Từ khóa: đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt; thờ tự; không gian di sản; Vua Quang Trung; di sản văn hóa.

Abstract: The Tay Son Tam Kiet Shrine, located in Tay Son Commune, Gia Lai Province (formerly Binh Dinh Province), is a Special National Historical Relic known as a sacred worship space dedicated to the three Tay Sơn brothers (Nguyen Nhac, Nguyen Hue, and Nguyen Lu). Today, it is also an important site carrying multiple cultural values and significance for both the locality and the nation. The study asks how this site moved from being a worship site to becoming a heritage space with multiple layers of meaning. Based on a case-study approach, the article focuses on clarifying three main dimensions of the heritagisation process: the shrine was selected as a heritage object; the shrine was endowed with additional layers of meaning beyond its worship function and became a historical-cultural symbol; and festivals and commemorative rituals contributed to maintaining and disseminating the shrine’s heritage significance in contemporary life. From this, the study shows that the Tay Son Tam Kiet Shrine has now become a site where historical memory, cultural practices, heritage education, and heritage discourse intersect. This case contributes to opening up a broader way of viewing shrines dedicated to historical figures in Vietnam as spaces where the past is continuously constructed, endowed with meaning, and reorganised in the present.

Keywords: Tay Son Tam Kiet Shrine; worship; heritage space; emperor Quang Trung; cultural heritage.

Untitledml.jpg
Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt - Ảnh: vietnamtourism.gov.vn

1. Đặt vấn đề

Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt tọa lạc tại xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai (trước kia thuộc thôn Kiên Mỹ, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Vùng đất này được xem là cái nôi của phong trào Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII. Di tích nằm trong quần thể rộng lớn của Bảo tàng Quang Trung, lưu giữ nhiều tư liệu, hiện vật quan trọng liên quan đến cuộc khởi nghĩa. Đền thờ trước kia là nhà của song thân ba anh em (ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng), sau khi ông bà qua đời, nơi này trở thành nhà từ đường. Hiện nay, đền thờ được biết đến rộng rãi là một di tích lịch sử, nơi thờ phụng linh thiêng của ba anh em Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ - Nguyễn Lữ. Tuy nhiên, xét ở bình diện rộng hơn, nơi đây không chỉ đơn thuần mang tính chất tín ngưỡng mà đã trở thành một không gian di sản được bồi đắp bởi nhiều lớp ý nghĩa lịch sử, văn hóa và ký ức.

Dưới góc nhìn của di sản học, một địa điểm không tự nhiên trở thành di sản, mà nó phải trải qua một quá trình, trong đó địa điểm này được gán thêm ý nghĩa, được tổ chức lại về mặt không gian, giới thiệu với công chúng và được công nhận trong đời sống xã hội (Harvey, 2001; Smith, 2006; Harrison, 2013). Trong khi đó, các nghiên cứu trước về nhà Tây Sơn và Vua Quang Trung chủ yếu tập trung vào lịch sử phong trào, thân thế và sự nghiệp của nhân vật (Phan Huy Lê, 2012; Trần Huy Liệu, 2012; Phan Bội Châu, 2015; Trần Trọng Kim, 2015), hoặc mô tả giá trị văn hóa - lịch sử của các địa điểm thờ tự gắn với nhà Tây Sơn, như đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt (Bảo tàng Quang Trung, 2012). Tuy nhiên, vẫn còn ít nghiên cứu tiếp cận đền thờ từ góc nhìn trên, tức xem nơi đây như kết quả của một quá trình lựa chọn, gán nghĩa và duy trì trong đời sống xã hội đương đại.

