Từ khóa: lễ hội biển; Thanh Hóa; giá trị văn hóa; biến đổi; du lịch sự kiện.
Abstract: This paper examines Thanh Hoa sea festivals in the post-pandemic tourism recovery context and the ongoing “eventization” of festivals. It identifies key cultural values, analyzes contemporary transformations driven by market dynamics, destination governance, and digital media, and offers sustainability-oriented governance implications. A qualitative secondary-data design is applied through a literature review, policy/statistical analysis, and an interpretive case illustration. Findings indicate that Thanh Hoa sea festivals increasingly function as a planned “event system” comprising seasonal opening ceremonies, staged performances, sport-recreation activities, service/cuisine spaces, and digital communication. Cultural values are articulated in four layers: spiritual-belief, community-social, artistic-aesthetic, and environmental-livelihood knowledge. While eventization, professionalization, and commercialization support promotion and demand stimulation, they also heighten risks to cultural authenticity, equitable benefit distribution, and environmental/carrying-capacity sustainability. The paper proposes balancing cultural authenticity and economic effectiveness through living-heritage-based narratives, strengthened community co-governance, event life-cycle impact management, and multidimensional evaluation.
Keywords: sea festival; Thanh Hoa; cultural values; transformation; event tourism.

Ảnh: tác giả cung cấp
1. Đặt vấn đề
Thanh Hóa được nhận diện như một không gian văn hóa và xã hội mang tính liên vùng, giữ vai trò kết nối với khu vực đồng bằng Bắc Bộ tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu dân cư, trao đổi kinh tế và lan tỏa các thực hành văn hóa. Dải ven biển của địa phương đồng thời hình thành hệ thống khu và điểm du lịch quan trọng, qua đó làm nổi bật vai trò của biển trong cấu trúc phát triển cũng như trong đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân. Trong bối cảnh du lịch Việt Nam phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch, các địa phương ven biển có xu hướng tái khởi động và nâng cấp chuỗi hoạt động khai trương mùa du lịch, lễ hội biển và các sự kiện gắn với du lịch biển như một công cụ quản trị điểm đến, đồng thời như một chiến lược truyền thông nhằm củng cố hình ảnh địa phương trên thị trường và trong không gian công luận (Page & Getz, 2016). Sự dịch chuyển này phản ánh quá trình chuyển đổi từ việc tổ chức lễ hội như một nhịp sinh hoạt văn hóa của cộng đồng sang việc vận hành lễ hội như một cấu phần trong hệ thống quản trị phát triển du lịch, nơi các mục tiêu về thu hút khách, gia tăng chi tiêu, kiểm soát rủi ro và tối ưu hiệu quả truyền thông trở thành tiêu chí thiết kế chương trình (Getz, 2008).
Bức tranh phục hồi của du lịch ở cấp độ quốc gia được phản ánh khá rõ trong các ấn phẩm “Thông tin du lịch”, nơi các chỉ báo về lượng khách quốc tế, lượng khách nội địa và tổng thu từ du lịch được sử dụng như căn cứ điều hành và định hướng chính sách. Báo cáo tháng 5/2024 ghi nhận mức tăng đáng kể của khách quốc tế trong 5 tháng đầu năm, cho thấy tín hiệu phục hồi sớm của thị trường và gợi mở nhu cầu gia tăng năng lực cung ứng dịch vụ tại các địa phương có lợi thế du lịch (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 2024). Báo cáo tháng 12/2024 tổng hợp kết quả cả năm với các chỉ số về khách quốc tế, khách nội địa và tổng thu, qua đó tạo nền bối cảnh thúc đẩy gia tăng tần suất và quy mô các hoạt động lễ hội và sự kiện tại các địa bàn du lịch biển, trong đó có Thanh Hóa (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 2024). Trên nền tảng đó, lễ hội biển dần được tổ chức theo logic của sự kiện có kế hoạch, nhằm đạt đồng thời các mục tiêu kinh tế và xã hội, bao gồm quảng bá hình ảnh điểm đến, điều phối dòng khách theo mùa vụ, kích hoạt tiêu dùng dịch vụ và tạo ra các trải nghiệm có khả năng lan tỏa trên truyền thông số (Getz, 2013).
