Untitledmk.jpg
Đồi chè Long Cốc (Phú Thọ) - Ảnh: Nguyễn Thanh Hà

Văn minh sông Hồng và văn minh trà Việt

Có một nền văn minh sông Hồng và văn minh lúa nước hiện thực trong chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt với truyền thuyết về Âu Cơ - Lạc Long Quân, gắn với sự tích bánh chưng, bánh giầy và Lang Liêu, cùng sự tích về An Tiêm và quả dưa đỏ. Có một nền văn hiến Việt Nam “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi). Có một nền văn hóa Việt Nam phát triển bền vững tựa trên căn cốt văn hóa cộng đồng, làng xã, dòng tộc. Riêng ở châu Á, đặc biệt trong không gian Đông Bắc Á có mấy trung tâm được coi là nơi hội tụ văn minh - văn hóa trà gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Ở một phương diện khác, Việt Nam xét về “địa - chính trị” thì thuộc về Khối/ Cộng đồng ASEAN (hiện nay bao gồm 11 nước thành viên), nhưng xét về “địa - văn hóa” thì tương đồng với các nước thuộc vùng Đông Bắc Á. Cũng vì thế, trong quá khứ, giới nghiên cứu vẫn xếp Việt Nam trong khối đồng văn (đồng văn tự Hán, đồng văn hóa Hán), không tính từ thời Bắc thuộc (1.000 năm), chỉ tính trong thời kỳ độc lập xuyên suốt nhiều thế kỷ Trung đại (X-XIX). Chỉ cần trích xuất một thể loại văn học thời Trung đại sẽ thấy tính chất đồng văn nhuần thấm vào từng chân tơ kẽ tóc - thể truyền kỳ - phổ biến từ trong văn học Trung Quốc (xuất hiện từ đời Đường), lan tỏa theo tinh thần tiếp biến văn hóa sang Nhật Bản, đến Việt Nam và Triều Tiên (trong khoảng thế kỷ XV-XVII). Những lễ hội truyền thống khác trong năm tính theo âm lịch như Nguyên tiêu, Rằm trung thu đều thuộc folklore (văn hóa dân gian) của khu vực Đông Bắc Á, có gốc tích Trung Quốc nhưng được bản địa hóa sâu sắc.

Cuốn sách Văn minh trà Việt (2025) của nhà nghiên cứu Trịnh Quang Dũng là một công trình thuộc dạng cẩm nang về văn hóa ẩm thực Việt Nam, tiếp cận chuyên biệt về “Văn minh trà Việt”, như cách tiếp cận “phở” hay “nước mắm” được coi là quốc hồn quốc túy. Nhà nghiên cứu xác quyết “Trà - Quốc thủy của người Việt”; Thần y Tuệ Tĩnh thì khẳng định trà là thứ nước uống kỳ diệu: Trà khả thanh tâm giải nhiệt, ẩm nhất bát, vạn lự đốn tiêu. Ngày nay, Khổng Tử (551- 479 TCN) được dẫn xuất nhiều, trong đó có dịp đặc biệt khi vị sư tổ của đạo Nho nói về nguồn gốc của trà “Người Bách Việt có lối sống, tiếng nói, phong tục, tập quán ăn uống riêng... Dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước nấu bằng thứ lá cây lấy trong rừng ra gọi là trà” (Trịnh Quang Dũng, 2025, tr.1). Đọc sách Văn minh trà Việt, chúng ta mới có dịp tri nhận ngọn ngành về cái gọi là “Quốc thủy Việt”, với lịch sử mấy ngàn năm (có độ dài khoảng 5.000 năm), còn sớm hơn cả lịch sử hình thành dân tộc (nếu tính 4.000 năm, từ thời các Vua Hùng dựng nước, như những vần thơ hào sảng của Tố Hữu: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận/ Có Đảng ta đây có Bác Hồ”.

Trà đạo trong tâm thức và văn chương Việt Nam

Tác giả Trịnh Quang Dũng trong sách Văn minh trà Việt tỏ ra lo lắng khi viết: “Thế giới đã từng tồn tại bốn nền văn hóa trà: trà Việt Nam, trà Trung Hoa, trà Nhật Bản và trà Hàn Quốc. Song thật đáng tiếc, nền văn hóa trà Việt dường như dần biến mất... và ngày nay trong tâm tưởng của mọi người hầu như chỉ còn tồn tại Trà kinh Trung Hoa và Trà đạo Nhật Bản” (Trịnh Quang Dũng, 2025, tr.11).

