Bài 2: CHỦ ĐỘNG THAM MƯU, KIẾN TẠO THỂ CHẾ
Tạo hành lang pháp lý cho văn hóa phát triển
Tại buổi làm việc với Bộ VHTTDL ngày 25/4/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ghi nhận những nỗ lực của Bộ trong triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW (Nghị quyết 80); trong đó nhấn mạnh việc Bộ đã chủ động tham mưu Chính phủ để trình Quốc hội xem xét, ban hành nghị quyết về phát triển văn hóa với các cơ chế, chính sách đặc thù. Thủ tướng cũng đánh giá cao công tác hoàn thiện thể chế của Bộ, góp phần tạo hành lang pháp lý ngày càng đầy đủ hơn cho hoạt động của ngành, đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đã tồn tại trong thực tiễn phát triển văn hóa.

Đó không chỉ là sự đánh giá đối với những kết quả Bộ VHTTDL đã đạt được trong công tác quản lý ngành, mà còn khẳng định vai trò của Bộ trong việc đưa chủ trương lớn của Đảng vào thực tiễn; cụ thể hóa tầm nhìn chiến lược thành cơ chế, chính sách; tạo điều kiện để văn hóa thực sự phát huy vai trò trong phát triển đất nước.
PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và xã hội của Quốc hội cho rằng, điểm rất đáng ghi nhận trong quá trình xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam lần này là sự phối hợp chặt chẽ, chủ động và thực chất giữa Bộ VHTTDL với các cơ quan của Quốc hội, đặc biệt là Ủy ban Văn hóa và Xã hội.
Theo ông, đây không chỉ là sự phối hợp theo quy trình thông thường của hoạt động lập pháp, mà thể hiện tinh thần cùng chia sẻ trách nhiệm trước một vấn đề lớn của đất nước: làm thế nào để thể chế hóa nhanh nhất, đúng nhất, hiệu quả nhất tinh thần của Nghị quyết 80.
Nghị quyết 80 đã đặt văn hóa ở một vị thế rất mới: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là trụ cột, hệ điều tiết, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Chính vì vậy, khi chuyển hóa tinh thần ấy thành chính sách cụ thể, không thể làm theo cách cũ, tức là chỉ dừng ở việc liệt kê nhiệm vụ hay khẳng định chủ trương. Điều cần thiết hơn là phải thiết kế được các cơ chế có khả năng mở đường, khơi thông nguồn lực và tạo thay đổi thật sự trong thực tiễn.
Điểm mới đáng chú ý là Bộ VHTTDL đã tham gia rất sớm, rất sâu vào quá trình chuẩn bị chính sách; lắng nghe ý kiến của các cơ quan Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, chuyên gia, nhà quản lý, địa phương và các chủ thể văn hóa. Ngược lại, các cơ quan của Quốc hội cũng không chỉ làm nhiệm vụ thẩm tra theo nghĩa “xem xét văn bản”, mà cùng tham gia gợi mở chính sách, nhận diện điểm nghẽn, đánh giá tính khả thi, tính hợp hiến, hợp pháp và tính đồng bộ của các cơ chế đặc thù.
“Đây là một cách phối hợp mới: phối hợp không chỉ để “hoàn thành hồ sơ”, mà để cùng kiến tạo một khuôn khổ phát triển. Sự phối hợp ấy làm cho Nghị quyết khi trình Quốc hội không chỉ mang tính chính trị - pháp lý, mà còn có hơi thở thực tiễn, địa chỉ thực hiện, cơ chế nguồn lực, và khả năng đi vào cuộc sống” – PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhận định.

Từ triển khai nghị quyết đến thiết kế chính sách có khả năng thực thi
Tại họp báo thường kỳ quý I/2026, ông Cao Lê Tuấn Anh, Chánh Văn phòng Bộ VHTTDL, Người phát ngôn Bộ VHTTDL, cho biết Bộ đã chủ động tham mưu Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW; đồng thời tích cực triển khai nhiều nhiệm vụ cụ thể. Bên cạnh đó, Bộ từng bước cụ thể hóa các chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn; xây dựng hệ thống văn bản pháp luật, đề án, chương trình hành động nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thúc đẩy phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.
Trong quá trình cụ thể hóa Nghị quyết 80, ngày 13/4/2026, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh đã ký ban hành Chương trình hành động số 1959/CTr-BVHTTDL của Bộ VHTTDL nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và các Nghị quyết của Chính phủ.
Chương trình hành động của Bộ VHTTDL đặt ra các mục tiêu cụ thể, đồng thời nhấn mạnh các nhiệm vụ trọng tâm như: Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin; Tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin; Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, văn minh; Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin, thúc đẩy sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm, nhận diện và ứng xử thích hợp với tài nguyên văn hóa; Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia, gắn với phát triển du lịch văn hóa; Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới; Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, du lịch, thể thao, thông tin góp phần tăng sức mạnh mềm quốc gia.
Chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển
Có thể nói, Bộ VHTTDL đã có bước chuyển quan trọng, từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển . Cơ quan quản lý nhà nước không chỉ ban hành quy định và kiểm soát hoạt động, mà còn tạo môi trường, thiết kế cơ chế, khơi thông nguồn lực, bảo vệ sáng tạo, phát triển thị trường và kết nối các chủ thể cùng tham gia.

