Từ khóa: chữ Thái; Thanh Hóa; bảo tồn văn hóa; truyền dạy.

Abstract: Currently, the teaching of the Thai script in Thanh Hoa province and the materials used for instruction vary across different localities within the region. This situation significantly impacts the effectiveness of teaching the traditional ancient Thai script to students and the public for the purpose of preserving local Thai culture. This article analyzes the presence of various traditional Thai script forms used in teaching; it also offers perspectives on instructional methods within the community and general education schools to preserve and promote the Thai cultural heritage in Thanh Hoa.

Keywords: Thai script; Thanh Hoa; cultural preservation; teaching.

Untitlednl.jpg
Một buổi dạy chữ Thái cho các em học sinh Trường Tiểu học Mường Mìn (Quan Sơn) 
Ảnh: tuoitrethanhhoa.vn

1. Đặt vấn đề

Thanh Hóa là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ mà ở đó người Thái là một cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) có vị thế văn hóa quan trọng. Tuy nhiên hiện nay, việc dạy chữ Thái và những tài liệu được sử dụng để giảng dạy chữ Thái truyền thống ở đây là khác nhau. Tình trạng đó có ảnh hưởng nhất định đến kết quả truyền dạy chữ Thái cổ truyền thống cho học sinh phổ thông cũng như cho người dân với mục đích bảo tồn và phát huy văn hóa Thái tại địa phương. Vì thế, trên cơ sở phân tích sự hiện diện những dạng thức chữ Thái truyền thống khác nhau được sử dụng dạy học ở địa phương, bài viết sẽ nêu ra những thảo luận khoa học đối với vấn đề cách thức truyền dạy chữ Thái trong cộng đồng cũng như trong nhà trường phổ thông từ góc nhìn quản lý văn hóa nhằm mục đích lưu giữ và phát huy văn hóa truyền thống của người Thái ở Thanh Hóa.

2. Phương pháp nghiên cứu

Để đáp ứng được yêu cầu đã đặt ra ở trên, bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu đang được sử dụng rộng rãi hiện nay trong nhiều ngành khoa học nhân văn gồm phương pháp nghiên cứu điền dã để thu thập thực trạng về những dạng thức chữ Thái truyền thống khác nhau đang được lưu giữ, đang được sử dụng dạy và học ở địa phương, phương pháp miêu tả và phân tích để nhận diện những ưu điểm và nhược điểm của thực trạng lưu hành những dạng thức chữ Thái truyền thống khác nhau trên địa bàn. Ngoài hai phương pháp chính nói trên, bài viết cũng sử dụng thêm thao tác so sánh để làm nổi bật những vấn đề hay nội dung mà bài viết thảo luận.

3. Kết quả và thảo luận

Về tình trạng lưu giữ chữ Thái cổ ở Thanh Hóa hiện nay

Người Thái ở Thanh Hóa nói riêng và ở Việt Nam nói chung đã được chứng minh là một DTTS sử dụng chữ viết cổ truyền thống theo hệ Sanxcrit từ thế kỷ thứ XV (M. Ferlus 1988, tr.6). Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, một nhà nho Việt Nam, cụ Phạm Thận Duật, trong Hưng Hóa ký lược khi ghi chép về vùng Tây Bắc Việt Nam cũng đã dành những trang viết ghi lại kiểu chữ cổ truyền thống này trong chuyên mục “Thổ tự” và “Thổ ngữ” (Phạm Thận Duật, 2000, tr.188-217). Chính nhờ có chữ viết cổ từ khoảng 500 năm trước, người Thái ở Việt Nam nói chung cũng như ở Thanh Hóa nói riêng đã ghi chép lại được một di sản văn hóa đồ sộ bằng chữ viết cổ truyền thống với nhiều nội dung khác nhau liên quan đến văn hóa dân tộc như Táy pú xấc (Theo dấu chân cha ông đi đánh giặc) hay Quăm tố mường (Kể chuyện bản mường) (Cầm Cường, 1993). Có thể khẳng định rằng, chữ viết cổ truyền thống của người Thái đã là một công cụ lưu giữ được sự phong phú về tài nguyên văn hóa của dân tộc; do đó việc mỗi người Thái nếu thông thạo và sử dụng được chữ Thái cổ truyền thống sẽ sở hữu một chìa khóa quan trọng để khám phá và phát huy nguồn tài nguyên văn hóa vô giá của dân tộc mình.