Song với chúng tôi, những người nghiên cứu văn học dân tộc lại có niềm lạc quan không bờ bến, có căn cứ thực tiễn: Trà đạo Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển bền vững, ít nhất ánh xạ trong văn chương từ cổ chí kim. Lật lại những trang sử văn thời trung đại, chí ít độc giả cũng sớm được thưởng thức trà đạo Việt Nam qua trước tác Vũ trung tùy bút (ghi chép trong mưa) viết bằng chữ Hán của Phạm Đình Hổ (1768-1839). Trong trước tác này có những thiên/ áng văn xuôi kỳ thú như Uống chè “Từ các đời gần đây trở xuống, thưởng giám chè ngày càng tinh, thử vị chè nào khác hơn, cách chế chè nào ngon hơn, đều phân biệt ra kỹ lắm. Lò, siêu, ấm, chén lại chế ra nhiều kiểu thích dụng. Song chế ra nhiều thứ chè, kẻ thức giả cũng cho là phiền lắm. Còn như nếm chè ở trong đám ruồi nhặng, bày ấm chén ở cửa chợ bụi lầm, lúc ồn ào đinh óc, vơ vẩn rộn lòng, thì dẫu ấm cổ đẹp đẽ, chè ngon ngát lừng, ta chẳng biết uống chè như thế có thú vị gì không? Giá có gặp ông tiên chè, thì cũng cho lời nói ta làm phải”. Thật là công phu, tinh tế, nhiều nhã thú văn chương “Chè thú vị ở chỗ cái tinh nó sạch sẽ, hương nó thơm tho. Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu làng thơ cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè ra thưởng thức thì có thể tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục. Ấy, người xưa ưa chuộng chè là vì vậy” (Phạm Quang Long và Bùi Việt Thắng, 2010, tr.123-125). Uống chè (trà) mà “rửa được lòng tục” (thanh lọc tâm hồn) thì đã đạt tới văn hiến - văn minh - văn hóa trà. Thưởng chè (trà) đến mức như thế thì đạt tới đạo - triết lý, triết học về Trà đạo.

Trong văn học hiện đại Việt Nam, nói không quá, Nguyễn Tuân là nhà thám hiểm phát kiến ra “Trà đạo Việt Nam”, là nhà văn đầu tiên trong sử văn dân tộc tay run run, lòng dạ bồi hồi, tinh thần xác quyết khi đặt bút quyết chí viết trọn vẹn trực tiếp hai chữ “Trà đạo”. Vì thế, có ai đó ví von Nguyễn Tuân phát kiến ra “Trà đạo Việt Nam” cũng tựa Columbus phát hiện ra châu Mỹ (?!). Trong tập truyện ngắn thuộc hàng văn học kinh điển Việt Nam thế kỷ XX, Vang bóng một thời (xuất bản lần đầu 1940), Nguyễn Tuân đã cống hiến cho độc giả hai thiên/ áng văn mẫu mực về “Trà đạo Việt Nam” có nhan đề Chén trà sương (tên ban đầu Ấm trà trong sương sớm) và Những chiếc ấm đất, cả hai thiên truyện đều đăng trên Tạp chí Tao đàn (số 3, 8, năm 1939). Lần đầu tiên, hai chữ Trà đạo xuất hiện trong văn học: “Trên hỏa lò để không, cụ đã đặt thêm một ấm đồng cò bay khác. Những người uống trà đúng cách thức trà đạo như cụ Ấm bao giờ cũng có ít ra là hai ấm đồng đun nước. Ấm nước sôi nhắc ra khỏi lò than là đã có chiếc ấm thứ hai đặt ngay lên đấy rồi. Và hai ấm đồng đó được mãi mãi thay phiên nhau đặt trên lò than đỏ rực. Bữa nước trà cứ thế kéo dài không hết hồi, người ta luôn tay có một thứ nước sôi đủ độ nóng để pha một ấm trà ngon, (...). Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, cụ Ấm đã để vào đấy nhiều công phu. Những công phu đó đã trở nên lễ nghi. Trong ấm trà pha ngon, người ta nhận thấy có một mùi thơ và một vị triết lý” (chúng tôi nhấn mạnh hai chữ trà đạo bằng chữ in nghiêng). Nhưng thứ nước lã/ nước sạch được chọn để đun sôi phải được lấy từ đâu? Có nhiều loại nước sạch tốt (nước suối đầu nguồn, nước mưa, nước giếng vùng đất đá ong...), nhưng tốt nhất là nước sương đọng trên lá sen sau một đêm. Ai đó sẽ nói, như thế thì khó khăn quá, cầu kỳ quá, nước đọng trên lá sen thì há được bao nhiêu để đủ dùng một tuần trà đừng nói hơn một. Thôi thì dùng nước giếng, nhưng phải là giếng trên mạn trung du đất đá ong, nơi đó giếng phải đào sâu trên triền đồi thoải dốc thì không sợ bị nước bẩn tù đọng. Nên mới có câu chuyện về Những chiếc ấm đất (một trong hai thiên truyện/ áng văn đặc sắc về Trà đạo) liên quan đến nhân vật ông cụ Sáu không muốn chuyển nhà vì đang ở gần một ngôi chùa có cái giếng nước trong lành thơm mát, hữu dụng cho việc pha trà, thưởng trà “Chùa nhà ta có cái giếng này quý lắm, nước rất ngọt. Có lẽ tôi nghiện trà tàu vì nước giếng chùa nhà đây. Tôi sở dĩ không nghĩ đến việc đi xa đâu được, cũng là vì không đem theo được nước giếng này đi để pha trà. Bạch sư cụ, sư cụ nhớ hộ tôi câu thề này: là giếng chùa nhà mà cạn thì tôi sẽ lập tức cho không người nào muốn xin bộ đồ trà rất quý của tôi. Chỉ có nước giếng đây là pha trà không bao giờ lạc mất hương vị”.