Vì vậy, bài viết đặt vấn đề: đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt đã được chuyển từ một nơi thờ tự sang một không gian di sản như thế nào? Những yếu tố nào góp phần tạo nên quá trình di sản hóa ấy? Qua đó, mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ quá trình di sản hóa của đền thờ, chỉ ra các yếu tố chính đã góp phần biến nơi này thành một không gian di sản và gợi mở cách nhìn rộng hơn về các đền thờ nhân vật lịch sử ở Việt Nam.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, kết hợp giữa phân tích tư liệu và quan sát thực địa. Nguồn tư liệu chính bao gồm các tài liệu lịch sử liên quan đến phong trào Tây Sơn và Vua Quang Trung, các tài liệu giới thiệu di tích, tư liệu trưng bày, thông tin từ mã QR tại khu vực đền thờ và các văn bản quản lý văn hóa địa phương. Bên cạnh đó, việc quan sát không gian kiến trúc, bài trí thờ tự, biểu tượng, hoạt động nghi lễ và cách công chúng tiếp cận đền thờ giúp nhận diện rõ hơn các phương diện lựa chọn, gán nghĩa và phổ biến di sản. Khảo sát thực địa được thực hiện trực tiếp tại địa điểm đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt thông qua ghi nhận không gian, hình ảnh trưng bày, hoạt động thờ phụng và cách thức giới thiệu di tích tới người tham quan.

3. Kết quả và thảo luận

Sự lựa chọn: đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt như một đối tượng di sản

Quá trình di sản hóa bắt đầu từ sự lựa chọn, tức là việc địa điểm này được tách khỏi phạm vi của một nơi thờ tự thông thường, để trở thành một đối tượng được nhìn nhận là có giá trị đặc biệt trong ký ức và đời sống cộng đồng (Harvey, 2001; Smith, 2006; Daugbjerg & Fibiger, 2011).

Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt được lựa chọn như một đối tượng di sản trước hết vì nơi đây gắn với một nhân vật có vị trí đặc biệt trong lịch sử và ký ức dân tộc, đó là Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ. Trong các bộ sử triều Nguyễn, Quang Trung và nhà Tây Sơn đều được ghi nhận như những chủ thể quan trọng của giai đoạn lịch sử đầy biến động cuối thế kỷ XVIII (Quốc sử quán triều Nguyễn, 1998, 2002, 2006, 2007). Bên cạnh đó, một số học giả, nhà nghiên cứu người Pháp cũng xem Quang Trung là nhân vật có ảnh hưởng lớn về quân sự và chính trị Việt Nam trong giai đoạn này (La Bissachère, 1812; Cadière, 1918). Hay đối với các tri thức yêu nước (Phan Bội Châu, 2015; Trần Trọng Kim, 2015; Dương Bá Trạc, 1942), các nhà nghiên cứu sử tiền hiện đại và hiện đại (Phan Huy Lê, 2012; Trần Huy Liệu, 2012; Trần Văn Giàu, 1996; Nguyễn Lương Bích, 1956), Vua Quang Trung nổi bật là một người có lòng can đảm, mưu lược và có tài dụng binh, đại diện cho mẫu hình anh hùng dân tộc đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập đất nước. Chính việc gắn với một nhân vật đã được nhiều nguồn sử liệu và nghiên cứu xác lập vị trí nổi bật trong lịch sử đã làm cho nơi này vượt ra khỏi ý nghĩa tín ngưỡng địa phương đơn thuần, để được nhìn nhận như một địa điểm có khả năng đại diện cho các giá trị lịch sử và biểu tượng rộng lớn hơn. Từ đó, đền thờ có cơ sở để được ưu tiên lựa chọn trong quá trình di sản hóa.

Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt không trở thành di sản chỉ vì tồn tại lâu đời hay đơn thuần là gắn với quá khứ, mà vì nó được nhiều chủ thể trong xã hội liên tục nhận diện, tôn tạo và ưu tiên trong đời sống hiện tại. Quá trình này thể hiện qua sự tham gia của chính quyền, cơ quan quản lý văn hóa, cộng đồng địa phương và công chúng quan tâm đến lịch sử Tây Sơn. Mặc dù trải qua nhiều biến động, hư hại và đứt gãy trong lịch sử, ngôi đền vẫn được người dân duy trì thờ phụng, đóng góp công sức phục dựng và tu bổ, cho thấy sự gắn bó bền vững của cộng đồng đối với địa điểm này (Bảo tàng Quang Trung, 2012). Về phía thể chế, việc đền được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1979, sau đó được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2014, cùng với các hoạt động đầu tư, trùng tu và mở rộng khuôn viên, cho thấy địa điểm này đã được chính thức xác lập như một đối tượng có giá trị cần bảo tồn và phát huy. Rõ ràng, cộng đồng là chủ thể giữ cho đền không bị biến mất, thể chế làm cho đền mang tính chính danh, có tầm vóc công cộng và pháp lý. Những yếu tố đó minh chứng rằng, sự lựa chọn di sản luôn là một quá trình xã hội có tính chọn lọc, trong đó một địa điểm được nâng từ phạm vi thờ tự địa phương lên vị trí di sản có ý nghĩa rộng lớn hơn.