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, người Thái ở Việt Nam có những kiểu chữ viết của người Thái Trắng (Tay Khao/ Tay Đon), người Thái Đen (Tay Đăm), người Thái Đỏ (Tay Đèng), người Thái Quỳ Châu (Tay Yo), người Thái Pao (Tay Pao)… Do chữ cổ truyền thống của người Thái là kiểu chữ ghi âm theo hệ Sanxcrit nên không chỉ khác nhau về số lượng ký tự chữ viết, về cách thể hiện mối quan hệ giữa ký tự phụ âm (tô) và ký tự nguyên âm vần (may), về cách viết mà còn về cách thức thể hiện nét ký tự (M. Ferlus, 1988, 1994, 1999; Trần Trí Dõi, 2001, 2016). Điều đó cũng có nghĩa là, những kiểu chữ Thái cổ truyền đã và đang được lưu hành ở mỗi địa phương của Việt Nam có vai trò như là công cụ ghi lại sự đa dạng văn hóa mang tính vùng miền của cộng đồng tộc người; cho nên cần được lưu giữ hay bảo tồn để không làm triệt tiêu tính đa dạng văn hóa của mỗi địa phương nơi người Thái cư trú.

Thanh Hóa là một tỉnh có nhiều thành phần dân tộc gồm người Kinh, Mường, Thái, Dao. Trong đó dân tộc Thái giữ một vị trí quan trọng về tỷ lệ cư dân, đứng thứ ba về số lượng khoảng 258.506 người, chiếm hơn 50,08% DTTS của tỉnh sau người Kinh và người Mường (Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, 2024). Theo Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở (2019, tr.160), nếu so sánh người Thái ở Thanh Hóa với số lượng người Thái toàn quốc thì tỷ lệ này sẽ là 12,2%. Mặc dù số liệu điều tra dân số thực hiện vào năm 2019 không thể hiện rõ số lượng người Thái giữa các tỉnh trong toàn quốc, nhưng số liệu thống kê năm 2016 của Ủy ban Dân tộc (2017, tr.96) đã cho biết người Thái ở Sơn La là đông nhất với tỷ lệ 37,43% dân số Thái toàn quốc và bốn tỉnh có tỷ lệ người Thái khá cao là Nghệ An 18,84%, Thanh Hóa 14,11%, Điện Biên 11,99% và Lai Châu 07,80%.

Ở Thanh Hóa, trước ngày 1/7/2025, cộng đồng người Thái cư trú ở nhiều huyện miền núi và tập trung chủ yếu ở các vùng Mường Ca Da (huyện Quan Hóa), Mường Khoòng (huyện Bá Thước), Mường Chiềng Vạn (huyện Thường Xuân), Mường Đanh (huyện Lang Chánh)… Cộng đồng dân tộc Thái đang sinh sống tại Thanh Hóa có ý thức tộc người rất cao. Trong cuốn Địa chí huyện Quan Hóa, xã hội người Thái trên địa bàn vẫn duy trì hệ thống tổ chức cộng đồng truyền thống với các thiết chế về bản, về mường và các chức sắc như trước đây. Nhờ đó nó cho phép người Thái ở địa bàn lưu giữ tốt giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng cư dân (Huyện ủy Quan Hóa, 2020). Mặt khác, trong đời sống ở địa bàn miền núi Thanh Hóa, tiếng Thái là phương tiện giao tiếp chính trong xã hội; nó là công cụ truyền đạt những kiến thức về canh tác nông nghiệp, làm nghề thủ công, duy trì phong tục tập quán, tín ngưỡng. Đó là lý do mà một trí thức người Thái ở địa phương cho rằng “Đồng bào Thái ở Thanh Hóa có ngôn ngữ riêng, chữ viết riêng” (Hà Văn Thương, 2020, tr.12). Trên thực tế, chữ Thái cổ truyền thống ở những vùng khác nhau của Thanh Hóa được sử dụng để ghi chép các bài mo, truyện cổ tích, thơ ca, lịch sử, góp phần lưu giữ và truyền lại những giá trị văn hóa quý báu cho đến hiện nay. Rõ ràng, cũng giống như những vùng miền khác của người Thái ở Việt Nam, chữ viết cổ truyền thống của người Thái trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là một phần quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc Thái; vì thế nó mang đậm những giá trị lịch sử và văn hóa riêng biệt của người Thái ở địa phương.

