Từ khóa: di sản văn hóa phi vật thể; tri thức địa phương; rừng ngập mặn; vùng duyên hải; Hưng Yên.
Abstract: This article explores the Con Tien tidal flat through an anthropological lens of indigenous knowledge and intangible cultural heritage, focusing on how coastal communities sustain, enact and reproduce local knowledge in the process of livelihood-making and adaptation to wetland environments. Based on ethnographic fieldwork, the study demonstrates that knowledge of tidal rhythms, lunar cycles, salinity and seasonal patterns forms an integrated system of practical knowledge accumulated, transmitted and coastal environmental degradation, this knowledge continues to be applied flexibly in local livelihood practices, especially in the mangrove nursery model on the intertidal flats. The article argues that the indigenous knowledge of Dong Chau residents should be understood as a form of living culture, embedded in everyday labor and expressed through the ability to read and respond to the natural environment. As it is continuously reproduced and adapted, this ecological knowledge constitutes a significant cultural resource for wetland conservation and sustainable coastal livelihoods.
Keywords: intangible cultural heritage, local knowledge; mangrove forests; coastal region; Hung Yen.
1. Đặt vấn đề
Bãi Cồn Tiên nằm ở một vùng ven biển còn khá hoang sơ, thuộc xã Đồng Châu, tỉnh Hưng Yên, trước ngày 1/7/2025 thuộc xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Khu vực này nằm ở phía Nam đồng bằng sông Hồng, được hình thành qua quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, đồng thời gắn với lịch sử quai đê, khai hoang và lấn biển kéo dài qua nhiều thế hệ cư dân ven biển. Bên cạnh giá trị sinh kế, bãi Cồn Tiên còn là một không gian sinh thái trọng yếu của vùng ven biển Đồng Châu vì gắn chặt với khu vực đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải.
Việc thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải” vào năm 2014 và việc xác lập lại vị trí, ranh giới, diện tích Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải năm 2024 cho thấy chủ trương phát triển của chính quyền luôn đề cao nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái nhưng vẫn đặt sinh kế cư dân trong quan hệ hữu cơ với hệ sinh thái đất ngập nước (Trung Du, 2024). Do đó, Cồn Tiên vừa là một hệ sinh thái nơi quần tụ của nhiều loài thủy sinh, chim nước và các dạng sống đặc trưng của vùng cửa sông giúp người dân mưu sinh, đồng thời đây cũng là lá chắn các hiểm họa thiên tai như bão, gió từ biển bảo vệ không gian sống của người dân và các sinh kế phía trong đê. Vì vậy, việc bảo vệ khu vực bãi triều không chỉ mang ý nghĩa đối với địa phương, mà còn gắn với các cam kết bảo tồn trong phạm vi Khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng.
