Từ khóa: đền Cuông; bảo tồn di tích; du lịch văn hóa; di sản; Nghệ An.

Abstract: The study focuses on analyzing Cuong temple in relation to the development of cultural tourism in Nghe An Province within the current context of transformation and international integration. Based on scientific documentation and field surveys, the research clarifies the historical and spiritual values of Cuong temple, as well as its role as a significant component within the cultural heritage system of the North Central region in tourism activities. Although conservation efforts have shown positive progress, the leveraging of cultural tourism remains limited, with tourism products lacking distinctiveness and regional connectivity still relatively weak. The study proposes strategic solutions for cultural tourism development, including the application of digital transformation and the enhancement of community participation. The research findings contribute both theoretically and practically to heritage management associated with tourism development, while reaffirming the symbolic value of Cuong temple in promoting sustainable cultural tourism development in Nghe An Province.

Keywords: Cuong temple; heritage preservation; cultural tourism; heritage; Nghe An.

Untitlednm.jpg
Đền Cuông (Nghệ An) - Ảnh: Thanh Loan

1. Đặt vấn đề

Trong chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, du lịch văn hóa như một nguồn lực cho phát triển kinh tế, xã hội và trở thành loại hình thu hút du khách trong nước và quốc tế. Luật Du lịch năm 2017 và Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2024) nêu vai trò của di tích lịch sử văn hóa trong xây dựng sản phẩm du lịch, gắn với yêu cầu ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá di sản. Nguyễn Thị Hiền (2017) cho rằng không gian tín ngưỡng và lễ hội truyền thống là nơi thực hành văn hóa, môi trường hình thành trải nghiệm tâm linh cho du khách và là một dạng đặc thù của du lịch văn hóa, gắn với nhu cầu thực hành tín ngưỡng và tìm kiếm giá trị tinh thần của con người. Hồ Thị Thanh Vân (2020) nhấn mạnh việc thiết kế trải nghiệm du lịch văn hóa có vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa hoạt động hành hương truyền thống thành sản phẩm du lịch mang tính giáo dục và sáng tạo. Còn Jimura (2016) trong nghiên cứu tuyến hành hương tại Nhật Bản chỉ ra tầm quan trọng của mô hình quản trị liên ngành trong điều tiết dòng khách và bảo vệ không gian thiêng. Gần đây, nhiều nghiên cứu về số hóa di sản và ứng dụng công nghệ 3D, VR/AR của chuyển đổi số trong việc bảo tồn, diễn giải và quảng bá giá trị văn hóa khi gắn với du lịch. Bên cạnh đó, các báo cáo của cơ quan quản lý nhà nước cung cấp dữ liệu thực tiễn về bảo tồn và phát triển du lịch tại địa phương. Các nghiên cứu trên tạo nền tảng lý luận khái quát, thiên về mô tả hiện trạng do vậy cần kết hợp hệ thống giữa giá trị vật thể và phi vật thể, khảo sát du khách, đánh giá mô hình quản lý đa chủ thể và chuyển đổi số.

Đền Cuông tỉnh Nghệ An, một trong những di tích thờ Thục Phán An Dương Vương với truyền thuyết Âu Lạc và đời sống tín ngưỡng của cư dân vùng ven biển Bắc Trung Bộ. Trong những năm qua, đền Cuông đưa vào hệ thống điểm đến du lịch văn hóa của tỉnh, tuy nhiên gắn với du lịch văn hóa còn mang tính thời vụ, sản phẩm chưa đa dạng, dịch vụ hạn chế và mức độ ứng dụng công nghệ số chưa cao. Từ những phân tích trên cho thấy nội dung nghiên cứu tiếp cận đền Cuông như một trường hợp điển hình. Việc nghiên cứu các giá trị lịch sử qua lịch sử, tín ngưỡng, trải nghiệm du khách, chủ thể quản lý và ứng dụng chuyển đổi số gắn với du lịch văn hóa là khoảng trống nghiên cứu từ đó đề xuất giải pháp theo hướng bền vững. Nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn nâng cao hiệu quả quản lý di sản gắn với phát triển du lịch văn hóa tại Nghệ An.