Cơ sở lý luận về du lịch sự kiện cung cấp khung diễn giải cho sự chuyển dịch nêu trên khi nhấn mạnh rằng sự kiện có thể trở thành một công cụ chiến lược trong phát triển điểm đến, vừa định hình sức hấp dẫn của nơi chốn vừa tạo ra các cơ hội kinh doanh và quản trị hình ảnh. Cách tiếp cận xem du lịch sự kiện là một lĩnh vực thực hành nghề nghiệp đồng thời là một đối tượng nghiên cứu giúp làm rõ vai trò của sự kiện trong thiết kế sản phẩm trải nghiệm, gia tăng năng lực cạnh tranh và tối ưu hóa lợi ích của điểm đến trong chu kỳ phát triển du lịch (Getz, 2008). Khung nghiên cứu sự kiện nhấn mạnh rằng sự kiện có kế hoạch cần được phân tích như một hiện tượng xã hội, văn hóa và chính sách, trong đó thiết kế kịch bản, phân bổ nguồn lực, huy động chủ thể tham gia và quản trị rủi ro là những thành tố cấu trúc định hình cả nội dung văn hóa lẫn hiệu quả kinh tế của sự kiện (Page & Getz, 2016). Khi đặt vào bối cảnh Thanh Hóa, lễ hội biển có thể được nhìn như giao điểm của truyền thống văn hóa cư dân ven biển, định hướng quản trị phát triển du lịch địa phương và tác động của thị trường cùng truyền thông số, tạo nên một không gian vừa duy trì ký ức cộng đồng vừa tái cấu trúc biểu đạt văn hóa theo các yêu cầu mới của ngành Du lịch (Vũ Quang Dũng, 2017).
Từ các tiền đề trên, vấn đề nghiên cứu được đặt ra là lễ hội biển ở Thanh Hóa đang mang những giá trị văn hóa nào và các giá trị đó biến đổi ra sao trong bối cảnh hiện nay. Mục tiêu nghiên cứu thứ nhất tập trung nhận diện hệ giá trị văn hóa của lễ hội biển theo các bình diện tâm linh, cộng đồng, nghệ thuật và tri thức gắn với sinh kế, kinh nghiệm ứng xử với môi trường biển và các hình thức biểu đạt văn hóa của cư dân ven biển (Vũ Quang Dũng, 2017). Mục tiêu nghiên cứu thứ hai hướng đến phân tích các biến đổi chủ đạo của lễ hội trong điều kiện phục hồi du lịch và gia tăng cạnh tranh điểm đến, đồng thời thảo luận những hàm ý quản trị nhằm hướng tới phát triển bền vững, bao gồm cân bằng lợi ích giữa các chủ thể tham gia, bảo đảm tính xác thực văn hóa, và giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường và đời sống cộng đồng (Quang et al., 2023). Cách đặt vấn đề này cho phép tiếp cận lễ hội biển không chỉ như một sản phẩm du lịch được thiết kế để thu hút khách, mà như một dạng di sản sống cần được quản trị bằng các lựa chọn chính sách và thực hành tổ chức phù hợp nhằm dung hòa yêu cầu phát triển với nhiệm vụ gìn giữ các lớp giá trị văn hóa của cộng đồng (Getz, 2013).
