơn, nhân dân tôn vinh bà là Đức Vương Mẫu và tổ chức lễ hội.
Cả hai huyền thoại đều khẳng định Viêm Xá là nơi khởi nguồn của Dân ca Quan Họ nhờ vào công lao của một người phụ nữ phi thường, đã mang đến không chỉ những làn điệu ca hát mà còn là giá trị cốt lõi về tình yêu, lao động, sự gắn kết cộng đồng và nền tảng văn hóa. Câu chuyện về Vua Bà ở Viêm Xá là một lời nhắc nhở sâu sắc về tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa, bởi đó chính là sợi dây kết nối chúng ta với cội nguồn, là minh chứng cho sự trường tồn và sáng tạo của dân tộc.

Hằng năm, để tưởng nhớ Đức Vua Bà – Thủy tổ dân ca Quan họ, người dân làng Diềm (thôn Viêm Xá, Bắc Ninh) tổ chức lễ hội từ ngày mùng 5 đến mùng 7 tháng 2 âm lịch, trong đó mùng 6 được coi là chính hội. Đây không chỉ là dịp tri ân người có công khai sinh và truyền dạy làn điệu Quan họ, mà còn là không gian văn hóa đặc sắc, nơi các giá trị tín ngưỡng, nghệ thuật và đời sống cộng đồng hòa quyện. Lễ hội năm nay càng thêm ý nghĩa khi diễn ra trong bối cảnh địa phương vận hành mô hình chính quyền 2 cấp và kỷ niệm 10 năm lễ hội được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Lễ hội làng Diềm gồm hai phần chính: phần lễ mang tính thiêng liêng, hướng về cội nguồn và phần hội giàu tính cộng đồng, nơi các giá trị văn hóa được lan tỏa trong đời sống.
Phần lễ được mở đầu bằng màn chạy cờ, trống hội, tạo nên không khí linh thiêng và rộn ràng của ngày hội lớn. Điểm đặc sắc là nghi thức tái hiện sự tích Vua Bà thông qua màn cướp cầu. Đây không chỉ là một hình thức tái hiện lại câu chuyện dân gian mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc của người dân nông nghiệp lúa nước: cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ.

Điểm nhấn quan trọng nhất của phần lễ là nghi thức rước kiệu Vua Bà quanh làng. Đoàn rước với sự tham gia của đông đảo người dân trong trang phục truyền thống, di chuyển qua các không gian linh thiêng như đền Vua Bà, đình làng và Đền Cùng – Giếng Ngọc. Không chỉ mang ý nghĩa rước kiệu tôn sùng mà còn tái hiện dấu tích hành trình Vua Bà đặt chân đến vùng đất Viêm Xá, từ đó khai phá, lập làng và truyền dạy nghề ca hát cho dân.


Tại Đền Cùng – Giếng Ngọc, nghi thức lấy nước được thực hiện trang trọng. Các bậc cao niên đại diện dân làng múc nước thiêng dâng lên Vua Bà. Nước giếng được coi là biểu tượng của sự sống, của sự tinh khiết và sinh sôi, gắn với niềm tin cầu bình an, may mắn và thuận lợi trong sản xuất.

Nếu phần lễ là sự kết tinh của tín ngưỡng và lịch sử, thì phần hội lại là không gian văn hóa sống động, nơi các giá trị Quan họ được lan tỏa. Trung tâm của phần hội chính là các hình thức diễn xướng dân ca Quan họ phong phú như hát thờ, hát canh, hát đối đáp, hát thuyền… diễn ra tại đền Vua Bà, sân đình, sân khấu trung tâm và cả trong các gia đình nghệ nhân. Đây chính là điểm đặc biệt của lễ hội làng Diềm – nơi du khách không chỉ xem mà còn sống trong không gian Quan họ nguyên bản.
Đặc biệt, hát canh Quan họ được xem là hình thức sinh hoạt cổ truyền độc đáo nhất. Đây là lối hát đối đáp giữa các cặp liền anh liền chị, thường diễn ra vào ban đêm trong không gian đền Vua Bà. Người hát ngồi trên chiếu, không dùng nhạc cụ, chỉ sử dụng giọng hát mộc với kỹ thuật “vang – rền – nền – nảy” đặc trưng, tạo nên sức hấp dẫn riêng biệt của Quan họ.