Sự gán nghĩa: từ không gian thờ tự đến biểu tượng lịch sử - văn hóa

Sau khi được lựa chọn và công nhận như một đối tượng có giá trị đặc biệt, đền thờ tiếp tục được gán nghĩa, diễn giải như một biểu tượng lịch sử - văn hóa mang ý nghĩa rộng lớn hơn (Smith, 2006; Harvey, 2001; Harrison, 2013).

Ngôi đền được đặt vào một câu chuyện lịch sử lớn, không chỉ là nơi thờ phụng ba anh em nhà Tây Sơn, nó được kể lại như một nơi gắn bó mật thiết với phong trào và vai trò lịch sử của Vua Quang Trung, là một trong những nơi khởi nguyên của tự sự Tây Sơn. Một trong những chi tiết được cả hồ sơ chính thức lẫn truyền miệng trong dân gian nhắc đến nhiều nhất là ngôi đền được xây dựng lại trên nền nhà cũ của hai cụ thân sinh, nơi các thủ lĩnh Tây Sơn cất tiếng khóc chào đời, đi qua tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành rồi phất cờ khởi nghĩa, trở thành những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử. Đồng thời, khuôn viên đền thờ vẫn còn tồn tại hai di tích là cây me cổ thụ do chính tay hai cụ thân sinh vun trồng, chăm sóc và giếng nước cổ đã nuôi dưỡng ba anh em. Cây me và giếng nước cổ cũng là nhân chứng chứng kiến sự trả thù tàn sát của nhà Nguyễn đối với mảnh đất quê hương và những người tham gia phong trào Tây Sơn.

 Ngoài cây me, giếng nước, đền thờ, trong khuôn viên di tích mở rộng ngày nay còn có di tích bến Trường Trầu, là bến nước sâu, địa thế thuận lợi là nơi giao lưu buôn bán sầm uất, đặc biệt là lá trầu. Vì gia đình có nghề truyền thống buôn trầu, nên đây là nơi có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp khởi nghĩa của ba anh em, đặc biệt là Nguyễn Nhạc, nhờ đó ba anh em Tây Sơn đã có quan hệ giao tiếp với nhiều vùng, nhiều tầng lớp trong xã hội, kết nối với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên và giao lưu buôn bán với các chợ, bến, thị tứ vùng đồng bằng. Điều này giúp ba anh em mở rộng tầm nhìn, hiểu nỗi bất bình của các tầng lớp nhân dân và dễ dàng vận động liên kết các lực lượng khởi nghĩa. Như vậy, đền thờ là địa điểm gắn liền với ý nghĩa là nơi sinh ra, lớn lên của ba anh em và gắn liền với phong trào Tây Sơn, nhờ đó, nó vượt khỏi không gian tín ngưỡng để được xem như là không gian của ký ức lịch sử. Nơi này không chỉ thờ ai, mà còn kể lại điều gì về lịch sử dân tộc. Việc gắn đền thờ với tự sự lớn về Tây Sơn, do đó, đã mở rộng phạm vi ý nghĩa của địa điểm.

Ngoài ra, ngôi đền như là nơi vật chất hóa và kể lại ký ức lịch sử thông qua kiến trúc, bài trí và các biểu tượng trưng bày. Các yếu tố như cổng điện, lư hương lớn, bia tưởng niệm, điện thờ, hoành phi, tượng thờ, ngai rước… không chỉ phục vụ thờ cúng, chúng tạo ra cảm giác trang trọng, linh thiêng và chính thống, nhờ đó, ký ức lịch sử được nhìn thấy và cảm nhận được. Không gian vật chất trở thành công cụ chuyển ký ức trừu tượng từ quá khứ thành trải nghiệm cụ thể. Chính nhờ đó, lịch sử tại đền không chỉ được kể bằng lời mà còn được cảm nhận trong không gian.