 Mặc dù chữ viết cổ của người Thái tỉnh Thanh Hóa mang giá trị văn hóa quan trọng như vậy, nhưng vào thời điểm hiện nay hầu như chưa được tổ chức truyền dạy rộng rãi trong cộng đồng và trong trường phổ thông trên địa bàn nơi có người Thái cư trú. Theo kết quả khảo sát mà chúng tôi thực hiện bằng phiếu hỏi đối với 400 người Thái ở miền Tây Thanh Hóa, tình trạng người Thái ở đây ứng xử với chữ Thái cổ truyền hiện có như sau.

Untitlednm.jpg
Năng lực đọc - viết và thái độ với tư liệu chữ Thái
Nguồn: Tác giả khảo sát

Số liệu ở bảng trên cho thấy, tỷ lệ người biết đọc thông viết thạo chữ viết cổ truyền thống vào thời điểm hiện nay chỉ chiếm vỏn vẹn 4,7%. Với tỷ lệ này, có thể đặt chữ Thái cổ truyền thống ở Thanh Hóa vào tình trạng “nguy cấp”. Điều đặc biệt hơn nữa, đa số những người thuộc nhóm đọc được chữ cổ đều là các thày mo, thày cúng hoặc một số ít những người nghiên cứu văn hóa nay đã cao tuổi. Có thể ví họ là những “thư viện sống” cuối cùng nắm giữ chìa khóa để giải mã kho tàng tri thức cổ của người Thái trên địa bàn. Cho nên nhiều khả năng, khi lớp người này khuất núi, nguy cơ thất truyền là hiện hữu nếu chúng ta không có chiến lược đào tạo lớp kế cận một cách bài bản. Tình trạng “nguy cấp” đối với chữ cổ truyền thống của người Thái ở địa bàn Thanh Hóa là một thực tế như vậy; và đây là một vấn đề không chỉ liên quan đến hoạt động truyền dạy (thuộc nhiệm vụ của ngành Giáo dục) mà còn liên quan đến hoạt động bảo tồn văn hóa.

Trong số 400 người cung cấp thông tin, có tới 18,6% số người cho biết hộ gia đình họ vẫn còn lưu giữ các văn bản cổ (sách lá cọ, giấy dó, sổ tay ghi chép của cha ông) trong nhà. Có thể khẳng định, người Thái ở Thanh Hóa đang lưu giữ một nguồn tài nguyên văn hóa dân tộc cần được khai thác. Tuy nhiên, hầu hết con cháu của những gia đình ấy hiện nay không thể đọc được nội dung của những tài liệu mà gia đình sở hữu. Do vậy, cuốn sách chữ Thái cổ không còn là công cụ lưu trữ và truyền tải thông tin (chức năng công cụ) văn hóa, mà đã chuyển hóa thành một “vật thiêng” dùng để thờ cúng. Chị Hà Thị D (45 tuổi, người Thái ở vùng Mường Khoòng, Lang Chánh) chia sẻ: “Bố chồng em mất để lại một hòm gỗ, trong đó có nhiều sách chữ Thái viết trên giấy dó ngày xưa. Cụ bảo đó là sách dạy làm người, sách thuốc. Vợ chồng em không ai biết chữ, con cái lại càng không. Nhưng gia đình vẫn giữ gìn cẩn thận lắm, đặt lên gác cao, ngày lễ Tết mang xuống lau bụi rồi lại cất đi như báu vật. Nhìn thấy những dòng chữ loằng ngoằng ấy là thấy bóng dáng cha ông mình, thấy cái hồn vía của người Thái mình ở đó, dù chẳng hiểu sách viết gì”. Điều này minh chứng rằng, trong tâm thức cộng đồng, chữ viết cổ truyền thống vẫn giữ vị trí trang trọng như một biểu tượng của niềm tự hào tộc người, nhưng nó đã mất đi tính ứng dụng trong thực tiễn hiện nay. Rõ ràng, khoảng cách giữa “tôn vinh” và “sử dụng” đã và đang ngày càng khác biệt và ngày càng “bị” nới rộng.