Một nghiên cứu thực hiện tại huyện Tiền Hải (trước đây) - khu vực ven biển có diện tích đất ngập mặn lớn nhất tỉnh Thái Bình (cũ) đã phân tích sự biến đổi của đất mặn sau 29 năm sử dụng đất (1987-2016) và dự báo xu hướng xâm nhập mặn trong tương lai. Kết quả cho thấy diện tích đất có khả năng bị nhiễm mặn tại các xã thuộc huyện Tiền Hải có thể lên tới 18.381,0ha, trong đó 6.589,7ha bị nhiễm mặn nặng, 11.370,2ha nhiễm mặn trung bình và 421,1ha nhiễm mặn ít (Hoàng Thị Huyền Ngọc và cộng sự, 2017). Trước những biến đổi của điều kiện môi trường khắc nghiệt đó, từ khoảng những năm 1980, người dân nơi đây đã chủ động thích nghi bằng hệ thống tri thức địa phương dựa vào tự nhiên. Những tri thức này không chỉ giúp ngư dân xác định thời điểm thích hợp để ra khơi, mà còn được ứng dụng vào hoạt động sản xuất trên bãi với mô hình sinh kế nông - ngư kết hợp, góp phần quan trọng vào khả năng thích ứng với những thay đổi về môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở vùng ven biển.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết dựa trên tư liệu điền dã dân tộc học được thu thập tại khu vực bãi Cồn Tiên, xã Đồng Châu, tỉnh Hưng Yên. Từ tháng 10/2025 đến tháng 1/2026, tác giả đã thực hiện 5 đợt điền dã, mỗi đợt kéo dài từ 2-3 ngày. Tác giả đã quan sát các hoạt động lao động đa dạng, cuộc sống thường nhật của người dân địa phương thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu và trò chuyện với nhóm phụ nữ tham gia trồng cây, nhóm ngư dân đi biển, người quản lý vườn ươm, cán bộ Khu quản lý bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải. Đồng thời, thu thập các tài liệu tại địa phương bao gồm các ghi chép của người dân (chủ yếu là kinh nghiệm của những người làm nghề lâu năm) và các báo cáo của địa phương (cấp huyện). Bên cạnh dữ liệu điền dã, chúng tôi thu thập, đối chiếu và phân tích các nguồn tư liệu thứ cấp bao gồm các công trình nghiên cứu và các tư liệu địa phương liên quan đến khu vực rừng ngập mặn, xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển.
Tác giả đã tiếp cận tri thức địa phương của cư dân vùng bãi triều từ góc nhìn di sản văn hóa phi vật thể và các khái niệm liên quan bao gồm văn hóa sống (living culture) và di sản sống (living heritage). Theo Công ước 2003 của UNESCO, di sản văn hóa phi vật thể là những thực hành, biểu đạt, tri thức và kỹ năng được cộng đồng thừa nhận là của mình được truyền qua nhiều thế hệ và không ngừng được tái tạo trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, lịch sử và bối cảnh xã hội. Đồng thời, bài viết cũng tham khảo góc nhìn nhân học về di sản của Oscar Salemink, theo đó di sản không nên được hiểu như một thực thể cố định, hoàn tất để chiêm ngưỡng mà cần được nhìn nhận như một thực hành luôn vận động, nằm ở giao điểm các chiều kích không gian và thời gian, xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị như một “hệ thống di sản” (heritage regime) vừa mang tính địa phương vừa gắn với các diễn ngôn toàn cầu.
Bài viết đặt trọng tâm vào những con người đang sống với di sản trong hiện tại, là những chủ thể đang thực hành, trao truyền và tái tạo tri thức sinh thái địa phương trong đời sống hằng ngày. Cách tiếp cận này cho phép hệ thống tri thức về con nước, độ mặn, mùa vụ và ứng dụng của chúng trong việc chăm sóc cây ngập nước được nhìn nhận không chỉ như kỹ năng mưu sinh mà còn là di sản văn hóa phi vật thể sống gắn với môi trường vùng bãi triều và khả năng thích ứng của cộng đồng trước những biến đổi về môi trường tự nhiên và xã hội.
3. Kết quả và thảo luận
Di sản sống là vốn văn hóa của người dân để phát triển sinh kế và thích ứng với biến đổi môi trường và khí hậu
Trong bối cảnh môi trường ven biển đồng bằng sông Hồng suy thoái nhanh, quá trình như xâm nhập mặn trong đất và rủi ro khí hậu cực đoan đang làm gia tăng tính bấp bênh của sinh kế địa phương. Ở quy mô ven biển tỉnh Hưng Yên, các đánh giá dựa trên chuỗi quan trắc cho thấy xâm nhập mặn có thể vào sâu nội đồng hàng chục cây số và xu hướng tương lai được nhận định ngày càng nghiêm trọng dưới tác động của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh ấy, vườn ươm cây bần ở bãi Cồn Tiên không nên chỉ được nhìn như một mô hình sinh kế hay một giải pháp kỹ thuật đơn lẻ, mà như một không gian thực hành nơi cộng đồng huy động vốn tri thức sinh thái bản địa để đọc môi trường, canh thời vụ và tổ chức lao động theo nhịp của thủy triều, độ mặn, chu kỳ mặt trăng và những biến đổi tinh vi của bãi triều.