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng nghiên cứu định tính dựa trên dữ liệu thứ cấp để diễn giải lễ hội biển Thanh Hóa trong mối liên hệ giữa giá trị văn hóa và biến đổi đương đại, nhấn mạnh tổng hợp - đối chiếu tư liệu nhằm bảo đảm chứng cứ và tránh suy diễn. Phương pháp gồm 3 hợp phần: (i) Tổng quan tài liệu về du lịch sự kiện/ sự kiện có kế hoạch, du lịch bền vững dựa vào cộng đồng và văn hóa biển đảo để xây dựng khung phân tích, khái niệm vận hành và tiêu chí nhận diện biến đổi. (ii) Phân tích tư liệu chính sách và thống kê để đặt lễ hội vào bối cảnh phục hồi và điều hành du lịch, tham chiếu các báo cáo “Thông tin du lịch”, Niên giám thống kê và Báo cáo thường niên du lịch Việt Nam. (iii) Phân tích trường hợp theo logic diễn giải, coi “lễ hội biển Thanh Hóa” là cụm nhiều lễ hội/ chuỗi sự kiện khai mạc mùa du lịch; trường hợp Nghi Sơn được dùng làm minh họa cho xu hướng chuyên nghiệp hóa, quảng bá điểm đến và quản trị an toàn.
3. Kết quả và thảo luận
Lễ hội biển Thanh Hóa như một “hệ sự kiện” trong quản trị điểm đến
Dưới lăng kính nghiên cứu sự kiện, lễ hội biển Thanh Hóa có thể được nhận diện như một hệ sự kiện có kế hoạch (planned events), trong đó các hoạt động được thiết kế theo kịch bản nhằm tạo ra trải nghiệm tổng hợp cho khách tham dự đồng thời phục vụ các mục tiêu quản trị điểm đến (Page & Getz, 2016). Cấu trúc chuỗi hoạt động thường thể hiện tính mô đun: (i) hoạt động mở màn gắn với khai trương mùa du lịch; (ii) chương trình nghệ thuật định hướng trình diễn và truyền thông; (iii) hoạt động thể thao, giải trí trên biển để gia tăng mức độ tham gia và kéo dài thời gian hiện diện; (iv) không gian ẩm thực, thương mại dịch vụ nhằm chuyển hóa nhu cầu trải nghiệm thành tiêu dùng; (v) hệ thống truyền thông số để mở rộng độ phủ và duy trì tương tác sau sự kiện. Cách tổ chức này tương thích với quan điểm coi sự kiện là một công cụ chiến lược trong thu hút khách, định vị thương hiệu và kích hoạt tiêu dùng của điểm đến (Getz, 2008).
Trong khung vận hành theo mùa, lễ hội dần chuyển từ chức năng “ngày hội cộng đồng” sang chức năng cơ chế điều phối điểm đến, thể hiện ở việc tích hợp mục tiêu văn hóa, xã hội với mục tiêu thị trường trong cùng một cấu trúc tổ chức. Điều này hàm ý rằng hiệu quả lễ hội không chỉ được đo bằng nội dung văn hóa trình bày, mà còn bằng khả năng điều phối dòng khách, điều tiết dịch vụ, tạo “đỉnh” truyền thông và giảm rủi ro vận hành trong thời gian cao điểm (Page & Getz, 2016). Trường hợp Nghi Sơn cho thấy xu hướng chuyên nghiệp hóa kịch bản, nhấn mạnh vai trò khai mạc mùa du lịch và thông điệp điểm đến an toàn, hấp dẫn như một phần của chiến lược truyền thông (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 2025). Ở bình diện điều hành ngành, việc nhấn mạnh các chỉ báo tăng trưởng như lượng khách và doanh thu có thể củng cố xu hướng sử dụng chuỗi sự kiện như giải pháp kích cầu nhanh, qua đó tăng tính phổ biến của mô hình “quản trị theo sự kiện” ở các địa phương ven biển (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 2024).
Từ các biểu hiện trên, lễ hội biển có thể được diễn giải đồng thời như không gian biểu đạt bản sắc và công cụ quản trị, trong đó yêu cầu chuẩn hóa quy trình, quản trị an ninh, an toàn, vệ sinh môi trường,và phối hợp liên ngành trở thành các điều kiện vận hành trọng yếu (Page & Getz, 2016). Sự “kịch bản hóa” vì vậy vừa mở ra năng lực tổ chức chuyên nghiệp, vừa đặt ra thách thức bảo đảm tính phù hợp văn hóa và hạn chế nguy cơ đồng dạng hóa chương trình.