Sự khác biệt chữ viết và việc bảo tồn văn hóa Thái địa phương

Hiện nay, vẫn hiện diện sự khác biệt chữ viết cổ của người Thái trong việc sử dụng nó để bảo tồn văn hóa Thái địa phương. Ông Hà Văn Thương (2020a, tr.14) cho biết, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt một bộ chữ Thái được xác định là chữ Thái cổ ở Thanh Hóa theo Quyết định số 199/QĐ-UBND ngày 20/1/2015. Bộ chữ ấy “lấy bộ chữ Thái cổ vùng Mường Ca Da làm cơ sở và tham khảo bộ chữ Thái cổ ở các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An…”. Cách làm này cho phép chúng ta nghĩ rằng, nhiều khả năng không đơn thuần chỉ là “chữ Thái cổ vùng Mường Ca Da”. Cho nên, khi trao đổi trực tiếp với chúng tôi về bộ chữ Thái mà Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt, ông Hà Nam Ninh 71 tuổi, một trí thức người Thái sinh sống ở thị trấn Cành Nàng huyện Bá Thước (trước đây), cho biết “bộ chữ Thái cổ ở Thanh Hóa theo Quyết định số 199/QĐ-UBND được ông Hà Văn Thương đã sử dụng trong ba công trình mà ông đã xuất bản nhưng nhiều người Thái ở Thanh Hóa nói chung và cá nhân ông nói riêng nhận thấy khó sử dụng được”. Phát biểu của ông Hà Nam Ninh đương nhiên cần có thêm một vài phân tích khoa học cụ thể về nguyên nhân; tuy nhiên nó phản ánh một vấn đề liên quan ở góc nhìn thái độ ngôn ngữ (language attitude) của người sử dụng ngôn ngữ mà ở đây là góc nhìn đối với bộ chữ Thái cổ ở Thanh Hóa được công nhận theo Quyết định số 199/QĐ-UBND. Bộ chữ đã sử dụng 68 ký tự, trong đó có 43 ký tự ghi lại phần (phụ âm đầu), 21 ký tự ghi lại phần may (phần vần) và 4 tự phụ (chỉ dấu đặc biệt) để ghi tiếng Thái ở Thanh Hóa (Hà Văn Thương, 2017, tr.19-23). Trong khi đó, ông Hà Nam Ninh cho biết có một “bộ chữ Thái cổ Tay Đèng Thanh Hóa” được nhóm của ông với danh nghĩa là những hội viên “Hội Dân tộc học và Nhân học huyện Bá Thước Thanh Hóa” biên soạn. Và theo ông, bộ “chữ Tay Đèng” này được dùng làm tài liệu giảng dạy tiếng Thái của Trường Đại học Hồng Đức từ năm 2014. Năm 2022, Trường Đại học Hồng Đức đã soạn thảo một tài liệu về dạy chữ Thái ở Thanh Hóa. Bộ chữ Thái này có số lượng gồm 38 ký tự ghi lại phần (phụ âm đầu), 20 ký tự ghi lại phần may (phần vần) và 7 tự phụ (chỉ dấu đặc biệt) để ghi tiếng Thái ở Thanh Hóa (Nhiều tác giả, 2022, tr.45-50). Như vậy xét ở số lượng ký tự, hai tài liệu chữ Thái (một được ban hành theo Quyết định số 199/QĐ-UBND và một là tài liệu của Trường Đại học Hồng Đức công bố, theo ký kết hợp đồng với Bộ Nội vụ), tuy đều ghi là do Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa chủ trương, nhưng là khác nhau và đều ghi là “chữ Thái cổ Thanh Hóa”.