Quy trình của Trà đạo, theo cách viết của Nguyễn Tuân, với 5 bước được tuân thủ nghiêm ngặt (nhất thủy, nhì trà, tam pha, tứ bình, ngũ tuần anh). Ở trên mới chỉ là bước một (nước pha trà), đầu tiên nhưng cực kỳ quan trọng. Bước hai (chọn trà), tùy theo khẩu vị, người dùng trà ướp hương hoa (sen, nhài, ngâu...), người thích trà mộc (thường là đa số). Trà Tân Cương (Thái Nguyên), hay Shan Tuyết cổ thụ (Lai Châu) chính hiệu đều ngon, hiếm nên đáng trân quý. Nhưng chọn trà cũng phải có tay nghề, có con mắt xanh vì “nghề chơi cũng lắm công phu”. Đôi khi Nguyễn Tuân đẩy lên mức cực đoan, như trong truyện Những chiếc ấm đất, bằng cách cho gã ăn mày uống chực trà nhà giàu nhưng sau đó liền chê “trong trà lẫn mảnh trấu” (tức vỏ trấu). Người ta gọi đó là sự tinh tế (hay sành điệu) mang khẩu vị, khẩu khí, cá tính kiệm chữ nhiều nghĩa của Nguyễn Tuân. Có trà ngon, đã đành, nhưng lại phải biết cách pha, châm (rót) trà vào chén. Nghĩa là nếu hỏng một công đoạn thì cuộc trà coi như không thành công. Nhưng công đoạn bốn cũng không kém phần quyết định thành công, khi chủ nhân phải biết chọn bình (ấm chén). Vì thế nhà văn đã kỳ khu viết hẳn một thiên truyện Chén trà sương để tả cái ấm đất chuyên pha trà lúc nào cũng bất ly thân với cụ Ấm. Nhưng vì sao phải là ấm đất thì pha trà mới tinh luyện, vị thơm ngon mới thấm đến tận đầu lưỡi và cả cuống họng khi thưởng trà? Cái gì cũng có lý do của nó “Cụ khẽ nâng vuông vải tây điều trên khay trà gỗ trắc có chân quỳ. Nhẹ nhàng, khoan thai, cụ Ấm nhấc cả đĩa dầm chén tống chén quân ra khỏi lòng khay. Đến lúc dờ tới cái ấm con chuyên trà thì cụ kềnh càng hơn. Cụ ngắm nghía mãi chiếc ấm màu đỏ da chu, bóng không một chút gợn. Dáng ấm làm theo hình quả sung và khi luyện đất cho vào lò lửa, người thợ Tàu lấy dáng cho ấm kia đã là một người thợ có hoa tay. Cụ Ấm thử mài da lòng tay mình vào mình cái ấm độc ẩm, hình như cố tìm tòi một chút gợn trên đất nung để được sung sướng thêm hơn nữa sau khi nhận thấy cái ấm độc ẩm kia là nhẵn nhụi quá”.