2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: thu thập, hệ thống hóa các tài liệu lý luận và thực tiễn về bảo tồn di tích, du lịch văn hóa, du lịch tâm linh và quản lý di sản, các văn bản của Đảng, Nhà nước và địa phương liên quan đến phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản. Phương pháp này nhằm xây dựng cơ sở lý luận, bối cảnh chính sách cho nghiên cứu về đền Cuông gắn với phát triển du lịch văn hóa hiện nay.

Phương pháp khảo sát thực địa và điều tra xã hội học: tiến hành khảo sát thực địa tại khu di tích đền Cuông, quan sát hiện trạng kiến trúc, cảnh quan, không gian lễ hội, hạ tầng và hoạt động dịch vụ. Phương pháp này sử dụng bảng hỏi khảo sát 100 du khách vào tháng 3/2025 nhằm thu thập thông tin về mục đích chuyến đi, cảm nhận không gian tâm linh, đánh giá dịch vụ, nhu cầu trải nghiệm, cung cấp dữ liệu thực chứng cho các phân tích về trải nghiệm du khách và thực trạng khai thác du lịch.

Phương pháp phỏng vấn sâu và phân tích so sánh: phỏng vấn cán bộ quản lý, chính quyền địa phương, nghệ nhân, hộ kinh doanh, du khách nhằm làm rõ công tác bảo tồn, mô hình quản lý, vai trò cộng đồng và tác động của du lịch. Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, nghiên cứu tiến hành phân tích, so sánh và đối chiếu thực trạng đền Cuông với một số di tích tâm linh trong cả nước, qua đó, đánh giá phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay.

3. Kết quả và thảo luận

Nghiên cứu lý luận về bảo tồn di tích gắn với phát triển du lịch văn hóa

Trong khoa học di sản, khái niệm bảo tồn được hiểu là quá trình bảo vệ, duy trì và truyền lại các giá trị văn hóa cho các thế hệ tương lai. Theo Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO (1972), di sản văn hóa bao gồm các công trình kiến trúc, quần thể di tích và các địa điểm có giá trị nổi bật về lịch sử, nghệ thuật và khoa học, cần được bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân loại. Theo Feilden (2003), bảo tồn là quá trình quản lý sự thay đổi nhằm duy trì tính xác thực và tính toàn vẹn của di sản, là quá trình thích ứng có kiểm soát để bảo vệ giá trị văn hóa trong điều kiện xã hội biến đổi. Tại Việt Nam, Luật Di sản văn hóa (2024) quy định bảo tồn di tích bao gồm các hoạt động bảo vệ, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di sản nhằm phục vụ đời sống văn hóa và phát triển xã hội.

Theo Richards (2018) du lịch văn hóa là hoạt động trong đó du khách tìm kiếm và trải nghiệm các giá trị văn hóa, lịch sử và bản sắc của điểm đến thông qua tương tác trực tiếp với di sản và cộng đồng địa phương. Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) (2018) xác định du lịch văn hóa bao gồm việc tham quan di tích lịch sử, lễ hội, nghệ thuật, tín ngưỡng và lối sống truyền thống của cộng đồng phát huy giá trị theo nguyên tắc bền vững. Theo Bekele, M.K. et al. (2018) công nghệ số như thực tế ảo, mô hình 3D và cơ sở dữ liệu số giúp nâng cao hiệu quả lưu trữ, nghiên cứu và quảng bá di sản. Những nghiên cứu này cho thấy phát triển du lịch văn hóa được lợi ích kinh tế, lan tỏa giá trị di sản, sự tham gia của cộng đồng, ứng dụng công nghệ là yếu tố bảo đảm tính bền vững.