Tuy nhiên, cần tiếp tục phân tích thêm để có thể cho rằng bộ chữ Thái do ông Hà Văn Thương sử dụng theo Quyết định số 199/QĐ-UBND và bộ chữ Thái do Trường Đại học Hồng Đức soạn thảo có thực sự là chữ Thái cổ ở Thanh Hóa và bộ chữ nào phản ánh đầy đủ hay là đại diện cho chữ cổ của tiếng Thái Thanh Hóa. Như thực tế hiện nay thì ở Thanh Hóa hiện đang lưu hành những kiểu chữ cổ khác nhau của tiếng Thái ở Thanh Hóa. Đó là kiểu văn tự theo Quyết định số 199/QĐ-UBND và kiểu chữ do nhóm tác giả thuộc Trường Đại học Hồng Đức soạn thảo. Ngoài ra, trên địa bàn còn một kiểu chữ Thái nữa cũng đang được dạy ở một số trường hay trong cộng đồng thuộc miền núi Thanh Hóa, mà người ta gọi là “chữ Thái Việt Nam” chứ không ghi nhận là chữ Thái cổ của Thanh Hóa.

Như chúng ta đã biết, năm 1941, học giả người Pháp R. Robert đã xuất bản một ấn phẩm viết về người Thái trong đó có phần giới thiệu về chữ Thái cũng như tiếng Thái ở Thanh Hóa. Trong nghiên cứu này, ông đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến ba nhóm người Thái ở Thanh Hóa mà ông gọi là Thái Đèng (Tay Đèng), Thái Yo (Tay Jò) và Thái Nưa (Tay Nưa). Trong số những nội dung mà R. Robert mô tả, chúng tôi quan tâm đến hai vấn đề là địa bàn cư trú của người Thái Đèng và hệ thống chữ viết (có thể gọi là chữ viết cổ) của nhóm người Thái này hiện diện vào những năm nửa đầu thế kỷ XX. Theo đó, ở bản đồ số 3 với tên gọi
Croquis ethnolinguistique de la provice de Thanh Hoa (Phác thảo ngôn ngữ tộc người tỉnh Thanh Hóa) đính kèm giữa trang 118-119, ông cho biết người Thái Đèng cư trú trong một địa bàn bao gồm địa lý các châu Quan Hóa, châu Lang Chánh, châu Như Xuân (về sau là các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân và Như Xuân trước đây của tỉnh Thanh Hóa). Ở bản đồ này, người Thái Yo được bao bọc trong địa bàn cư trú của người Thái Đèng. Như vậy, với việc thể hiện của R. Robert, người Thái Đèng ở Thanh Hóa được nhận diện là cư trú trong một địa bàn khá rộng, bao gồm hầu như phần biên giới miền Tây Thanh Hóa.

