Quảng cáo ngoài trời tại Thanh Hóa - đặc điểm, tính chất và xu hướng phát triển

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Quảng cáo năm 2012 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về quảng cáo tại Việt Nam. Luật Quảng cáo năm 2012 đã tác động sâu sắc đến hoạt động quảng cáo ngoài trời tại tỉnh Thanh Hóa. Hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Thanh Hóa phản ánh rõ nét quá trình chuyển đổi từ mô hình phát triển tự phát sang quản lý theo hướng chuyên nghiệp, có quy hoạch và gắn với định hướng phát triển văn hóa - kinh tế địa phương. Những đặc điểm nổi bật có thể nhận diện được qua các khía cạnh: không gian phân bố, loại hình quảng cáo, kích thước chi phí, cấu trúc thị trường, nội dung truyền tải và yếu tố văn hóa - thẩm mỹ. Ở khía cạnh khác, sự phát triển của hoạt động này phản ánh ba xu hướng chủ đạo: số hóa và ứng dụng công nghệ cao, tích hợp văn hóa địa phương trong thiết kế, “xanh hóa” và phát triển bền vững. Những đặc điểm này đã làm sáng tỏ tính chất đa mục tiêu và những mâu thuẫn nội tại, từ đó cho thấy tính cấp thiết của việc xây dựng một mô hình quản lý hiệu quả, linh hoạt và có tầm nhìn từ phía cơ quan quản lý tỉnh Thanh Hóa giai đoạn hiện nay.

Từ nơi thờ tự đến không gian di sản: Quá trình di sản hóa đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt

Tóm tắt: Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt, thuộc xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai (trước đây là tỉnh Bình Định) là Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, được biết đến như một không gian thờ tự linh thiêng của ba anh em nhà Tây Sơn (Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ - Nguyễn Lữ), hiện nay là một địa điểm quan trọng mang nhiều giá trị văn hóa và ý nghĩa lịch sử đối với địa phương và quốc gia. Bài viết tiếp cận di sản không phải là một giá trị sẵn có, mà là sự vận động xã hội, để phân tích quá trình di sản hóa tại đền thờ. Trên cơ sở tiếp cận trường hợp nghiên cứu, bài viết tập trung làm rõ ba phương diện chính của quá trình di sản hóa: đền thờ được lựa chọn như một đối tượng di sản; đền được gán thêm các lớp nghĩa vượt ra ngoài chức năng thờ tự và trở thành một biểu tượng lịch sử - văn hóa; các thực hành lễ hội và nghi lễ tưởng niệm góp phần duy trì và phổ biến ý nghĩa di sản của đền thờ trong đời sống hiện đại. Từ đó, nghiên cứu cho thấy đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt ngày nay đã trở thành nơi giao thoa ký ức lịch sử, thực hành văn hóa, giáo dục truyền thống và diễn ngôn di sản. Trường hợp này góp phần gợi mở cách nhìn rộng hơn về các đền thờ nhân vật lịch sử ở Việt Nam như những không gian, nơi mà quá khứ liên tục được kiến tạo, gán nghĩa và tái tổ chức trong hiện tại.

Di sản sống và sự thích ứng văn hóa của người Mông ở Sa Pa trong bối cảnh phát triển du lịch

Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ chế thích ứng của di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng người Mông tại Sa Pa dưới tác động của du lịch. Nghiên cứu tập trung vào quá trình thương lượng giữa bảo tồn và đổi mới, giữa sinh hoạt nội bộ và nhu cầu trình diễn, cũng như giữa sinh kế và bản sắc tộc người. Sử dụng phương pháp định tính với 15 cuộc phỏng vấn sâu và 6 đợt quan sát tham dự tại 5 bản du lịch, dữ liệu được xử lý qua phân tích chủ đề và lý thuyết mạng lưới tác nhân. Kết quả chỉ ra bốn mô hình thích ứng cốt lõi: chuyển đổi chức năng nghi lễ sang hướng trình diễn; đổi mới nghề thủ công gắn với thị trường và tính xác thực; sự hình thành bản sắc lai ghép ở thế hệ trẻ trong vai trò trung gian văn hóa; dịch chuyển sang cơ chế đồng quản lý di sản giữa cộng đồng và chính quyền. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình tương tác đa chiều, cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững văn hóa tại vùng dân tộc thiểu số.