Di sản văn hóa phi vật thể, hay “văn hóa sống” (living culture)/ “di sản sống” (living heritage), được UNESCO xác định là những thực hành, biểu đạt, tri thức và kỹ năng được cộng đồng thừa nhận là của mình, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và không ngừng tái tạo trong quan hệ với môi trường, tự nhiên và lịch sử. Từ góc nhìn nhân học về di sản, điều đáng chú ý không nằm ở chỗ những tri thức ấy đã có từ rất lâu mà ở chỗ chúng còn đang được sống, thực hành và tái tạo như thế nào trong hiện tại (UNESCO, 2003). Theo Oscar Salemink (2021), đóng góp riêng của nhân học là không xem di sản như một vật thể đã hoàn tất để chiêm ngưỡng, mà xem nó như một thực hành nằm ở giao điểm của các chiều kích không gian và thời gian, xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị trong một “heritage regime” vừa địa phương vừa toàn cầu. Đồng thời, đối với di sản phi vật thể, trọng tâm phải đặt vào những con người đang sống với di sản trong hiện tại, đang hiện thân, thực hành và tái tạo nó mỗi ngày.
Theo cách hiểu đó, tri thức của cư dân Đồng Châu về lịch con nước, ngày nghén nước, kinh nghiệm quan sát trăng, nhận biết độ mặn, cùng kỹ năng ươm và chăm cây bần, có thể được xem như một dạng di sản văn hóa phi vật thể. Đối với người dân vùng này, nó là văn hóa sống (Oscar Salemink, 2021) tích lũy qua thời gian sống và làm việc với môi trường đất ngập nước của cộng đồng ven biển này. Nó không tồn tại như ký ức đóng băng hay một mẩu truyền thống được lưu giữ cho đẹp hồ sơ mà hiện diện trong chính nhịp sống lao động: người dân canh tháng âm lịch để trồng cây ngập mặn, sắp xếp mùa vụ lúa cho phù hợp với chu kỳ trồng bần và tận dụng những ngày nước lớn để khai thác cáy, cua, hải sản ven bờ nhằm bổ sung thu nhập. Nói cách khác, đây là thứ văn hóa thấm đượm trong mỗi người dân sống ở vùng đất này, thể hiện trong kinh nghiệm cảm nước, đọc trăng, đo mặn và trong những quyết định rất cụ thể về lúc nào gieo, lúc nào giữ, lúc nào ra bãi. Chính vì thế, di sản này không chỉ là những gì được thừa kế từ quá khứ, mà còn làm nên năng lực thực hành giúp cộng đồng thích ứng với bất định môi trường, duy trì sinh kế và bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước trong hiện tại.
Tri thức về lịch con nước và lịch vầng trăng
Từ thời tiền đến sơ sử, vùng đất Thái Bình đã là địa bàn cư trú gắn với quá trình khai hoang, quai đê và lấn biển của các cộng đồng cư dân ven châu thổ Bắc Bộ. Trong tiến trình lịch sử lâu dài ấy, con người không chỉ thích ứng với môi trường đồng bằng ven biển luôn biến đổi mà còn từng bước cải tạo tự nhiên để kiến tạo không gian sinh tồn và tổ chức sinh kế. Đối với người dân nơi đây, việc nhận biết và tính toán quy luật lên xuống của thủy triều không chỉ là một kinh nghiệm dân gian mang tính cảm tính mà là một dạng tri thức thực hành có cấu trúc, được tích lũy qua quan sát lâu dài, kiểm nghiệm trong đời sống sản xuất và truyền lại qua nhiều thế hệ.