Giá trị văn hóa di tích đền Cuông trong hoạt động du lịch văn hóa

Đền Cuông được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia năm 1975, tọa lạc trên núi Mộ Dạ thuộc xã An Châu, tỉnh Nghệ An, nơi đây là điểm giao thoa giữa đồng bằng, miền biển và trung du Bắc Trung Bộ. Vị trí địa lý mang ý nghĩa phong thủy được coi là tọa sơn hướng hải thể hiện tầm nhìn văn hóa của cư dân xứ Nghệ trong việc chọn nơi dựng đền thờ Thục Phán An Dương Vương. Theo các nguồn thư tịch cổ và truyền thuyết dân gian, đền Cuông được xây dựng từ thời Lý - Trần, trùng tu nhiều lần qua các triều đại, đặc biệt vào thời Nguyễn. Di tích gồm ba tòa chính Thượng điện, Trung điện, Hạ điện, hệ thống nghi môn, bia đá, tường thành, các công trình phụ trợ mang giá trị kiến trúc, mỹ thuật biểu tượng phản ánh giao thoa giữa phong cách cung đình và nghệ thuật dân gian địa phương. Giá trị của đền Cuông là yếu tố lịch sử, tinh thần bản địa hóa tín ngưỡng đời sống tâm linh của cư dân Nghệ An qua nhiều câu chuyện tương truyền gắn huyền thoại Âu Lạc với cảnh quan và sinh hoạt văn hóa vùng biển. Lễ hội đền Cuông mang đậm dấu ấn dân gian địa phương với các trò diễn, hát văn, múa rước, dâng hương quan niệm uống nước nhớ nguồn, tôn kính tổ tiên, đạo lý trung, hiếu, lễ, nghĩa, hòa hợp giữa thiên nhiên và con người.

Cảnh quan không gian của đền Cuông được tổ chức phù hợp với nguyên tắc phong thủy truyền thống tiền án, hậu chẩm, lưng tựa núi Mộ Dạ, mặt hướng ra biển Đông. Trên trục chính, ba tòa Thượng - Trung - Hạ điện xếp tầng bậc tạo chiều sâu tâm linh, tính thiêng gồm nhiều di tích trong quần thể đền Cuông đã được xếp hạng, cây cổ thụ, bia đá, đường hành lễ được bố trí tượng trưng cho nguồn sống và núi biển, cây cổ thụ là nhân chứng cho sự vững bền của thời gian. Không gian văn hóa kết nối với du khách thông qua các yếu tố âm thanh (tiếng khấn cầu, tiếng trống tế) và hình ảnh (cờ hội phấp phới).

z7449671147882_0b74205bae2a8e35cfa38d8340c0ce68.jpg
Biểu đồ 1: Trải nghiệm du khách tại đền Cuông
Nguồn: tác giả, tháng 3/2025 

Kết quả khảo sát 100 du khách với tỷ lệ 86% tương đương 86 du khách cảm nhận rõ tính thiêng, yên bình trong việc duy trì không gian thiêng, đặc trưng cốt lõi của các di tích tôn giáo, tín ngưỡng thể hiện cảm xúc, niềm tin và sự kết nối tinh thần mà du khách trải nghiệm nhận được. Tính hài hòa giữa thiên nhiên và tín ngưỡng là yếu tố cốt lõi tạo nên sức hấp dẫn với 78 du khách chiếm tỷ lệ 78% du khách đánh giá đền Cuông “hài hòa nhất giữa thiên nhiên và tín ngưỡng”, sự hòa quyện giữa môi trường tự nhiên và kiến trúc tôn giáo là nền tảng hình thành trải nghiệm thẩm mỹ và tâm linh. Phát triển sản phẩm du lịch gắn với trải nghiệm tâm linh có 69 du khách chiếm tỷ lệ 69% mong muốn có thêm sản phẩm du lịch trải nghiệm lễ hội, thiền định.