Giá trị văn hóa của lễ hội biển: từ tâm linh đến tri thức môi trường
Tiếp cận lễ hội như di sản sống cho phép xem hệ thực hành lễ hội là một chỉnh thể văn hóa đang vận động, trong đó các lớp giá trị không tồn tại biệt lập mà đan xen giữa nghi lễ, sinh hoạt cộng đồng, trình diễn nghệ thuật và tri thức bản địa gắn với sinh kế biển (Vũ Quang Dũng, 2017). Trong cách nhìn này, lễ hội không chỉ tái hiện truyền thống mà còn tái cấu trúc ý nghĩa trong hiện tại thông qua lựa chọn nội dung, hình thức trình diễn và cơ chế tổ chức, từ đó phản ánh những ưu tiên văn hóa trong bối cảnh xã hội, kinh tế biến đổi.
Thứ nhất, giá trị tâm linh - tín ngưỡng thể hiện qua các nghi thức hướng biển, qua đó thiết lập nền biểu tượng, củng cố cảm thức an toàn và tái khẳng định các chuẩn mực văn hóa của cộng đồng cư dân ven biển. Sự hiện diện bền vững của lớp giá trị này có thể được xem là chỉ báo về mức độ liên tục của di sản sống, đặc biệt khi lễ hội mở rộng quy mô và gắn với du lịch (Vũ Quang Dũng, 2017). Về mặt quản trị, việc duy trì tính trang nghiêm, tính đúng chuẩn mực cộng đồng của không gian nghi lễ trở thành điều kiện quan trọng để tránh “du lịch hóa” thái quá những thực hành mang tính thiêng.
Thứ hai, giá trị cộng đồng, xã hội nằm ở năng lực cố kết và tái khẳng định bản sắc nơi chốn. Lễ hội tạo ra “không gian công” để các nhóm cư dân gặp gỡ, hợp tác, tái tạo mạng lưới quan hệ nghề nghiệp - làng xóm và củng cố ký ức cộng đồng. Trong bối cảnh thị trường hóa, giá trị này có xu hướng chuyển hóa thành các hình thức tham gia mới như tổ chức, cung ứng dịch vụ, tham gia biểu diễn hoặc phát triển sản phẩm văn hóa phục vụ du khách; tuy nhiên, mức độ bền vững phụ thuộc vào cơ chế tham gia thực chất và phân bổ lợi ích nhằm hạn chế xung đột (Quang et al., 2023). Do đó, “tính cộng đồng” cần được hiểu không chỉ ở quy mô tham dự, mà ở quyền năng tham gia và mức độ hưởng lợi của cư dân địa phương.
Thứ ba, giá trị nghệ thuật thẩm mỹ thể hiện ở sự hội tụ nhiều hình thức biểu đạt (âm nhạc, múa, diễn xướng, mỹ thuật sân khấu, trình diễn đường phố). Xu hướng chuyên nghiệp hóa giúp tăng chất lượng trình diễn và khả năng lan tỏa trong môi trường truyền thông số, nhưng đồng thời làm gia tăng nguy cơ đồng dạng hóa nếu chương trình tách rời ngữ cảnh bản địa và ưu tiên các khuôn mẫu “dễ sản xuất - dễ truyền thông” (Vũ Quang Dũng, 2017). Vì vậy, đánh giá giá trị nghệ thuật cần gắn với tiêu chí kép: chất lượng thẩm mỹ và năng lực chuyển tải câu chuyện văn hóa địa phương.