 Thêm vào đó, các diễn ngôn giới thiệu tại đây cũng góp phần biến đền thờ thành biểu tượng lịch sử, văn hóa. Theo nội dung giới thiệu được trưng bày trong khuôn viên Bảo tàng Quang Trung và khu vực đền thờ, đều mô tả đây là nơi tưởng niệm anh hùng dân tộc, nơi giáo dục truyền thống và là biểu tượng văn hóa lịch sử của địa phương:

“Hoàng đế Quang Trung là vị anh hùng bách chiến bách thắng, nhà thiên tài quân sự của Việt Nam, với những chiến công hiển hách ghi vào trang sử hào hùng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta… Vua Quang Trung không những là một nhà quân sự kiệt xuất mà còn là một nhà chính trị, kinh tế đầy bản lĩnh và tài hoa. Cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ là bản anh hùng ca bất diệt trong lịch sử của dân tộc” - Trích mô tả ngắn tại phòng trưng bày kỷ vật, bút tích của các đồng chí lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước về thăm đền thờ và Bảo tàng Quang Trung (Nguồn: Ghi chép thực địa ngày 23/8/2025).

Cách giới thiệu trên đã trao thêm lớp nghĩa cho địa điểm này, nhờ vào những diễn ngôn đó, đền thờ trở thành biểu tượng mang giá trị mạnh mẽ với cộng đồng, và từng bước chứng minh khả năng có thể đại diện cho ký ức tập thể.

Có thể nói, quá trình gán nghĩa là bước đi trung tâm của di sản hóa, bởi chính ở đây đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt được chuyển dịch rõ nét nhất từ chức năng thờ phụng ban đầu sang vai trò của một biểu tượng lịch sử, văn hóa trong đời sống hiện nay.

Sự duy trì và phổ biến qua các lễ hội và nghi lễ tưởng niệm

Một trong những phương diện quan trọng làm cho đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt vận hành như một không gian di sản là sự duy trì định kỳ các hoạt động lễ hội và nghi lễ tưởng niệm gắn với nhà Tây Sơn. Các sự kiện như lễ kỷ niệm Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung và lễ Hiệp kỵ Tây Sơn Tam Kiệt cho thấy ký ức lịch sử tại đây không chỉ được lưu giữ trong tư liệu hay kiến trúc, mà còn được tái hiện thường xuyên thông qua thực hành nghi lễ và sự tham gia của công chúng. Chính sự lặp lại theo chu kỳ này làm cho đền không như một địa điểm tĩnh của quá khứ, mà là nơi quá khứ tiếp tục được kích hoạt và trao truyền trong hiện tại. Trước hết, lễ kỷ niệm Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa nhấn mạnh mạnh mẽ chiều kích lịch sử - dân tộc của không gian đền. Với mục đích tưởng nhớ và tri ân công đức của Tây Sơn Tam Kiệt cùng các văn thần, võ tướng triều Tây Sơn, lễ hội này đặt đền vào mạch ký ức về chiến thắng chống ngoại xâm và công cuộc thống nhất đất nước của nhà Tây Sơn (Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định, 2024). Phần lễ với các nghi thức dâng hương tại những điểm tưởng niệm quan trọng cho thấy ký ức về nhà Tây Sơn được duy trì bằng hình thức nghi lễ trang trọng, phần hội với các hoạt động văn hóa, võ thuật và trò chơi dân gian lại mở rộng khả năng tham gia của nhiều nhóm công chúng khác nhau. Qua đó, đền không chỉ là nơi tưởng niệm nội bộ, mà trở thành một không gian văn hóa công cộng, nơi hào khí Tây Sơn và biểu tượng Vua Quang Trung tiếp tục được tái khẳng định như hiện thân của tinh thần chống ngoại xâm, sức mạnh quân sự và ý thức dân tộc.