Vai trò của đền Cuông trong hoạt động du lịch văn hóa tại Nghệ An

Trong hệ thống di tích lịch sử - văn hóa Việt Nam, đền Cuông giữ vị trí đặc biệt hội tụ giữa di sản và du lịch gắn với bản sắc địa phương, trung tâm tín ngưỡng thu hút khách du lịch về tâm linh. Vị trí trên trục du lịch Bắc Trung Bộ, đền Cuông là không gian kết nối các điểm đến như chùa Cổ Am, đền thờ Ngô Trí Hòa, chùa Sơn Hải - đền Nẻ Gia Đôi, khu di tích Kim Liên, bãi biển Cửa Lò, đền Quả Sơn, đền Hoàng đế Quang Trung, đền Ông Hoàng Mười và các làng nghề Diễn Châu. Đền Cuông là điểm hành hương có thể phát triển thành trung tâm trải nghiệm văn hóa, giáo dục di sản tạo điểm nhấn là lễ hội đền Cuông - một lễ hội lớn của vùng Bắc Trung Bộ. So với các di tích cùng loại như đền Hùng (Phú Thọ), chùa Hương (Hà Nội) hay đền Trần (Ninh Bình), đền Cuông có quy mô nhỏ hơn nhưng lại nổi bật bởi sự giao thoa giữa văn hóa đồng bằng và văn hóa biển, mang sắc thái riêng của cư dân miền Trung. Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn 2045, đền Cuông được định vị như một điểm đến kết hợp giữa giá trị lịch sử, văn hóa tâm linh trải nghiệm văn hóa địa phương như ẩm thực, trò chơi dân gian. Thu hút du khách, thúc đẩy kinh tế địa phương qua hoạt động du lịch hằng năm đón nhiều nghìn lượt khách hành hương góp phần tăng thu dịch vụ, bán hàng lưu niệm, ẩm thực địa phương giải quyết việc làm cho người dân địa phương. Bên cạnh đó lan tỏa di sản văn hóa như hát ví, phong tục tế lễ tạo môi trường giáo dục lịch sử cho du khách, đặc biệt là thế hệ trẻ trải nghiệm du lịch hiện đại, góp phần tạo bản sắc khác biệt cho Nghệ An trong bản đồ du lịch quốc gia.

Thực trạng bảo tồn trong phát triển du lịch văn hóa tại đền Cuông

Di tích lịch sử - văn hóa đền Cuông đã được Nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng tích cực tham gia tu bổ, tôn tạo. Giai đoạn từ năm 2000-2023, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An phối hợp với Ban Quản lý di tích tiến hành 4 đợt trùng tu chính, tập trung vào Thượng điện, nghi môn và sân tế, với tổng kinh phí hơn 32 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh và xã hội hóa. Công tác bảo tồn được thực hiện theo hướng giữ gìn nguyên trạng, sử dụng vật liệu truyền thống (gỗ lim, ngói mũi hài, sơn son thếp vàng) và kỹ thuật dân gian. Nhiều hiện vật gốc như bia đá năm Minh Mạng thứ 12 (1831), chuông đồng, đồ thờ cổ được phục hồi nguyên mẫu. Tuy nhiên, bảo tồn vẫn tồn tại hạn chế lớn chưa có quy hoạch tổng thể dài hạn, các đợt tu bổ còn rời rạc, công tác số hóa và tư liệu hóa di sản chưa triển khai, gây khó khăn trong lưu trữ và quảng bá giá trị lịch sử.