Đánh giá về sự chuyển biến này, PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh, lần này Bộ VHTTDL đã thể hiện rõ hơn tư duy thiết kế chính sách phát triển. Nghĩa là không chỉ đặt câu hỏi “quản lý thế nào?”, mà đặt câu hỏi quan trọng hơn: “Cơ chế nào để văn hóa có nguồn lực?”, “Chính sách nào để người làm văn hóa sống được bằng nghề?”, “Mô hình nào để di sản trở thành tài sản phát triển?”, “Cách nào để công nghiệp văn hóa đóng góp xứng đáng cho tăng trưởng?”, “Làm sao để ngân sách nhà nước, nguồn lực xã hội, đất đai, thuế, công nghệ, nhân lực cùng được huy động cho văn hóa?”.
“Đây là sự chuyển biến có ý nghĩa nền tảng. Bởi chính sách văn hóa muốn có tác động thật sự thì không thể chỉ là những tuyên ngôn đẹp. Chính sách phải trả lời được câu hỏi về tiền ở đâu, người nào làm, cơ quan nào chịu trách nhiệm, cơ chế nào bảo đảm, giám sát ra sao, đo lường kết quả thế nào. Nghị quyết của Quốc hội được thông qua ngày 24/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 là một bước thể chế hóa quan trọng để biến định hướng của Nghị quyết 80 thành các cơ chế cụ thể” – PGS, TS Bùi Hoài Sơn đánh giá.
Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực văn hóa, nơi nhiều chủ trương đúng từng gặp khó khi triển khai không phải vì thiếu quyết tâm, mà vì thiếu hành lang pháp lý đồng bộ, thiếu nguồn lực tương xứng, thiếu cơ chế tài chính phù hợp, thiếu chính sách đãi ngộ người làm văn hóa, thiếu công cụ bảo vệ bản quyền, thiếu mô hình vận hành linh hoạt cho các thiết chế và hoạt động sáng tạo. Nếu không xử lý những nút thắt đó, văn hóa rất dễ tiếp tục ở trong tình trạng được khẳng định là quan trọng nhưng chưa phát huy đầy đủ vai trò trong thực tiễn.
Vì vậy, hoàn thiện thể chế không đơn thuần là công tác xây dựng văn bản, mà đó là khâu mở đường để văn hóa có cơ chế vận hành, có nguồn lực thực hiện và có điều kiện phát huy vai trò trong đời sống. Một cơ chế tài chính phù hợp có thể tạo điều kiện cho sáng tạo. Một chính sách đất đai, thuế, đầu tư thông thoáng có thể thu hút doanh nghiệp tham gia công nghiệp văn hóa. Một khung pháp lý rõ về bản quyền số có thể bảo vệ người sáng tạo. Một cơ chế đặt hàng, khoán chi phù hợp có thể tạo ra tác phẩm lớn. Một chính sách đãi ngộ đúng có thể giữ chân nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia văn hóa. Một hệ thống dữ liệu văn hóa đồng bộ có thể thay đổi phương thức quản trị ngành trong kỷ nguyên số.
Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam cho thấy quá trình thể chế hóa kịp thời Nghị quyết 80, với các chính sách, cơ chế đặc thù nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và khơi thông nguồn lực cho văn hóa. Trong kết quả đó có dấu ấn rõ nét của Bộ VHTTDL với vai trò cơ quan tham mưu, chủ trì soạn thảo, tiếp thu, giải trình, hoàn thiện chính sách và kết nối giữa yêu cầu thực tiễn của ngành với hoạt động lập pháp của Quốc hội.
Đây chính là biểu hiện cụ thể của tư duy kiến tạo chính sách: không chỉ quản lý lĩnh vực văn hóa theo chức năng hành chính, mà chủ động đề xuất những cơ chế mới để văn hóa có điều kiện phát triển như một nguồn lực, một ngành kinh tế sáng tạo và một sức mạnh mềm của quốc gia. Sự chủ động của Bộ VHTTDL vì vậy không chỉ nằm ở việc triển khai một nghị quyết đã được ban hành, mà còn ở năng lực tham mưu để biến tinh thần của Nghị quyết 80 thành công cụ chính sách cụ thể.

Mở không gian phát triển mới cho văn hóa Việt Nam
Có thể nói, từ Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đến Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam là một bước chuyển quan trọng trong quá trình thể chế hóa chủ trương của Đảng về văn hóa. Điều đáng chú ý là Nghị quyết số 28/2026/QH16 không chỉ cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW, mà còn mở ra nhiều cơ chế có tính đột phá: bảo đảm nguồn lực đầu tư cho văn hóa; tháo gỡ vướng mắc về cơ chế tài chính, đất đai, hợp tác công - tư; thúc đẩy công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, bảo vệ bản quyền; quan tâm chính sách đối với đội ngũ văn nghệ sĩ, nghệ nhân, vận động viên và những người làm việc trong các lĩnh vực đặc thù.
Đây là những vấn đề lâu nay được xem là điểm nghẽn, nếu được triển khai hiệu quả sẽ tạo thêm động lực để văn hóa phát triển tương xứng với vai trò là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia. Đó cũng là cách để văn hóa từng bước đi vào đời sống bằng cơ chế cụ thể, nguồn lực cụ thể, trách nhiệm cụ thể và kết quả cụ thể; góp phần quan trọng trong việc tạo bước đột phá nhằm mở ra không gian phát triển thực sự cho văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.