Đầu tiên, tri thức về con nước giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Trong cách hiểu của người dân, việc tính con nước chủ yếu nhằm xác định “ngày con nước” và “ngày nghén nước”, tức những mốc quan trọng trong chu trình vận động của thủy triều. Theo cách lý giải bản địa, “ngày con nước” là ngày bắt đầu của một con nước mới, thời điểm nước vận động theo chiều từ sông ra biển, từ biển vào sông, khi nước mặn và nước ngọt gặp nhau, hòa trộn và tạo nên một trạng thái nước mới. Cách gọi này phản ánh rõ lối tư duy kinh nghiệm của cư dân địa phương trong việc quan sát quy luật vận động của môi trường nước. Dựa trên sự lặp lại có tính chu kỳ, người dân đúc kết rằng một chu trình con nước thông thường gồm 14 con nước tính từ ngày đầu tiên; riêng tháng 2 và tháng 8 âm lịch cụ thể là từ ngày 17 đến ngày 29 chỉ có 12 con nước. Trong 14 con nước thì con nước cuối được gọi là “con nước nghén”, tức con nước chuyển tiếp để chuẩn bị cho một chu kỳ kế tiếp.
Tri thức con nước của cư dân địa phương không chỉ dừng lại ở việc nhận diện và gọi tên các con nước mà còn bao hàm năng lực dự báo nhịp điệu lên xuống của thủy triều. Theo kinh nghiệm của người dân, trong một ngày triều thường có một lần nước lớn và một lần nước ròng. Đồng thời, thời điểm nước lên của ngày kế tiếp thường chênh lệch khoảng 2 giờ so với ngày trước đó. Việc xác định thời gian của con nước thường được tính bắt đầu từ mốc “trăng mọc nước trào”; từ thời điểm nước trào, sau khoảng 12 giờ nước sẽ xuống và căn cứ vào quy luật mỗi ngày lệch thêm khoảng 2 giờ, người dân có thể tiếp tục tính ra thời điểm nước trào và nước ròng của những ngày tiếp theo. Việc nắm bắt quy luật vận động của con nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động sản xuất ở bãi triều, nhất là trong việc lựa chọn thời điểm xuống trồng cây. Theo người dân địa phương, khi mực nước dâng quá cao chẳng hạn vượt khoảng 1,5m việc di chuyển tiếp cận khu vực canh tác và tổ chức lao động sẽ trở nên khó khăn thậm chí không thể thực hiện.
Bên cạnh đó, cư dân địa phương còn đúc kết được những quy luật mang tính mùa vụ của thủy triều. Theo kinh nghiệm dân gian, từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch, nước thường lên vào ban ngày; từ tháng 9 đến tháng Chạp, nước lại có xu hướng lên vào ban đêm. Trong chu trình 14 ngày của một con nước, những ngày nước cường nhất thường rơi vào các con nước thứ 7, 8, 9, 10, 11. Đây là những thời điểm nước lên cao và rút xuống mạnh nhất, tạo nên sự biến động lớn của mặt bãi triều. Trong điều kiện thời tiết cực đoan như mưa lớn hoặc bão, mực nước có thể dâng rất cao, lên cao nhất có thể là 4m. Người dân cũng phân biệt khá rõ sự khác nhau giữa mùa mưa lũ và mùa khô: vào mùa mưa, nước ròng thường không xuống kiệt mà có thể mới rút đến khoảng 0,5m đã bắt đầu trào trở lại. Trong khi đó, vào mùa khô hoặc những thời điểm ít mưa, nước có thể ròng xuống 0m rồi mới dâng trở lại. Những quan sát này cho thấy tri thức địa phương không chỉ dựa trên chu kỳ thủy triều đơn thuần mà còn gắn với việc theo dõi tác động của thời tiết và mùa vụ.