Qua khảo sát, thực trạng khai thác du lịch văn hóa tại đền Cuông lượng khách tập trung chủ yếu trong dịp lễ hội (tháng 2 âm lịch), dẫn đến hiện tượng cao điểm và trầm lắng. Các hoạt động du lịch mang tính tự phát, đơn điệu, chủ yếu dừng ở hình thức dâng hương, tham quan ngắn ngày, chưa có tour chuyên nghiệp, trọn gói kết nối với các điểm đến khác, hướng dẫn viên còn thiếu đa phần là các tình nguyện viên địa phương phục vụ mùa lễ hội. Dịch vụ ẩm thực, lưu trú, quầy lưu niệm đáp ứng ở mức cơ bản, chưa hình thành chuỗi giá trị du lịch hoàn chỉnh. Hoạt động quảng bá và truyền thông chưa có trang thông tin điện tử riêng, bản đồ hướng dẫn du lịch, hay ứng dụng mã QR giới thiệu di tích khiến mức độ nhận diện của điểm đến trên bản đồ du lịch quốc gia còn hạn chế.

z7449671147882_0b74205bae2a8e35cfa38d8340c0ce68.jpg
Biểu đồ 2: Mức độ nhu cầu của du khách đến với đền Cuông
Nguồn: tác giả, tháng 3/2025 

Kết quả khảo sát cho thấy du lịch văn hóa tâm linh vẫn chiếm ưu thế trong cơ cấu khách đến đền Cuông, tuy nhiên chưa đa dạng. Cụ thể, có 84 du khách chiếm tỷ lệ 84% du khách đến vì mục đích tâm linh phản ánh sức hút của yếu tố thiêng và tín ngưỡng. Tỷ lệ này cũng cho thấy sự phụ thuộc lớn vào hoạt động hành lễ truyền thống, trong khi các hình thức trải nghiệm mở rộng như thiền định, văn hóa nghệ thuật dân gian hay tham quan chuyên đề chưa khai thác. Đáng chú ý, 43 du khách chiếm tỷ lệ 43% kết hợp du lịch tham quan, trải nghiệm cho thấy nhu cầu dịch chuyển của khách du lịch hiện nay không chỉ dừng ở việc đi lễ mà còn muốn được tìm hiểu, tương tác với không gian văn hóa địa phương, tour trải nghiệm lễ hội, kể chuyện lịch sử huyền thoại, lớp học thực hành tín ngưỡng dân gian... Ngược lại, tỷ lệ chỉ 17% với khoảng 17 du khách đến với mục đích nghiên cứu, học tập văn hóa phản ánh một thực tế đền Cuông chưa được khai thác ở khía cạnh giáo dục di sản. Các chương trình tham quan học tập, hoạt động hướng dẫn chuyên đề hoặc trung tâm trưng bày thông tin di tích chưa được học sinh, sinh viên, nhà nghiên cứu chưa quan tâm. Theo khảo sát thực địa năm 2025 trong dịp lễ hội đền có hơn 30 quầy hàng tự phát ở các vỉa hè, lấn chiếm an toàn giao thông và đặc biệt không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, chiếm 35% diện tích sân ngoài, ảnh hưởng đến cảnh quan và không gian thiêng. Các hoạt động đốt vàng mã, quảng cáo thương mại, bán đồ cúng tràn lan, ô nhiễm môi trường, hệ thống giao thông khu vực bãi đỗ xe chỉ chứa được 40-50 ô tô, chưa có trung tâm đón tiếp khách đạt chuẩn. Các sản phẩm du lịch chủ yếu phục vụ hành hương, chưa có tour đêm, sản phẩm trải nghiệm văn hóa, giáo dục di sản cho khách trẻ chưa được quan tâm. Theo Đề án số hóa du lịch Nghệ An (2023), mới có 7/68 điểm di tích được tích hợp dữ liệu số, trong đó Đền Cuông chưa được triển khai. Việc thiếu nền tảng số khiến di tích chưa được quảng bá hiệu quả, giảm tiếp cận nhóm khách quốc tế và thế hệ trẻ. Nhiều nghi lễ, diễn xướng truyền thống như hát phường vải, múa rước kiệu được duy trì hình thức trong lễ hội có nguy cơ bị mai một, tác động của đô thị hóa và phát triển du lịch không kiểm soát làm biến đổi cảnh quan, gây áp lực lên môi trường văn hóa của di tích.