Thứ tư, giá trị tri thức môi trường sinh kế được tích lũy từ kinh nghiệm mùa vụ, dòng chảy, thời tiết, khai thác biển và ứng xử thiên tai. Lớp tri thức này thường không được văn bản hóa đầy đủ mà hiện diện trong thực hành nghề, truyền miệng và biểu tượng văn hóa; lễ hội có thể là cơ chế “mã hóa” và truyền tải tri thức dưới dạng trải nghiệm và thông điệp giáo dục môi trường. Khi gắn với du lịch, lớp giá trị này mở ra khả năng tích hợp các nội dung du lịch có trách nhiệm (giảm rác thải, bảo vệ tài nguyên, du lịch xanh), phù hợp với cách tiếp cận coi tính bền vững của sự kiện phụ thuộc vào năng lực tích hợp mục tiêu xã hội - văn hóa - môi trường trong thiết kế và vận hành (Page & Getz, 2016).
Biến đổi đương đại: sự kiện hóa, thương mại hóa và tái phân vai chủ thể
Biến đổi nổi bật là sự kiện hóa, thể hiện ở việc lễ hội được tổ chức như một dự án theo quy trình, với mục tiêu truyền thông - thị trường, kế hoạch tài trợ, kịch bản vận hành và tiêu chí đánh giá được xác lập từ sớm (Getz, 2013). Quá trình này có thể tạo lợi ích rõ rệt: tăng năng lực tổ chức, tạo việc làm thời vụ, mở rộng hiệu ứng quảng bá và thúc đẩy cải thiện hạ tầng phục vụ du lịch. Tuy nhiên, sự kiện hóa cũng đặt ra rủi ro về lệch trọng tâm: yếu tố trình diễn và “hiệu ứng” có thể lấn át chiều sâu văn hóa; các thực hành truyền thống bị rút gọn thời lượng hoặc bị sắp đặt theo yêu cầu khung giờ truyền thông; đồng thời xuất hiện xu hướng chuẩn hóa khuôn mẫu tổ chức giữa các địa phương (Vũ Quang Dũng, 2017). Ở bình diện điều hành, khi các chỉ báo tăng trưởng (khách, doanh thu) được nhấn mạnh, địa phương có thể ưu tiên các cấu phần dễ tạo hiệu ứng truyền thông nhanh, làm tăng tốc độ sự kiện hóa (Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 2024).
Song hành là thương mại hóa trong bối cảnh kinh tế trải nghiệm, biểu hiện qua mở rộng các không gian dịch vụ (ẩm thực, giải trí, lưu trú, trải nghiệm “check-in”). Lễ hội vì vậy chuyển mạnh sang mô hình lấy du khách làm trung tâm, nơi văn hóa trở thành nguồn chất liệu tạo trải nghiệm và tiêu dùng (Getz, 2013; Page & Getz, 2016). Thương mại hóa có thể tích cực nếu nâng chuẩn dịch vụ và tạo sinh kế địa phương, nhưng sẽ phát sinh hệ quả nếu thiếu kiểm soát: tăng giá mùa cao điểm, mất trật tự kinh doanh, gia tăng rác thải và suy giảm tính trang nghiêm của một số thực hành văn hóa khi bị “dịch” thành tiết mục minh họa (Vũ Quang Dũng, 2017).
Truyền thông số tiếp tục tái định dạng cấu trúc nội dung theo “thẩm mỹ thị giác”: sân khấu lớn, ánh sáng - âm thanh, bố cục trình diễn và các tiết mục dễ ghi hình - dễ lan tỏa. Điều này giúp tăng độ phủ và năng lực cạnh tranh điểm đến, đồng thời tạo áp lực chọn lọc nội dung theo tiêu chí dễ tiếp nhận và dễ chia sẻ (Getz, 2008; Getz, 2013). Hệ quả đáng chú ý là những thực hành truyền thống “ít ăn hình” hoặc cần thời lượng và bối cảnh cộng đồng để hiểu đầy đủ có nguy cơ bị giảm mức độ hiện diện trong các cấu phần trung tâm của chương trình (Vũ Quang Dũng, 2017).