 Bên cạnh đó, lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung làm nổi bật hơn vai trò của đền như một không gian tưởng niệm tập trung vào nhân vật lịch sử trung tâm. Theo mục đích được nêu trong tư liệu địa phương, lễ giỗ không chỉ nhằm tri ân công lao của anh hùng dân tộc Quang Trung mà còn ôn lại truyền thống quật khởi của phong trào Tây Sơn, giáo dục tinh thần yêu nước và củng cố ý thức cộng đồng (Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, 2025). Việc tổ chức các nghi thức dâng hoa, dâng hương, khấn cáo tại nhiều điểm di tích liên quan cho thấy ký ức về Vua Quang Trung không bị giới hạn trong một điểm thờ tự duy nhất, mà được nối kết qua một mạng lưới không gian tưởng niệm. Đồng thời, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đi kèm như trang trí mâm lễ vật, làm bánh dân gian hay biểu diễn nghệ thuật truyền thống cũng cho thấy quá trình phổ biến di sản không chỉ diễn ra bằng diễn ngôn lịch sử, mà còn thông qua các hình thức tham gia văn hóa gần gũi với công chúng. Nhờ đó, biểu tượng Quang Trung được duy trì như một điểm quy chiếu tại không gian đền thờ về giá trị văn hóa và giáo dục trong đời sống hiện tại.

Nếu lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung làm nổi bật hình tượng cá nhân của người anh hùng lịch sử, thì lễ Hiệp kỵ Tây Sơn Tam Kiệt lại nhấn mạnh chiều sâu thờ tự và tính gắn kết cộng đồng của ký ức nhà Tây Sơn. Nghi lễ này không chỉ tưởng niệm riêng Nguyễn Huệ mà tri ân cả ba anh em Nguyễn Nhạc -  Nguyễn Huệ - Nguyễn Lữ, đồng thời kết nối việc tưởng nhớ thân phụ, thân mẫu Tây Sơn Tam Kiệt tại đền thờ song thân ở Gò Lăng. Chính cấu trúc nghi lễ ấy cho thấy ký ức về nhà Tây Sơn tại đền thờ không chỉ được duy trì theo hướng lịch sử anh hùng, mà còn theo hướng gia tộc, cội nguồn và truyền thống thờ phụng. Điều này làm cho ngôi đền giữ được chiều sâu linh thiêng, ngay cả khi nó đã được mở rộng thành không gian di sản. Nói cách khác, lễ Hiệp kỵ góp phần giữ cho di sản nơi đây không hoàn toàn bị sự kiện hóa hay du lịch hóa, mà vẫn neo chặt vào nền tảng nghi lễ và tín ngưỡng cộng đồng.

Xét tổng thể, ba hoạt động nói trên, dù khác nhau về nội dung và quy mô, nhưng đều cùng thực hiện một chức năng chung trong quá trình di sản hóa: duy trì tính sống của ký ức lịch sử, mở rộng phạm vi tiếp cận của công chúng và làm cho đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt ngày càng rõ tính công cộng và đa chiều của một không gian di sản. Thông qua các lễ tưởng niệm định kỳ, hình tượng Vua Quang Trung và nhà Tây Sơn không chỉ được nhắc lại, mà còn được trình hiện, nghi lễ hóa và phổ biến trong những bối cảnh xã hội cụ thể. Chính nhờ đó, đền không chỉ là nơi thờ tự, mà trở thành nơi ký ức lịch sử tiếp tục được tái khẳng định và tái tạo trong đời sống hiện đại.

4. Kết luận

Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt không tự nhiên trở thành một không gian di sản như ngày nay. Quá trình ấy được hình thành qua nhiều phương diện khác nhau, từ việc đền được lựa chọn như một đối tượng có giá trị đặc biệt, được gắn với tự sự lịch sử về phong trào Tây Sơn và Vua Quang Trung, đến việc được công nhận một cách chính danh và các ý nghĩa ấy được duy trì, phổ biến thông qua lễ hội và hoạt động tưởng niệm để tiếp cận công chúng. Nhìn từ góc độ này, đền không chỉ là nơi lưu giữ quá khứ, mà còn là nơi quá khứ tiếp tục được tổ chức, diễn giải và tái tổ chức trong hiện tại.

Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt cần được hiểu không chỉ như một địa điểm có sẵn giá trị lịch sử - văn hóa, mà như kết quả của một quá trình tạo dựng ý nghĩa trong xã hội. Chính quá trình di sản hóa đã làm cho nơi thờ tự này mang thêm nhiều lớp chức năng và vai trò: vừa là không gian tín ngưỡng, vừa là nơi tưởng niệm lịch sử, giáo dục truyền thống và tiếp cận di sản. Nói cách khác, giá trị của đền không nằm ở một yếu tố đơn lẻ, mà ở sự kết hợp giữa ký ức lịch sử, thực hành văn hóa và các cơ chế xã hội đã làm cho nơi đây trở thành một không gian di sản có sức sống đương đại.