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại đền Cuông theo hướng bền vững

Đền Cuông không chỉ là một điểm văn hóa lịch sử tâm linh của vùng Bắc Trung Bộ mà cần được đặt trong chiến lược phát triển du lịch văn hóa bền vững của Nghệ An đến năm 2030 và tầm nhìn 2045. Cách tiếp cận này phù hợp với xu thế được UNESCO khuyến nghị, trong đó, di tích không chỉ là đối tượng bảo tồn mà còn là không gian tương tác, nơi di sản được sống cùng với đời sống đương đại như:

Bảo tồn nguyên gốc và phát huy giá trị tinh thần đảm bảo bản sắc riêng của di tích

Bảo tồn đền Cuông đặt trọng tâm vào những lớp giá trị văn hóa định hình nên bản sắc của di tích, việc bảo tồn nghi lễ thờ Thục Phán An Dương Vương và công chúa Mỵ Châu. Hoạt động diễn xướng dân gian như hát phường vải, hát văn, múa rước kiệu, kịch bản lễ hội tránh thương mại hóa. Bên cạnh đó, cần xây dựng hồ sơ khoa học về di tích bao gồm tư liệu khảo cổ, kiến trúc, văn bia, tín ngưỡng, nghi lễ, truyền thuyết dân gian, dưới dạng số hóa lưu trữ. Đây là cơ sở quan trọng cho các chương trình nghiên cứu, trưng bày, giáo dục di sản, thực hiện đánh giá hiện trạng di tích định kỳ 5 năm/ lần có sự tham gia của chuyên gia kiến trúc, mỹ thuật và văn hóa dân gian. Các đợt trùng tu phải được tiến hành theo nguyên tắc phục dựng có chứng cứ và tu bổ tối thiểu, tránh việc thêm mới làm giảm giá trị gốc của di tích.

Phát triển sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù, tạo sinh kế cộng đồng

Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu (2025), có thể phát triển ba nhóm sản phẩm trọng tâm như du lịch kể chuyện di sản “Huyền thoại An Dương Vương”, tổ chức không gian kể chuyện kết hợp trình chiếu, diễn xướng hát văn, hoạt cảnh lịch sử, trải nghiệm nghi lễ truyền thống, là sản phẩm có tính giáo dục, phù hợp với du khách trẻ, sinh viên, học sinh. Phát triển du lịch văn hóa lễ hội trải nghiệm, xây dựng mô hình lễ hội với chuỗi hoạt động trưng bày, workshop làm đồ thờ, thi kể chuyện lịch sử, đêm hát văn nhằm kéo dài mùa du lịch, giảm áp lực cao điểm và tạo thêm sinh kế cho người dân địa phương. Khai thác đền Cuông cần phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tích hợp nghi lễ, thiền, nghệ thuật dân gian và trải nghiệm cảnh quan đặc thù. Du lịch liên kết vùng hành trình tâm linh xứ Nghệ kết nối đền Cuông với các điểm du lịch văn hóa lân cận như chùa Cổ Am (xã Minh Châu), đền Quả Sơn (xã Đô Lương), Làng Sen (xã Kim Liên), bãi biển Cửa Lò, đền Ông Hoàng Mười…

Ứng dụng chuyển đổi số, quảng bá di tích và sáng tạo hiện đại hóa công tác quản lý