Việc quan sát thủy triều của người dân gắn liền với tri thức về chu kỳ vận động của mặt trăng. Chẳng hạn, kinh nghiệm “đầu tháng, trăng mọc nước trào/ cuối tháng, trăng mọc nước xuống” phản ánh khi trăng xuất hiện vào đầu tháng nước sẽ bắt đầu lên và cuối tháng khi trăng mọc nước sẽ xuống. Việc theo dõi trăng rất quan trọng để nhận biết nước đang lên hay đang xuống giúp cộng đồng dự đoán tương đối chính xác thời gian phù hợp cho các hoạt động sản xuất. Từ những quan sát được tích lũy qua năm tháng, người dân địa phương đã hình thành nên một dạng “lịch con nước” cho cả 12 tháng:

theo Phạm Thị Hà Xuyên (2016)
Ứng dụng tri thức về thủy triều và chu kỳ vầng trăng để phát triển sinh kế bền vững
Đặc thù sinh kế vùng bãi triều mang tính đa dạng, đan xen và không có sự phân định tuyệt đối giữa nghề chính với nghề phụ. Trong quan niệm của cư dân địa phương, lịch con nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi đời sống mưu sinh của họ không chỉ gắn với hoạt động đi biển mà còn bao gồm trồng cây ở bãi triều, trồng cây trên đất liền và canh tác lúa nước. Những ngày bắt đầu của “một con nước” thường được người dân ghi dấu trực tiếp trên lịch treo trong nhà như một cách chủ động theo dõi chu kỳ thủy triều và sắp xếp công việc hằng ngày cho phù hợp. Một trong những sinh kế mới góp phần nâng cao tính bền vững tại địa phương là hoạt động trồng cây ngập mặn tại vườn ươm. Mô hình này vừa cung cấp cây cho việc phục hồi và phát triển rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, vừa tạo ra sinh kế chủ động cho cộng đồng cư dân địa phương, gắn lợi ích kinh tế với mục tiêu bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước.
Đối với nghề trồng cây ngập nước, việc xác định đúng con nước là điều kiện quan trọng để lựa chọn thời điểm xuống giống, bảo đảm cây trồng không bị úng, đồng thời tạo thuận lợi cho việc trồng và chăm sóc cây. Chẳng hạn, 4 đến 5 ngày đầu của một chu kỳ con nước, mực nước chưa dâng quá cao, cường độ lên xuống của nước còn tương đối ổn định nên khu vực vườn ươm và bãi trồng chưa rơi vào tình trạng ngập úng. Nhờ đó, người dân có thể tiếp cận không gian sản xuất thuận lợi hơn và tiến hành các công việc canh tác với hiệu quả cao hơn. Theo kinh nghiệm địa phương, khi nước rút, người dân thường tranh thủ ra bãi trồng cây khoảng 4 đến 5 tiếng bắt đầu từ lúc nước ròng vào buổi sáng và 3 đến 4 tiếng vào buổi chiều trước khi nước trào, một ngày công sẽ được tính từ 8 giờ đến 16 giờ. Điều này cho thấy nhịp độ lao động của cư dân không vận hành theo thời gian đồng hồ mang tính cơ giới, mà chủ yếu được điều tiết bởi nhịp điệu sinh thái của thủy triều. Ngược lại, từ ngày con nước thứ 7 đến ngày con nước thứ 11 là giai đoạn nước cường, khi mực nước dâng cao hơn và vận động mạnh hơn làm gia tăng những bất lợi đối với hoạt động trồng trọt. Trong khoảng thời gian này, theo quan sát của người dân, các loài tôm, cá, cáy thường bị nước đẩy dạt vào gần bờ hoặc xâm nhập vào khu vực vườn ươm. Chúng lưu lại trong thời gian nước ngập cao và có thể ăn cây non hoặc làm tổn hại đến rễ của những cây đang phát triển.