Cuối cùng, tái phân vai chủ thể diễn ra cùng với sự kiện hóa: cơ quan quản lý giữ vai trò đặt mục tiêu - điều phối; doanh nghiệp tham gia tài trợ và vận hành dịch vụ; cộng đồng tham gia thực hiện và cung ứng sản phẩm, dịch vụ. Vấn đề then chốt nằm ở mức độ “thực quyền” của cộng đồng trong thiết kế nội dung văn hóa và cơ chế hưởng lợi; nếu cộng đồng chỉ đóng vai trò biểu trưng, rủi ro lệch pha giữa di sản sống và logic thị trường sẽ tăng (Quang et al., 2023; Vũ Quang Dũng, 2017). Đồng thời, áp lực môi trường và sức chứa gia tăng do dòng người tập trung trong thời gian ngắn, đòi hỏi quản trị rủi ro và quản lý tác động theo toàn bộ vòng đời sự kiện (trước - trong - sau), thay vì chỉ tập trung vào thời điểm cao trào (Getz, 2013; Page & Getz, 2016). Điều này gợi ý sự cần thiết của tư duy tối ưu theo ngưỡng phù hợp, thay cho tối đa hóa số lượng, nhằm duy trì chất lượng trải nghiệm và giảm tổn hại dài hạn đối với môi trường và đời sống cư dân.
Hàm ý quản trị và phát triển: cân bằng giữa xác thực văn hóa và hiệu quả kinh tế
Một là, đặt quản trị lễ hội trong mục tiêu “kép”: lễ hội vừa là không gian văn hóa của cộng đồng cư dân biển, vừa là công cụ vận hành điểm đến theo logic du lịch sự kiện. Vì vậy, mọi quyết định về kịch bản, tổ chức, truyền thông và phân bổ nguồn lực cần đồng thời bảo đảm tính liên tục văn hóa và hiệu quả kinh tế. Nếu chỉ tối ưu doanh thu/ độ phủ truyền thông mà tách rời nền tảng văn hóa địa phương, giá trị lâu dài và năng lực cạnh tranh bền vững của lễ hội sẽ suy giảm.
Hai là, xây dựng kịch bản văn hóa dựa trên “di sản sống”, thay vì chạy theo quy mô sân khấu hay sức hút nghệ sĩ. Kịch bản nên xuất phát từ lịch sử cư dân ven biển, nghề nghiệp - sinh kế, tri thức biển, hệ tín ngưỡng, ẩm thực và ngôn ngữ nghệ thuật bản địa để tạo “cốt truyện văn hóa” rõ ràng và khác biệt. Phần nghi lễ (nếu có) cần được tổ chức đúng chuẩn mực cộng đồng để giữ tính trang nghiêm và chính danh; song song là các không gian trải nghiệm để du khách tham gia trò chơi, chợ biển, ẩm thực, hoạt động giáo dục môi trường theo cách tôn trọng bối cảnh bản địa. Cấu trúc dung hòa giữa phần trang trọng và phần trải nghiệm giúp vừa giữ chiều sâu văn hóa, vừa mở rộng đối tượng tham dự và kéo dài thời gian lưu trú.
Ba là, tăng quyền tham gia thực chất của cộng đồng như điều kiện nền của tính bền vững. Cộng đồng không chỉ “tham gia thực hiện” mà còn là chủ thể tạo ra và lưu giữ giá trị văn hóa. Có thể vận dụng mô hình đồng quản trị: thành lập hội đồng văn hóa cộng đồng; mời nghệ nhân, đại diện nghề biển tham gia hội đồng nội dung; thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch thông qua gian hàng, khu trình diễn và hoạt động du lịch cộng đồng. Cách làm này giảm rủi ro biến cư dân thành “phông nền” minh họa, đồng thời tạo đồng thuận xã hội, tăng trách nhiệm bảo vệ tài nguyên và hạn chế xung đột lợi ích giữa cơ quan quản lý - doanh nghiệp - người dân.