Căn cứ Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 5/8/2022 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về chuyển đổi số tỉnh Nghệ An đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đối với văn hóa du lịch thì các di tích cũng phải cần được số hóa dữ liệu 3D và tích hợp bản đồ thông minh. Đền Cuông phải là điểm tiên phong triển khai mô hình “di sản số”, gồm các hạng mục xây dựng cơ sở dữ liệu số 3D về kiến trúc, văn bia, nghi lễ, tích hợp trên cổng thông tin điện tử “Du lịch Nghệ An”; ứng dụng mã QR tại từng hạng mục đền, cho phép khách tham quan nghe thuyết minh đa ngôn ngữ” Việt, Anh, Trung, Pháp, Nhật; phát triển tour thực tế ảo (Virtual Tour), giúp du khách trải nghiệm không gian lễ hội, hát văn và các nghi thức tế lễ dù không trực tiếp có mặt. Phát triển sử dụng nền tảng mạng xã hội và truyền thông số (Facebook, YouTube, TikTok, Zalo) lan tỏa hình ảnh di tích đưa di sản đến gần lớp trẻ giúp nâng cao hiệu quả quảng bá, giáo dục di sản trực tuyến, hỗ trợ bảo tồn tri thức dân gian và cộng đồng.

Phát huy vai trò cộng đồng và các chủ thể có liên quan

Bền vững của di sản gắn liền với sự tham gia của cộng đồng, đền Cuông có lợi thế là người dân địa phương gắn bó chặt chẽ với di tích, sự tham gia hiện nay chủ yếu mang tính tự phát. Cần hình thành mô hình quản trị Nhà nước - doanh nghiệp - cộng đồng, trong đó, nhà nước giữ vai trò hoạch định chính sách, cấp phép và giám sát; doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, tổ chức tour, marketing; cộng đồng địa phương trực tiếp tham gia dịch vụ du lịch, hướng dẫn, biểu diễn và gìn giữ nghi lễ. Thành lập câu lạc bộ Nghệ nhân - Hướng dẫn viên văn hóa đền Cuông quy tụ các thày tế, nghệ nhân hát văn, người cao tuổi để truyền dạy cho thế hệ trẻ. Mô hình này đã được áp dụng thành công ở đền Trần (Ninh Bình) và đền Hùng (Phú Thọ). Việc đưa giáo dục di sản vào trường học “Học cùng di sản đền Cuông” giúp thế hệ trẻ hiểu về văn hóa địa phương là cách bảo tồn bền vững trong nhận thức và hành động cộng đồng. Đền Cuông trở thành trung tâm du lịch văn hóa cấp vùng Bắc Trung Bộ, cần thực hiện lộ trình đến năm 2030, tầm nhìn 2045 về hoàn thiện cơ sở hạ tầng, số hóa di tích, đào tạo nhân lực du lịch cộng đồng. Hình thành sản phẩm du lịch đặc thù, tour liên kết vùng, mở rộng trải nghiệm các hoạt động quanh năm, phát triển bền vững du lịch văn hóa.

4. Kết luận

Di tích đền Cuông, điểm du lịch văn hóa về giá trị lịch sử, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa xứ Nghệ, nơi lưu giữ câu chuyện Thục Phán An Dương Vương và tinh thần dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt. Qua hàng nghìn năm, di tích như chứng nhân lịch sử, không gian sống của ký ức cộng đồng gắn kết quá khứ với hiện tại, con người với thiên nhiên, tâm linh với đời thực. Gắn với phát triển du lịch văn hóa thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong trùng tu kiến trúc, phục hồi lễ hội và thu hút khách du lịch. Tuy nhiên, các hoạt động còn thiếu tính hệ thống, sản phẩm du lịch văn hóa chưa đa dạng, vai trò cộng đồng chưa được phát huy và công nghệ số chưa được ứng dụng hiệu quả. Định hướng bảo tồn và phát triển du lịch tại đền Cuông cần hướng tới là điểm di tích không gian du lịch hành hương, lễ hội trở thành sự kiện văn hóa, nghi lễ trở thành trải nghiệm, người dân trở thành người kể chuyện di sản bước vào đời sống hiện đại với diện mạo mới được lan tỏa tích cực.

Thứ nhất, đền Cuông là không gian thiêng liên kết không gian cảnh quan, tuyến lễ hội, làng nghề, ẩm thực, hình thành cụm sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của tỉnh Nghệ An bảo đảm sức chứa của di tích.