Cứ thế cái quy trình uống trà, thưởng trà như một công cuộc của cái đẹp được quyết định bởi công đoạn thứ 5 - uống trà cùng ai và trong không gian - thời gian nào trong ngày. Như cách cụ Ấm trong thiên truyện Chén trà trong sương sớm thì cụ ưa thích thưởng trà vào buổi lê minh, tinh mơ trời đất (“Mai sớm một tuần trà/ Canh khuya dăm chén rượu/ Mỗi ngày mỗi được thế/ Thày thuốc xa nhà ta”). Và quan trọng hơn là tìm người tâm đầu hợp ý đều là “quần anh” (quần tụ anh tài, anh minh và gần gũi nhất là anh con trai); sau nữa “Chỉ có người tao nhã, cùng một thanh khí, mới có thể cùng nhau ngồi bên một ấm trà. Những lúc ấy, chủ nhân phải tự tay mình chế nước, nhất nhất cái gì cũng làm lấy cả, không dám nhờ đến người khác, sợ làm thế thì mất hết cả thành kính”.

 Mỗi trước tác của Nguyễn Tuân như Chén trà sương, Những chiếc ấm đất đều cho chúng ta bài học về trông nhìn và thưởng thức Trà đạo, đem lại nhã thú văn chương. Nguyễn Tuân là thế, tinh tế, cầu kỳ, độc đáo như sau này viết Phở, Giò lụa... đến nỗi bị phê phán là đi trên đường mòn mà bỏ qua đại lộ. Hình ảnh văn nhân xưa thường gắn với bầu rượu túi thơ, nay có thể thêm một chén trà sương, một ấm trà ngon theo lối trà đạo nữa chăng?!

Nóng hổi thời sự nhất, lại có thêm một “đệ tử” của Trà đạo Việt Nam. Đó là GS, NGND, nhà văn Hà Minh Đức đã viết về Trà đạo trong sách Văn hóa ẩm thực Việt Nam và Hà Nội (2025). Thiên 24 trong cuốn sách này có tiêu đề “Trà đạo”. Phải nói ngay, nếu nhà văn Nguyễn Tuân là “tiền nhân” thì có thể nói nhà văn Hà Minh Đức là “truyền nhân” tinh tế và sành điệu. Tác giả nắn nót viết “Trà là thức uống quý, thức uống của hầu hết các dân tộc. Tuy nhiên cây chè thường phải có nắng mới tạo nên độ chát và đậm hương vị. Ở những xứ sở quanh năm băng giá thường ít được nhắc đến các loại trà. Ở châu Á xứ sở của nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan đều là xứ sở của chè nổi tiếng. Trà là thức uống hương thơm, có vị thanh khiết, dư vị tạo nên sự thanh khiết nên chén trà ngon để mời khách từ người dân thường đến nguyên thủ quốc gia, là một lễ nghi có văn hóa của dân tộc.

 Trong dịp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Quốc cũng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam đều có nghi lễ tiếp khách thưởng thức trà. Trà của một nước do khí hậu, thổ nhưỡng và cách chăm sóc khác nhau nên có hương vị đặc sắc. Chén trà buổi sớm - “bình minh nhất trản trà” như đưa con người hòa đồng với hương thơm thanh khiết.

Nhà văn Nguyễn Tuân trong một truyện của tập Vang bóng một thời, một người hầu bàn được ông chủ gia ân cho một chén trà. Không chịu kém người sành điệu, người nghèo khổ đã phát hiện ra trong chén trà của vị gia chủ này có lẫn vị của một vài vỏ trấu. Trong một lần gặp gỡ của hai nhà văn lớn Nguyễn Tuân, Đặng Thai Mai có nhắc tới Trà đạo.