Bốn là, quản lý sức chứa và môi trường theo chu trình sự kiện để giảm quá tải và tác động lên hệ sinh thái biển. Trước lễ hội cần dự báo dòng khách, phương án giao thông - phân luồng, bố trí vệ sinh công cộng, nước sạch, y tế, cứu hộ và kịch bản ứng phó sự cố. Trong lễ hội cần tổ chức quản lý rác theo cụm, ưu tiên giải pháp giảm nhựa và truyền thông “đi lễ hội xanh” để chuyển mục tiêu môi trường thành hành vi cụ thể. Sau lễ hội cần tổng vệ sinh, rà soát tác động và rút kinh nghiệm, coi đây là một phần trách nhiệm xã hội và nền tảng cải tiến mùa sau.
Năm là, đánh giá hiệu quả bằng dữ liệu đa chiều thay vì chỉ dựa vào lượng khách và doanh thu. Bộ chỉ số nên bao gồm: mức độ hài lòng của cư dân, tỷ lệ hộ kinh doanh địa phương tham gia và hưởng lợi, mức độ du khách hiểu “câu chuyện văn hóa” của điểm đến, chi phí môi trường và chi phí quản trị phát sinh. Việc bám dữ liệu nền về kinh tế, xã hội và nhịp thị trường giúp lựa chọn chu kỳ tổ chức phù hợp từng mùa, tránh chạy theo “đỉnh điểm” ngắn hạn dẫn đến quá tải và suy giảm chất lượng trải nghiệm. Khi đánh giá đa chiều, lễ hội được quản trị như một quá trình tạo giá trị lâu dài, không chỉ là sự kiện mang tính thời điểm.
4. Kết luận
Lễ hội biển Thanh Hóa trong bối cảnh hiện nay có thể được nhìn nhận như một hiện tượng đa tầng: vừa là thực hành văn hóa của cộng đồng cư dân ven biển, vừa vận hành như một sự kiện du lịch được tổ chức có chủ đích để phục vụ mục tiêu quản trị điểm đến và kích thích thị trường. Điều này cho thấy lễ hội không còn chỉ là sinh hoạt phong tục, mà đã được tái cấu trúc theo logic tổ chức sự kiện, nơi nội dung văn hóa, trải nghiệm du khách, truyền thông và hiệu quả kinh tế được tích hợp trong một kịch bản vận hành tương đối thống nhất.
Hệ giá trị văn hóa của lễ hội biển thể hiện khá rõ qua bốn lớp giá trị chính. Thứ nhất là giá trị tâm linh - tín ngưỡng, tạo nền biểu tượng cho cộng đồng hướng biển và duy trì cảm thức thiêng trong đời sống văn hóa. Thứ hai là giá trị cộng đồng - xã hội, góp phần cố kết, tái khẳng định bản sắc địa phương và tạo không gian tương tác giữa các nhóm cư dân. Thứ ba là giá trị nghệ thuật - thẩm mỹ, phản ánh các hình thức biểu đạt văn hóa trong không gian trình diễn, từ nghi thức đến biểu diễn hiện đại. Thứ tư là giá trị tri thức môi trường và sinh kế, kết tinh từ quan hệ lâu dài giữa con người với biển, bao gồm kinh nghiệm ứng xử với hệ sinh thái, mùa vụ và điều kiện tự nhiên. Các lớp giá trị này là nền tảng để lễ hội vừa có ý nghĩa đối với đời sống tinh thần của cư dân, vừa có tiềm năng trở thành nguồn lực phát triển du lịch nếu được tổ chức theo hướng tôn trọng “di sản sống”.
Trong giai đoạn gần đây, quá trình phục hồi du lịch và áp lực tăng trưởng đã thúc đẩy lễ hội biến đổi theo hướng sự kiện hóa, chuyên nghiệp hóa hoạt động trình diễn, thương mại hóa dịch vụ và tăng ảnh hưởng của truyền thông số. Lễ hội ngày càng được thiết kế với mục tiêu rõ ràng như thu hút khách, kéo dài thời gian lưu trú và kích hoạt chi tiêu. Quy mô và tần suất tổ chức có xu hướng gia tăng, kéo theo thay đổi về cấu trúc chương trình và ưu tiên vận hành theo hướng tạo hiệu ứng truyền thông và thị trường. Những biến đổi này mở ra cơ hội phát triển kinh tế địa phương và phục hồi sinh kế, nhưng đồng thời đặt ra thách thức về tính xác thực văn hóa, cơ chế phân phối lợi ích giữa các chủ thể, năng lực quản trị môi trường, cũng như bài toán sức chứa vào mùa cao điểm.