Thứ hai, bảo tồn giá trị văn hóa làm điểm nhấn để phát triển du lịch văn hóa ưu tiên tu bổ dựa trên tư liệu gốc, hồ sơ định danh giá trị, bảo tồn nghi lễ, tri thức dân gian và ký ức cộng đồng song hành với kiến trúc vật thể.

Thứ ba, phối hợp các chủ thể tham gia như chính quyền, cộng đồng và doanh nghiệp phối hợp minh bạch về trách nhiệm, lợi ích, chia sẻ doanh thu cho quỹ bảo tồn di tích, cộng đồng có quyền tham gia quyết định kịch bản lễ hội, dịch vụ diễn giải, kiểm soát thương mại hóa.

Thứ tư, ứng dụng chuyển đổi số trong diễn giải số hóa tư liệu, dựng tour ảo/AR, vé điện tử phân luồng khách theo khung giờ, bảng diễn giải đa ngôn ngữ, chuẩn hóa quy ước hình ảnh, biểu tượng tránh sai lệch ngữ cảnh.

Thứ năm, phát triển sản phẩm diễn giải tour kể chuyện lịch sử, không gian trình diễn dân gian, ấn phẩm quà tặng mang bản sắc văn hóa địa phương.

Việc phát triển du lịch văn hóa tại đền Cuông cần dựa trên sự trao quyền cho cộng đồng, tạo sinh kế bền vững và tăng cường liên kết di sản của vùng Bắc Trung Bộ. Cách tiếp cận này bảo vệ di tích, biến di sản thành tài sản cho phát triển bền vững hoạt động du lịch tại tỉnh Nghệ An hiện nay. Bối cảnh đương đại, bảo tồn di tích không tách rời mục tiêu phát triển du lịch văn hóa bền vững. Nghiên cứu cho thấy giá trị của di tích đền Cuông với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nghệ An góp phần nâng cao vị thế văn hóa Nghệ An trong bản đồ du lịch quốc gia, tạo tiền đề cho sự phát triển của mô hình du lịch văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số.

___________________________

Tài liệu tham khảo

1. Bekele, M.K. et al. (2018). A survey of augmented reality (Tổng quan về công nghệ ảo). Journal of Cultural Heritage.

2. Quyết định số 2486/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

3. Feilden, B.M. (2003). Conservation of Historic Buildings (Bảo tồn các công trình lịch sử). Architectural Press.

4. Nguyễn Thị Hiền. (2017). Tín ngưỡng và du lịch tâm linh ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

5. Jimura, T. (2016). The impact of world heritage site designation on local communities: A case study of Kii Mountain pilgrimage routes in Japan (Tác động của danh hiệu Di sản Thế giới đối với cộng đồng địa phương: Trường hợp các tuyến hành hương vùng núi Kii (Nhật Bản). Journal of Heritage Tourism. Vol 11. No 2.

6. Quốc hội. (2024). Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2024).

7. Quốc hội. (2017). Luật Du lịch. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

8. Richards, G. (2018). Cultural Tourism: A review of recent research and trends (Du lịch văn hóa: Tổng quan các nghiên cứu và xu hướng gần đây). Journal of Hospitality and Tourism Management.

9. Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 5/8/2022 về chuyển đổi số tỉnh Nghệ An đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

10. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An. (2023). Báo cáo tổng kết công tác bảo tồn di tích năm 2020-2023.

11. UNESCO. (1972). Convention Concerning the Protection of the World Cultural and Natural Heritage (Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới). https://whc.unesco.org/en/convention/

12. UNWTO. (2018). Tourism and Culture Synergies (Du lịch và Văn hóa: Sự cộng hưởng tạo giá trị). UNWTO. DOI: https://doi.org/10.18111/9789284418978

13. Hồ Thị Thanh Vân. (2020). Thiết kế trải nghiệm văn hóa cho du lịch tâm linh. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 21/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 3/2/2026; Ngày duyệt bài: 20/2/2026.

TS NGUYỄN THỊ THANH LOAN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026