Bên cạnh đó, “ngày nghén nước” được người dân xem là thời điểm con nước xuống đến mức cực tiểu nhưng dòng chảy lại khá xiết, bởi đây là giai đoạn chuyển tiếp để chuẩn bị cho sự hình thành của một con nước mới. Cách gọi này cho thấy cư dân địa phương không nhìn nhận thủy triều như một hiện tượng vật lý đơn thuần, mà còn diễn giải nó thông qua hệ thống tri thức bản địa giàu tính hình tượng và kinh nghiệm. Mỗi chu kỳ con nước thường có khoảng 6 ngày nước tương đối tĩnh lặng, bao gồm những ngày đầu của chu kỳ nước mới và ngày cuối của chu kỳ nước cũ, tức “ngày nghén nước”. Những ngày này được người dân xem là khoảng thời gian thuận lợi nhất cho hoạt động trồng trọt, bởi nước không quá mạnh, không quá cao và tạo điều kiện để lao động ngoài bãi triều diễn ra thuận tiện hơn.
Từ việc quan sát chiều nước lên xuống kết hợp với kinh nghiệm sản xuất lâu dài, cư dân địa phương còn phân chia trong năm thành hai mùa nước chính, gồm mùa lạnh khô và mùa nước lũ. Mùa lạnh khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 2 âm lịch. Đây là giai đoạn nước ven bờ thường thấp hơn, đồng thời chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh, tạo nên điều kiện môi trường lạnh và khô hơn, ít thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây trồng ngập nước. Trong khi đó, mùa nước lũ kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 âm lịch. Vào thời gian này, nước lũ từ rừng theo các nhánh sông đổ ra biển, làm thay đổi mực nước và chế độ thủy văn ven bờ. Tuy nhiên, nếu xét trong mối quan hệ với lịch con nước và điều kiện thời tiết phù hợp đây lại là thời kỳ cây trồng phát triển tương đối thuận lợi, mặc dù vẫn tiềm ẩn những rủi ro do bão lũ gây ra. Thực tế này cho thấy, người dân không nhìn nhận môi trường chỉ qua lăng kính thuận lợi hay bất lợi một cách đơn tuyến, mà luôn đánh giá nó trong mối quan hệ động giữa nước, thời tiết, mùa vụ và khả năng thích ứng của cây trồng.
Lịch con nước hay lịch thủy triều cũng là những yếu tố rất quan trọng được người nông dân nhận biết để xác định tháng nên trồng cây trong năm. Tháng nào mà 8 giờ đến 10 giờ nước lên rồi rút thì sống 80% còn tháng nào mà nước lên từ 8 giờ đến 16 giờ thì sống 60% đến 70%. Cụ thể là mùa Hè từ tháng 2 đến tháng 7 âm lịch là cây sẽ phát triển tốt. Ngược lại từ tháng 8 âm lịch đổ đi và vào mùa Đông thì cây sẽ phát triển kém vì giữ nước được có 3 tiếng một ngày, không kịp thoát hết nước lại lên, rút chậm, ngập úng làm cây ít quang hợp nên cây còi cọc kém phát triển. Các cụ có câu “Tháng 8 trâu bò ra, tháng 3 trâu bò về” có nghĩa là tháng 8 nước to, nước lên ngập vào ban ngày và tháng 3 nước lên vào ban đêm.
Khu vực bãi Cồn Tiên xã Đồng Châu là một trường hợp tiêu biểu cho mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với môi trường bãi triều, cửa sông và ven biển. Đây là nơi sinh kế của cư dân từ lâu đã gắn liền với cả hoạt động khai thác biển lẫn sản xuất nông nghiệp, qua đó hình thành một hệ thống tri thức địa phương đặc thù, nhằm trong đó việc nhận biết nhịp điệu tự nhiên của thủy triều để thích ứng và tận dụng trong hoạt động sinh kế. Trong bối cảnh hiện nay, khi sinh kế ở xã Đồng Châu đang có sự chuyển dịch theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường ven biển, tri thức con nước tiếp tục cho thấy giá trị thực tiễn rõ nét. Tri thức này không chỉ phục vụ hoạt động khai thác biển hay canh tác lúa nước truyền thống mà còn được vận dụng trong các mô hình sinh kế mới, đặc biệt là trồng các loài cây chịu ngập ở khu vực bãi triều.