Vì vậy, định hướng cân bằng giữa phát triển và gìn giữ cần được triển khai như một khung quản trị bền vững. Lễ hội nên được thiết kế dựa trên kịch bản văn hóa gắn với di sản sống, bảo đảm tính liên tục của các lớp giá trị văn hóa địa phương thay vì chỉ chạy theo “sự kiện lớn”. Tăng quyền đồng quản trị của cộng đồng là điều kiện quan trọng để duy trì đồng thuận xã hội và tính chính danh văn hóa; sự tham gia thực chất của người dân cũng quyết định hiệu quả và tính bền vững lâu dài. Bên cạnh đó, quản lý môi trường theo chu trình sự kiện (trước - trong - sau lễ hội) và đánh giá hiệu quả bằng các chỉ số đa chiều sẽ giúp chuyển trọng tâm từ mục tiêu ngắn hạn sang giá trị dài hạn, tạo cơ sở dữ liệu để điều chỉnh chính sách và cải tiến vận hành qua từng mùa du lịch. Theo hướng này, lễ hội biển Thanh Hóa có thể vừa là động lực thúc đẩy du lịch, vừa là không gian văn hóa bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và củng cố bản sắc cộng đồng cư dân ven biển.
_____________________________
Tài liệu tham khảo
1. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. (2024). Thông tin du lịch tháng 5/2024.
2. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. (2024). Thông tin du lịch tháng 12/2024.
3. Bá Nam. (2025, 25 tháng 4). Du lịch biển Nghi Sơn (Thanh Hóa): Điểm đến an toàn và hấp dẫn. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. https://vietnamtourism.gov.vn/ post/62522
4. Getz, D. (2008). Event tourism: Definition, evolution, and research (Du lịch sự kiện: Định nghĩa, sự phát triển và nghiên cứu). Tourism Management.
5. Getz, D. (2013). Event tourism: Concepts, international case studies, and research (Du lịch sự kiện: Khái niệm, các nghiên cứu tình huống quốc tế và nghiên cứu). Cognizant Communication Corporation.
6. Page, S. J., & Getz, D. (2016). Event studies: Theory, research and policy for planned events (3rd ed.) (Nghiên cứu sự kiện: Lý thuyết, nghiên cứu và chính sách cho các sự kiện được lên kế hoạch) (Lần xuất bản thứ 3). Routledge. doi:10.4324/9781315708027
7. Quang, T. D., Nguyen, Q. X. T., Nguyen, H. V., Dang, V. Q., & Tang, N. T. (2023). Toward sustainable community-based tourism development: Perspectives from local people in Nhon Ly coastal community, Binh Dinh province (Hướng tới phát triển du lịch cộng đồng bền vững: Góc nhìn của người dân địa phương tại cộng đồng ven biển Nhơn Lý, tỉnh Bình Định, Việt Nam). Vietnam. PLOS ONE, 18(10).
8. Cục Thống kê. (2025). Niên giám thống kê 2024. Cục Thống kê - Bộ Tài chính. https://www.nso.gov.vn/ default/2025/06/nien-giam-thong-ke-2024/
9. Vietnam National Administration of Tourism. (2019). Vietnam tourism annual report 2019 (Báo cáo thường niên du lịch Việt Nam 2019).
10. Vũ Quang Dũng (Tuyển chọn). (2017). Văn hóa biển đảo Việt Nam: Dưới góc nhìn văn hóa dân gian. Nhà xuất bản Công an Nhân dân.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 2/2/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 13/2/2026; Ngày duyệt bài: 23/2/2026.
TS VŨ VĂN TUYẾN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026