Vấn đề thứ hai là chữ viết của người Thái Đèng. Ghi chép của tác giả R. Robert thực hiện vào khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XX nên so với hiện nay, có thể gọi đây là một tài liệu ghi lại chữ cổ của người Thái Đèng. Theo đó, danh sách mà ông ghi chép cho biết chữ Thái Đèng ở Thanh Hóa gồm 52 ký tự. Trong số đó có 35 ký tự biểu thị (phụ âm), 27 ký tự biểu thị may (vần) bao gồm 19 ký tự may biểu thị nguyên âm và nguyên âm đôi (voyelles et diphtongues) với 7 ký tự may biểu thị tổ hợp nguyên âm với âm cuối và 1 ký tự phụ chỉ nưng (1941, tr.126-127). Nếu chỉ xét ở số lượng ký tự thể hiện chữ viết mà R. Robert gọi là chữ Thái Đèng, thì người ta có lý do để nghĩ rằng hai tài liệu chữ Thái chưa thể hiện sự tương thích. Thêm vào đó, ở khía cạnh ngôn ngữ học văn tự, để có cơ sở nhận diện một hệ thống chữ viết được gọi là chữ cổ, hệ thống ký tự ấy phải được phục dựng trên cơ sở văn bản chữ Thái đã có trước đây như cách làm mà M. Ferlus và Trần Trí Dõi (1997; 2001), đã thực hiện khi xây dựng lại kiểu chữ viết cổ Lai Pao của người Thái ở Nghệ An. Những bất cập như vừa được nêu ra cho phép chúng ta nghĩ rằng việc gắn tên “chữ cổ” cho hai tài liệu chữ Thái Thanh Hóa đang là một nội dung phải được tiếp tục thảo luận thêm.

Với những gì đã được phân tích, chúng ta có cơ sở thực tiễn để đưa ra một nhận xét chung về tình trạng đa dạng trong sử dụng chữ Thái để dạy tiếng Thái ở Thanh Hóa hiện nay. Đó là kiểu chữ Thái theo Quyết định số 199/QĐ-UBND tỉnh; là kiểu chữ Thái do Trường Đại học Hồng Đức công bố và sử dụng dựa vào kết quả hợp đồng soạn thảo với Bộ Nội vụ; là kiểu chữ Thái có tên gọi là “chữ Thái Việt Nam”. Cả ba kiểu chữ Thái ấy, nếu so sánh về số lượng ký tự mà R. Robert mô tả về chữ “Thái Đèng ở Thanh Hóa” là chưa đủ lý do khoa học để nghĩ rằng, đó là chữ Thái cổ ở Thanh Hóa; cho nên nhiều khả năng là chưa đủ điều kiện để đại diện cho cái gọi là “chữ Thái cổ ở Thanh Hóa”.

Vấn đề truyền dạy chữ Thái ở Thanh Hóa và việc bảo tồn văn hóa địa phương

Nếu việc truyền dạy chữ Thái ở Thanh Hóa với mục đích góp phần vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở địa phương của người Thái thì trong số những kiểu chữ Thái hiện đang được lưu hành và sử dụng ở địa phương, kiểu chữ nào được sử dụng sẽ thích hợp nhất? Đây là một câu hỏi mà để có được câu trả lời sẽ phải dựa vào những phân tích đa chiều từ những góc nhìn khác nhau của hoạt động giáo dục, của hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa và của góc nhìn từ ngôn ngữ học xã hội.

Theo phân tích của chúng tôi, từ góc nhìn đa chiều, việc dùng những kiểu chữ Thái như hiện đang sử dụng ở Thanh Hóa để giảng dạy cho người học sẽ mang đến kết quả là người học có thể dùng chữ viết đã học để ghi lại tiếng Thái đang được cộng đồng sử dụng hiện ở Thanh Hóa. Đó là một ưu điểm và kết quả rất rõ ràng có thể xác nhận được. Thế nhưng việc dùng được những kiểu chữ viết này vẫn chưa có gì là đảm bảo hay chứng minh rằng những người học những kiểu chữ viết đó có thể “đọc được” các văn bản chữ Thái cổ hiện đang lưu giữ ở Thanh Hóa mà 18,6% trong số 400 người được chúng tôi phỏng vấn đã xác nhận. Và nếu thế, chúng ta liệu đã đủ cơ sở để cho rằng những kiểu chữ đó đã thực sự là “chữ Thái cổ” hay chưa. Đương nhiên, để có được câu trả lời khả tín cho câu hỏi này, trên thực tế chúng ta cần có một hoạt động “kiểm chứng” trong số những người dân Thái đã “được học” những kiểu chữ Thái hiện đang dùng để dạy học ở Thanh Hóa. Hoạt động “kiểm chứng” mà chúng tôi nói đến cần được thực hiện một cách khách quan và khoa học. Khách quan là không hoàn toàn dựa vào khả năng “tự đánh giá” của những người biên soạn những kiểu chữ viết đang lưu hành; còn khoa học là nên lấy những “văn bản chữ Thái cổ” hiện có ở Thanh Hóa dùng làm “văn bản đọc” kiểm chứng.