Bên cạnh đó, các hoạt động giao lưu Quan họ còn diễn ra rộng khắp với nhiều hình thức như hát đối trên sân khấu, hát thuyền, hát tại gia đình nghệ nhân… tạo nên không gian giao tiếp văn hóa đặc trưng. Quan họ trong phần hội không chỉ là nghệ thuật mà còn là phương thức kết nối cộng đồng, thể hiện tình làng nghĩa xóm với các làng Quan họ khác, sự thanh lịch và tinh tế của người Kinh Bắc.

Ngoài ra, phần hội còn có nhiều trò chơi dân gian góp phần tạo nên không khí sôi nổi, vui tươi, đồng thời bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời.
Sự kết hợp hài hòa giữa phần lễ và phần hội đã tạo nên một chỉnh thể văn hóa đặc sắc cho lễ hội làng Diềm. Nếu phần lễ giúp con người hướng về cội nguồn, củng cố niềm tin tâm linh và đạo lý Uống nước nhớ nguồn, thì phần hội lại làm sống dậy những giá trị văn hóa dân gian, nuôi dưỡng đời sống tinh thần và gắn kết cộng đồng. Qua đó, lễ hội không chỉ là một sự kiện thường niên mà còn là không gian bảo tồn và lan tỏa tinh hoa văn hóa Quan họ - di sản quý báu của vùng Kinh Bắc.
Khác với những năm trước, để phục vụ đông đảo du khách thập phương về trẩy hội, không gian lễ hội làng Diềm thường có sự góp mặt của nhiều lực lượng biểu diễn, từ các liền anh, liền chị quê hương Viêm Xá đến các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, sinh viên các trường văn hóa – nghệ thuật… Tuy nhiên, hội năm nay chính những liền anh, liền chị của làng Diềm đảm nhiệm gần như toàn bộ các hoạt động diễn xướng. Không còn sự pha trộn của các yếu tố biểu diễn bên ngoài, không gian Quan họ được trả lại đúng với chất “đất Thủy tổ”.
Sự chủ động “bao trọn sân nhà” không chỉ thể hiện nội lực mạnh mẽ của cộng đồng Quan họ Viêm Xá, mà còn là minh chứng cho quá trình gìn giữ, trao truyền di sản qua nhiều thế hệ. Từ những nghệ nhân cao tuổi đến lớp trẻ kế cận, tất cả cùng chung tay duy trì lề lối chơi Quan họ cổ, bảo đảm sự thống nhất và chuẩn mực trong từng câu hát, cách đối đáp.

Hiện nay, để gìn giữ và phát huy bền vững những tinh hoa của dân ca Quan họ, các anh Hai, chị Hai trong làng Diềm không chỉ dừng lại ở việc thực hành, biểu diễn mà đã chủ động xây dựng lực lượng kế cận. Nhận thức rõ rằng di sản chỉ có thể sống khi được trao truyền, họ đã trực tiếp tuyển chọn, dìu dắt nhiều em nhỏ ở độ tuổi 13–14 – những em có năng khiếu, đam mê và sự gắn bó với Quan họ ngay từ sớm.
Chính vì vậy, sự xuất hiện của những em nhỏ này trong không gian lễ hội mang ý nghĩa đặc biệt. Các em được gọi bằng cái tên thân thương “Em bé Quan họ” – không chỉ để phân biệt thế hệ, mà còn thể hiện sự nâng niu, kỳ vọng của cộng đồng đối với những người sẽ tiếp nối mạch nguồn di sản. Ở đó, hình ảnh những “em bé Quan họ” cất lên câu hát bên các liền anh, liền chị không đơn thuần là một hoạt động biểu diễn, mà là minh chứng sống động cho quá trình kế thừa văn hóa.

Từ cội nguồn lịch sử - văn hóa bền chặt của làng Viêm Xá, lễ hội làng Diềm như sợi dây kết nối để cộng đồng gặp gỡ, trao truyền và gìn giữ những giá trị văn hóa đã nuôi dưỡng qua bao thế hệ. Không chỉ là những câu hát giao duyên, Quan họ còn là kết tinh của lối sống, cách ứng xử, văn hóa dân gian và tâm hồn người Kinh Bắc qua bao thế hệ. Chính sự gắn bó mật thiết giữa di sản với cộng đồng, cùng khả năng được trao truyền, thực hành liên tục trong đời sống đương đại đã làm nên sức sống trường tồn của Quan họ.
Bởi vậy, dân ca Quan họ Bắc Ninh – Kinh Bắc hoàn toàn xứng tầm là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, không chỉ bởi danh hiệu được ghi nhận, mà còn bởi chính giá trị sống động, bền vững và lan tỏa mà di sản ấy vẫn đang tiếp tục khẳng định trong dòng chảy văn hóa hôm nay.