4. Kết luận
Tri thức địa phương về lịch con nước, lịch vầng trăng, độ mặn, mùa vụ và kỹ thuật trồng, chăm sóc cây ngập nước của người dân ở bãi Cồn Tiên không chỉ là những kinh nghiệm sản xuất rời rạc mà cấu thành một hệ thống tri thức thực hành được tích lũy lâu dài trong quá trình lao động vùng bãi triều. Hệ tri thức này được hình thành trong mối quan hệ tương tác chặt chẽ giữa con người và môi trường ven biển được kiểm nghiệm qua nhiều thế hệ và liên tục được điều chỉnh trước những biến động của điều kiện tự nhiên.
Trên phương diện văn hóa, đây là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể của địa phương đồng thời là văn hóa sống của cộng đồng ven biển. Giá trị của hệ thống tri thức này không nằm ở tính lâu đời tự thân mà ở khả năng tiếp tục được thực hành, truyền dạy và tái tạo trong đời sống hằng ngày. Tri thức địa phương không chỉ là kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm mà được hiện diện như một phương thức thích ứng và một hình thức gắn bó sâu sắc giữa cộng đồng với hệ sinh thái đất ngập nước. Chính trong lao động thường nhật, di sản ấy được duy trì và tái sản xuất như một nguồn lực quan trọng để bảo đảm sinh kế bền vững, giảm thiểu rủi ro môi trường và gìn giữ không gian sinh thái ven biển (1).
_______________________________
1. Bài viết là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên trọng điểm “Từ tri thức sinh thái đến di sản sống: Di sản văn hóa phi vật thể vùng rừng ngập mặn và sinh kế bền vững ven biển Hưng Yên trong bối cảnh biến đổi khí hậu” (mã số SV.2026.14). Đề tài do Nguyễn Hà Thanh làm chủ nhiệm dưới sự hướng dẫn của TS Phan Phương Anh và được Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tài trợ.
Tài liệu tham khảo
1. Đỗ Đức Thắng, Trần Hồng Thái, Võ Văn Hòa. (2019). Đánh giá thực trạng và dự tính khả năng xâm nhập mặn cho khu vực ven biển tỉnh Thái Bình. Tạp chí Khí tượng Thủy văn. Số 699.
2. Hoàng Thị Huyền Ngọc, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Dũng, Vũ Thị Thu Hường. (2017). Thực trạng và khả năng xâm nhập mặn huyện Tiền Hải, Thái Bình. Tạp chí Khoa học Đất. Số 52.
3. Oscar Salemink. (2021). Anthropologies of Cultural Heritage (Nhân học về di sản văn hóa) trong The SAGE Handbook of Cultural Anthropology. SAGE Publications.
4. Phạm Thị Hà Xuyên. (2016). Tri thức dân gian trong đánh bắt hải sản hiện nay của cư dân xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Luận văn Thạc sĩ Dân tộc học, Học viện Khoa học xã hội.
5. Trung Du. (2024, 23 tháng 8). Giữ nguyên 12.500ha khu bảo tồn thiên nhiên ở Tiền Hải. Báo điện tử Lao động. https://laodong.vn/bat-dong-san/giu-nguyen-12500ha-khu-bao-ton-thien-nhien-o-tien-hai-1383658.ldo
6. UNESCO. (2003). Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. https://ich.unesco.org/doc/src/00009-VI-PDF.pdf
Ngày Tòa soạn nhận bài: 15/2/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 18/3/2026; Ngày duyệt đăng: 30/3/2026.
NGUYỄN HÀ THANH - TS PHAN PHƯƠNG ANH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026