Vấn đề được đặt ra ở đây là việc dùng kiểu chữ Thái nào hiện có ở Thanh Hóa để sau khi dạy và học thì có thể đọc văn bản tiếng Thái cổ đang được lưu giữ trong cộng đồng Thái ở Thanh Hóa. Câu hỏi này có lẽ chưa thể có được câu trả lời ngày một ngày hai. Bởi vì, theo thực tế đang diễn ra mà chúng tôi đã nhận biết khi tiếp cận với xã hội người Thái, nếu một người học một kiểu chữ Thái mà sau khi nắm bắt được hệ thống (phụ âm) và may (vần) nhưng chưa đọc thông một văn bản chữ Thái cổ thì việc bảo tồn và phát huy văn hóa của cộng đồng vẫn chưa thể được ghi nhận. Nói một cách khác, việc học chữ Thái như thế dường như sẽ chưa giúp ích cho mục đích bảo tồn hay lưu giữ để phát huy văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Có lẽ, vấn đề mà chúng ta thống nhất nêu ra ở trên là xuất phát từ mục đích của việc học chữ viết. Đối với cộng đồng các DTTS đã từng có chữ viết như người Thái, người Khmer hay người Chăm… việc học chữ viết của dân tộc không đơn thuần nằm ở giới hạn là học chữ để thực hiện nhiệm vụ hay giá trị ghi lại ngôn ngữ của tộc người. Việc học chữ ở những cộng đồng tộc người này, ngoài nhiệm vụ hay giá trị ghi lại ngôn ngữ của tộc người, phải bắt buộc có thêm một nhiệm vụ nữa là đọc được hay hiểu được những văn bản mà tộc người đã từng lưu trong quá trình lịch sử của mình. Tức là, hệ thống chữ viết được con em của tộc người tiếp nhận không làm đứt đoạn cách thức đọc văn bản đã có trong quá khứ. Vì thế, chữ viết của cộng đồng người Thái ở Thanh Hóa hiện đang lưu hành ở những mức độ khác nhau chỉ có thể được gọi là “chữ Thái cổ” của Thanh Hóa nếu đồng thời đáp ứng được cả hai giá trị: đọc được các văn bản chữ Thái cổ ở Thanh Hóa hiện đang được lưu giữ và dùng để ghi lại tiếng Thái hiện đang sử dụng ở địa phương. Có lẽ, xuất phát từ góc nhìn ấy, chúng tôi đã biên soạn một hệ chữ của người Thái Đen ở Tây Bắc dùng để ghi lại chữ Thái Đen và giúp đọc những văn bản đã lưu hành ở đây (Trần Trí Dõi - Nguyễn Văn Hòa, 2010; 2010a).

4. Kết luận

Từ nội dung ở trên, chúng ta có thể đưa ra một vài ý kiến mang tính kết luận như sau. Thứ nhất, việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người Thái ở Thanh Hóa không thể không gắn liền với hoạt động dạy và học “chữ Thái cổ” hiện đang được lưu giữ trong cộng đồng trên địa bàn. Đây là hai hoạt động giáo dục, văn hóa gắn liền và bổ sung cho nhau không thể tách rời trong cùng một nhiệm vụ bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người Thái ở Thanh Hóa. Thứ hai, tình trạng đang đồng thời lưu hành những kiểu chữ Thái khác nhau được “biên soạn lại” tại địa phương như đã được miêu tả dường như thể hiện một dấu hiệu cho thấy rằng khả năng người được tiếp nhận những kiểu chữ viết “được biên soạn lại” gặp nhiều khó khăn khi “đọc” được những văn bản “chữ Thái cổ” hiện đang lưu hành trong cộng đồng người Thái ở địa phương. Thứ ba, do những tài liệu hiện có còn chưa minh chứng được những kiểu chữ Thái được “biên soạn lại” ở Thanh Hóa thực sự là “chữ Thái cổ”, không loại trừ tình trạng người học chữ chỉ có thể dùng để ghi tiếng Thái Thanh Hóa hiện đại mà không thực sự đọc được “văn bản Thái cổ” đang có hiện nay. Cho nên, có lẽ cơ quan phụ trách hoạt động bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người Thái ở địa phương Thanh Hóa cùng cơ quan phụ trách hoạt động giáo dục tiếng DTTS trên địa bàn cần chú ý xử lý thực trạng này.