Gắn kết di sản nghề kim hoàn và thiết kế trang sức

Tóm tắt: Gắn kết di sản nghề kim hoàn và thiết kế trang sức là hoạt động sáng tạo dựa trên sự kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với tư duy thiết kế hiện đại, để tạo ra các sản phẩm trang sức mang đậm bản sắc riêng của từng làng nghề kim hoàn, hướng đến sự phù hợp với xu hướng thẩm mỹ của người sử dụng trong xã hội hiện đại. Trong đó, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá mẫu mã sản phẩm dựa trên mô hình sản xuất, kinh doanh thực tế đóng vai trò quan trọng để đề xuất các phương thức thiết kế về kiểu dáng và chất liệu phù hợp với kỹ thuật chế tác đặc trưng, đồng thời kết hợp hiệu quả với công nghệ sản xuất hiện đại. Sự kết hợp này góp phần mở ra thêm hướng đi cho sản phẩm của các làng nghề kim hoàn, thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm trang sức trên thị trường trong và ngoài nước.

Tái định vị chợ truyền thống tại Thành phố Hồ Chí Minh: sự chuyển dịch từ không gian kinh tế sang thiết chế văn hóa - xã hội

Tóm tắt: Trước áp lực cạnh tranh từ hệ thống bán lẻ hiện đại và thương mại điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh, chợ truyền thống đang đối mặt với khủng hoảng vị thế. Nghiên cứu này lập luận rằng các giải pháp cải tạo hạ tầng là chưa đủ, từ đó đề xuất chiến lược “tái định vị” toàn diện dựa trên tiếp cận văn hóa học và phát triển bền vững. Thông qua phân tích thực nghiệm tại chợ Bến Thành và Phú Nhuận, bài viết kiến nghị chuyển đổi chợ từ điểm bán lẻ thuần túy sang “thiết chế văn hóa - xã hội” dựa trên bốn trụ cột: Tái định vị nhận thức (giá trị ký ức và cộng đồng); Tái định vị chức năng (mô hình “Chợ lai ghép” tích hợp trực tiếp lẫn trực tuyến và kinh tế trải nghiệm); Tái định vị biểu tượng (khai thác vốn văn hóa qua công nghiệp sáng tạo); Tái định vị quản trị. Kết quả nghiên cứu khẳng định đây là lộ trình tất yếu để kiến tạo “không gian văn hóa sống”, vừa bảo tồn bản sắc đô thị, vừa thích ứng với kỷ nguyên số.

Di tích đền Cuông gắn với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nghệ An hiện nay

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích di tích đền Cuông với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chuyển đổi và hội nhập hiện nay. Trên cơ sở tư liệu khoa học, khảo sát thực địa, nghiên cứu làm rõ giá trị lịch sử, tín ngưỡng và vai trò của đền Cuông, thành tố trong hệ thống di sản văn hóa Bắc Trung Bộ trong hoạt động du lịch. Công tác bảo tồn đã có chuyển biến tích cực nhưng hoạt động khai thác du lịch văn hóa còn hạn chế, sản phẩm thiếu đặc trưng và tính kết nối vùng chưa cao. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa, bao gồm việc áp dụng chuyển đổi số và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung về khoa học và thực tiễn cho quản lý di sản gắn với phát triển du lịch, đồng thời, khẳng định giá trị biểu tượng của đền Cuông trong phát triển du lịch văn hóa bền vững tỉnh Nghệ An hiện nay.