Ở bình diện rộng hơn, trường hợp đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt cũng gợi mở một cách tiếp cận đối với các đền thờ nhân vật lịch sử ở Việt Nam nói chung. Những địa điểm này cần được nhìn nhận như những không gian nơi quá khứ tiếp tục được lựa chọn, sắp đặt, diễn giải và phục vụ cho các mục đích khác nhau của hiện tại. Chính vì vậy, nghiên cứu quá trình di sản hóa giúp nhận diện cách xã hội đương thời kiến tạo ký ức, xác lập giá trị và định hình quan hệ của mình với quá khứ và lịch sử.

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Bảo tàng Quang Trung. (2012). Lưu niệm danh nhân Thời Tây Sơn.

2. Bảo tàng Quang Trung. (2025). Giới thiệu chung. Trang thông tin điện tử Bảo tàng Quang Trung. https://baotangquangtrung.com.vn/vi/about/Gioi-thieu-chung.html

3. Bernardo, E., & Rodrigues, V. (2020). Buying sweet memories: The heritagization of food souvenirs in northern Portugal (Mua những ký ức ngọt ngào: Di sản hóa các quà lưu niệm ẩm thực ở miền Bắc Bồ Đào Nha). Journal of Gastronomy and Tourism. 4(3).

4. Nguyễn Lương Bích. (1956). Nguyên nhân thành bại của cuộc cách mạng Tây Sơn. Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, số đặc biệt: Về Quang Trung - Cuộc cách mạng Tây Sơn và vai trò lịch sử của Nguyễn Huệ. Ban Nghiên cứu Văn học Lịch sử Địa lý.

5. Cadière, L. (1918). Études sur l’histoire et les croyances religieuses de l’Annam (Nghiên cứu về lịch sử và tín ngưỡng tôn giáo của An Nam). Ernest Leroux.

6. Phan Bội Châu (Chương Thâu dịch và chú thích). (2015). Việt Nam vong quốc sử. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.

7. Trần Văn Giàu. (1996). Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

8. Harvey, D. C. (2001). Heritage Pasts and Heritage Presents: Temporality, Meaning and the Scope of Heritage Studies (Di sản của quá khứ và Di sản của hiện tại: tính thời gian, ý nghĩa và phạm vi của ngành nghiên cứu di sản). International Journal of Heritage Studies. 7(4).

9. Harrison, R. (2013). Heritage: Critical Approaches (Di sản: những tiếp cận phê phán). Routledge.

10. Trần Trọng Kim. (2005). Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Văn học.

11. La Bissachère, J.-B. (1812). État actuel du Tunkin, de la Cochinchine et des royaumes de Cambodge, Laos et Lac-tho (Hiện trạng xứ Bắc Kỳ, xứ Nam Kỳ và các vương quốc Campuchia, Lào và Lạc Thổ). Galignani.

12. Phan Huy Lê, Trần Huy Liệu. (2012). Phác họa chân dung Quang Trung - Nguyễn Huệ. Tập san Quang Trung - Nguyễn Huệ - Những di sản và bài học. Nhà xuất bản Hồng Bàng.

13. Smith, L. (2006). Uses of Heritage (Sử dụng di sản). Routledge.

14. Smith, L. (2012). Discourses of heritage: Implications for archaeological community practice (Các diễn ngôn di sản: Những hàm ý đối với thực hành cộng đồng trong khảo cổ học). Nuevo Mundo Mundos Nuevos.

15. Dương Bá Trạc. (1942). Tiểu sử Vua Quang Trung. Tri Tân Tạp chí. 35.

16. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định. (2024). Kế hoạch tổ chức Lễ hội kỷ niệm 236 năm Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (1789-2025) (Số 200/KH-UBND).

17. Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai. (2025). Kế hoạch tổ chức Lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung lần thứ 233 (1792-2025) (Số 65/KH-UBND).

Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/2/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/3/2026; Ngày duyệt bài: 28/3/2026.

NGÔ NGÂN HÀ

Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026