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương. (2019). Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở… năm 2019. Nhà xuất bản Thống kê.

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2020). Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Thái (Ban hành kèm theo Thông tư số 34/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

3. Cầm Cường. (1993). Tìm hiểu văn học Thái ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

4. Ferlus M. (1988). Langues et ecritures en Asie du Sud - Est (Ngôn ngữ và chữ viết ở Đông Nam Á), The 21st ICSTLL, University of Lund, Sweden.

5. Ferlus M. (1994). L’évolution des fricatives vélaires *x et *ɣ dans les langues Thai (Biến đổi của âm xát ngạc trong các ngôn ngữ Thái). Cah. de CRLAO 23.

6. Ferlus. M. (1999). Les dialeces et les écritures des Tai (Thai) du Nghệ An (Vietnam) (Các phương ngữ và chữ viết Thái ở Nghệ An (Việt Nam). Treizièmes journées de linguistique d’asie orientale, CRLAO, Paris.

7. Hà Văn Thương. (2020). Bài ca mừng xuân Mường Ca Da. Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

8. Hà Văn Thương. (2020a). Trường ca đại sự Mường Ca Da. Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

9. Hà Văn Thương (chủ biên). (2017). Từ điển Thái Việt Thanh Hóa. Nhà xuất bản Thanh Hóa.

10. Huyện ủy huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. (2020). Địa chí huyện Quan Hóa. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

11. Nhiều tác giả. (2022). Tài liệu bồi dưỡng tiếng Thái (Dùng cho cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại vùng dân tộc, miền núi tỉnh Thanh Hóa).

12. Phạm Thận Duật. (2000). Phạm Thận Duật toàn tập. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.

13. R.Robert. (1941). Notes sur le Tay Deng de Lang Chanh (Thanh Hoa-Annam) (Ghi chép về Thái Đèng ở Lang Chánh (Thanh Hóa - Việt Nam), Imprimerie d’Extrême-Orient.

14. Trần Trí Dõi, M.Ferlus. (1997). Giới thiệu về chữ Thái Lai Pao của người Thái Tương Dương (Nghệ An). Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Số 15. Trong Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam (1998). Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc; Tạp chí Khoa học xã hội và Nhân văn. Số Đông Dương học. Đại học Burpha Thái Lan (bằng tiếng Thái).

16. Trần Trí Dõi, M. Ferlus. (2001). Chữ Lai Pao. Tạp chí Ngôn ngữ. 5(136).

17. Trần Trí Dõi. (2016). Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Language of ethnic minorities in Vietnam). Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.

18. Trần Trí Dõi, Nguyễn Văn Hòa. (2010). Nhập môn tiếng Thái ở Việt Nam: Tiếng Thái Đen vùng Tây Bắc. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.

19. Trần Trí Dõi, Nguyễn Văn Hòa. (2010a). Tiếng Thái cơ sở: Tiếng Thái Đen vùng Tây Bắc. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.

20. Ủy ban Dân tộc. (2017). Tổng quan về kinh tế xã hội của 53 dân tộc thiểu số. Ủy ban Dân tộc tổng hợp năm 2015 và công bố tháng 7/2017.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 3/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/2/2026; Ngày duyệt đăng: 20/2/2026.

VŨ THỊ DUNG - GS, TS TRẦN TRÍ DÕI

Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026