 Tại sao gọi là đạo? Có gì là triết lý, là tôn chỉ huyền bí như hai vật thể này? Xứ sở mộ đạo trà nhất là Nhật Bản. Họ có cả nghi lễ uống trà, thưởng trà tại một địa điểm sang trọng, cách sắp xếp chỗ ngồi của những người tham dự, cách pha trà và phần dành riêng cho mỗi người và một vài cử chỉ sùng bái trước khi uống. Ở Việt Nam xứ sở chè nổi tiếng thế giới trên khắp đất nước với những vùng đồi núi. Các loại chè nổi tiếng như chè Thái Nguyên, chè Phú Thọ, chè tuyết vùng cao ở Việt Bắc, chè Bảo Lộc (Lâm Đồng), chè Tân Cương (Thái Nguyên), có hương vị đặc sắc. Chè tuyết hái từ những cây cao hàng mấy chục thước trên đỉnh cao, đồi núi hương vị lạ. Chè Bảo Lộc đóng góp thêm vị chè quý của xứ sở.

Vĩ thanh - đi về đâu Trà đạo Việt Nam?

Có vẻ như trong thời buổi kinh tế thị trường, thời sống tốc độ, thời ưa dùng những tiện dụng (ăn nhanh, uống nhanh, đi nhanh) thì “Trà đạo” không có chỗ đứng?! Cà phê tan, trà đá, trà chanh,
Coca-Cola... những thức uống thời đại thống ngự thì không còn chỗ cho sống chậm, Trà đạo. Không còn chỗ cho những chén trà sương, những chiếc ấm đất mang dáng vẻ và khí vị cổ điển nữa. Thời đại gia tốc khiến con người dễ từ bỏ truyền thống, dẫu đó là truyền thống tốt. Nhưng theo cách nhìn lạc quan thì Trà đạo không hề bị lép vế, bị xóa sổ. Thực tế đang diễn ra sự chấn hưng văn hóa truyền thống, trong đó có văn hóa ẩm thực truyền thống - Trà đạo. Có hẳn một Tạp chí Trà Việt, hiện thực hơn là một lễ hội trà, lấy Thái Nguyên làm không gian văn hóa trà trung tâm (tổ chức Lễ hội “Thái Nguyên - Hương sắc danh trà”). Dự báo vào khoảng sau năm 2035 trở đi, khi Việt Nam trở thành “xã hội người già”, thì tập quán (được coi là thuần phong mỹ tục) thưởng trà sẽ được tái thiết, phục hưng. Bởi vì Trà đạo hợp thức với sống chậm, nói ít suy nghĩ nhiều. Trong những không gian - thời gian văn hóa thời đại sẽ có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại theo phương châm “đến hiện đại từ truyền thống”.

Dân gian có câu “có mới nới cũ”, “ăn cơm mới nói chuyện cũ”, “ôn cố tri tân”. Thời tốc độ và tiện dụng đưa chuyện Trà đạo ra bàn luận, chia sẻ nhằm tìm kiếm tri âm, tri kỷ liệu có lạc điệu, lạc thời?! Thiết nghĩ là không. Vì Trà Việt không chỉ là “Quốc thủy” trong bản địa mà đang vươn tầm ra thế giới. Trà Việt đang đứng chân có uy tín trong tổ chức “AVPA (Agence la Valorisation des Produits
Agricols
- Hiệp hội bình chọn sản phẩm nông nghiệp thế giới). Cuộc thi AVPA lần thứ 5, năm 2022, có 17 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự với gần 300 mẫu trà từ nhiều cường quốc trà như: Đài Loan (Trung Quốc), New Zealand, Ấn Độ, Argentina, Sri Lanka, Việt Nam... Ngày 13/10/2022, Ban tổ chức trao giải APVA lần thứ 5 tại Paris. Trà Việt Nam vinh dự đoạt 14 giải thưởng cho các dòng trà” (Trịnh Quang Dũng, 2025, tr.779).

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Hà Minh Đức. (2025). Văn hóa ẩm thực Việt Nam và Hà Nội. Nhà xuất bản Thuận Hóa.

2. Phạm Quang Long và Bùi Việt Thắng (chủ biên). (2010). Tuyển tập tác phẩm về văn hóa ẩm thực Thăng Long - Hà Nội. Nhà xuất bản Hà Nội.

3. Trịnh Quang Dũng. (2025). Văn minh trà Việt. Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 5/11/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/12/2025; Ngày duyệt đăng: 10/1/2026.

BÙI VIỆT THẮNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 633, tháng 2-2026