Lễ hội biển Thanh Hóa: Giá trị văn hóa và những biến đổi trong bối cảnh hiện nay

Tóm tắt: Bài viết khảo sát lễ hội biển Thanh Hóa trong bối cảnh du lịch phục hồi sau đại dịch và xu hướng “sự kiện hóa” lễ hội. Mục tiêu là nhận diện hệ giá trị văn hóa, phân tích biến đổi đương đại dưới tác động của thị trường, quản trị điểm đến và truyền thông số, đồng thời gợi mở hàm ý quản trị bền vững. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính dựa trên dữ liệu thứ cấp, gồm tổng quan tài liệu, phân tích tư liệu chính sách, thống kê và trường hợp minh họa. Kết quả cho thấy lễ hội biển ngày càng vận hành như một “hệ sự kiện” có kế hoạch với các cấu phần: khai mạc mùa du lịch, trình diễn nghệ thuật, hoạt động thể thao, giải trí, không gian dịch vụ và truyền thông số. Giá trị văn hóa thể hiện qua bốn lớp: tâm linh, tín ngưỡng, cộng đồng, xã hội, nghệ thuật, thẩm mỹ và tri thức môi trường, sinh kế. Quá trình sự kiện hóa, chuyên nghiệp hóa và thương mại hóa tạo cơ hội kích cầu, nhưng làm tăng rủi ro suy giảm tính xác thực, bất cân xứng lợi ích và áp lực môi trường - sức chứa. Từ vấn đề đặt ra, bài viết đề xuất cân bằng xác thực văn hóa và hiệu quả kinh tế thông qua kịch bản dựa trên di sản sống, tăng đồng quản trị cộng đồng, quản lý tác động theo vòng đời sự kiện và đánh giá đa chiều.

Việc dạy chữ Thái hiện nay ở Thanh Hóa: Suy nghĩ và kiến nghị từ góc nhìn bảo tồn văn hóa Thái

Tóm tắt: Hiện nay, việc dạy chữ Thái ở tỉnh Thanh Hóa và những tài liệu được sử dụng để giảng dạy chữ Thái truyền thống nơi đây là khác nhau trong địa bàn. Tình trạng đó có ảnh hưởng nhất định đến kết quả truyền dạy chữ Thái cổ truyền thống cho học sinh phổ thông cũng như cho người dân với mục đích bảo tồn văn hóa Thái của địa phương. Bài viết phân tích sự hiện diện những dạng thức chữ Thái truyền thống khác nhau được sử dụng dạy học nhằm bảo tồn văn hóa Thái ở địa phương; đồng thời nêu ra suy nghĩ của mình đối với vấn đề cách thức truyền dạy chữ Thái trong cộng đồng cũng như trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích lưu giữ và phát huy văn hóa người Thái ở Thanh Hóa.

Di tích lịch sử văn hóa - Nguồn lực nhân văn cho phát triển bền vững của Thủ đô Hà Nội

Tóm tắt: Với vị thế là trung tâm chính trị, hành chính và văn hóa của cả nước, Thủ đô Hà Nội sở hữu hệ thống di tích phong phú, đa dạng về loại hình và giá trị, phản ánh chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Trên cơ sở tiếp cận hệ thống di tích như một nguồn lực nhân văn, bài viết khái quát hệ thống di tích của Hà Nội và làm rõ việc chuyển hóa các giá trị vào đời sống thông qua giáo dục truyền thống, xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng, phát triển du lịch văn hóa và thúc đẩy các hoạt động sáng tạo văn hóa. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác giá trị di tích cho phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

Nhận thức về đạo đức trí tuệ nhân tạo của cán bộ thư viện tại một số thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo đang từng bước được ứng dụng trong hoạt động thư viện đại học, đồng thời cũng đặt ra các vấn đề đạo đức liên quan đến minh bạch, công bằng, quyền riêng tư dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm về nhận thức đạo đức trí tuệ nhân tạo của cán bộ thư viện tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu này khảo sát nhận thức đạo đức trí tuệ nhân tạo của 68 cán bộ thư viện đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi cấu trúc với thang đo Likert 5 mức, xây dựng dựa trên khung đạo đức AI4People của Floridi và cộng sự, kết hợp với nghiên cứu tổng quan của Jobin và cộng sự và được phân tích bằng thống kê mô tả và so sánh nhóm. Kết quả cho thấy cán bộ thư viện có mức nhận thức tương đối cao về các nguyên tắc đạo đức trí tuệ nhân tạo, nổi bật là trách nhiệm giải trình và quyền riêng tư dữ liệu, đồng thời tồn tại sự khác biệt đáng kể theo vị trí công tác, trình độ chuyên môn và mức độ tiếp xúc với trí tuệ nhân tạo.