Từ khóa: chợ truyền thống; tái định vị văn hóa; chợ lai ghép; vốn văn hóa; Thành phố Hồ Chí Minh.
Abstract: Facing competitive pressure from modern retail systems and e-commerce in Ho Chi Minh City, traditional markets are confronting a crisis of standing. This study argues that physical renovation solutions alone are insufficient and proposes a comprehensive “repositioning” strategy based on cultural studies and sustainable development approaches. Through empirical analysis of Ben Thanh and Phu Nhuan markets, the paper recommends transforming markets from mere retail outlets into “socio-cultural institutions” based on four pillars: Perceptual repositioning (prioritizing memory and community values); Functional repositioning (adopting a “Hybrid marketplace” model that integrates O2O and the experience economy); Symbolic repositioning (leveraging cultural capital through creative industries); Governance repositioning. The results confirm that this is an essential roadmap to create a “living cultural space”, simultaneously preserving urban identity and adapting to the digital era.
Keywords: traditional market; cultural repositioning; hybrid marketplace; cultural capital; Ho Chi Minh City.
1. Đặt vấn đề
Trong cấu trúc không gian đô thị Việt Nam, chợ truyền thống không chỉ đơn thuần là nơi giao thương hàng hóa mà còn tồn tại như một thiết chế kinh tế, xã hội đặc thù, nơi phản chiếu sinh động bản sắc và tập quán của cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), vị thế của chợ truyền thống đang đứng trước những thách thức. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của hệ thống bán lẻ hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại) và làn sóng thương mại điện tử đã đặt các chợ truyền thống, tiêu biểu như chợ Bến Thành và chợ Phú Nhuận vào thế yếu trong cuộc cạnh tranh về tiện ích và thị phần. Trước thực trạng đó, việc tìm kiếm hướng đi mới cho chợ truyền thống không chỉ là bài toán kinh tế mà còn là vấn đề văn hóa cấp thiết. Yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì sự tồn tại của chợ, mà quan trọng hơn là phải “tái định vị” vai trò của chợ nhằm bảo lưu các giá trị văn hóa, xã hội cốt lõi, đồng thời kiến tạo những giá trị mới phù hợp với nhu cầu của cộng đồng trong bối cảnh mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết vận dụng khung lý thuyết về tái định vị văn hóa, hướng tới việc phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm chuyển hóa các thách thức hiện tại thành động lực phát triển bền vững cho hệ thống chợ truyền thống tại TP.HCM. Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp giữa khảo sát thực địa và phân tích tài liệu thứ cấp. Cụ thể, tác giả đã tiến hành quan sát tham dự và phỏng vấn sâu đối với đại diện Ban quản lý, tiểu thương và khách hàng tại hai địa bàn nghiên cứu điển hình: chợ Bến Thành (đại diện cho mô hình chợ biểu tượng gắn với du lịch) và chợ Phú Nhuận (đại diện cho mô hình chợ dân sinh). Dữ liệu điền dã được đối sánh và kiểm chứng thông qua việc phân tích hệ thống báo cáo tổng kết, đề án quy hoạch mạng lưới bán lẻ giai đoạn 2023-2030 của Sở Công Thương TP.HCM và Ủy ban nhân dân các phường liên quan. Cách tiếp cận đa chiều này cho phép nhận diện vấn đề từ góc độ quản lý vĩ mô đến thực tiễn văn hóa sống động tại cơ sở.
Trong nghiên cứu nhân học văn hóa, khái niệm “Tái định vị” (repositioning) không dừng lại ở sự thay đổi vị trí địa lý hay hình ảnh thương hiệu, mà được hiểu sâu xa hơn là quá trình dịch chuyển và tái thương lượng (renegotiate) về ý nghĩa và vai trò của một thực thể văn hóa trong bối cảnh xã hội mới. Tác giả Carola Lentz (2018) lập luận rằng, văn hóa không phải là một thực thể tĩnh tại mà luôn nằm trong trạng thái vận động liên tục của chu trình “kiến tạo - giải kiến tạo - tái kiến tạo” (making - unmaking - remaking). Theo đó, tái định vị là một mắt xích quan trọng, là cơ chế để một thực thể văn hóa được gán cho những giá trị và ý nghĩa mới, giúp nó thích ứng linh hoạt trước những biến đổi không ngừng của cấu trúc xã hội. Ủng hộ quan điểm này, Doris Bacalzo (2022) nhấn mạnh tính chất lưỡng dụng của tái định vị: đó là sự điều chỉnh về vị thế và chức năng nhằm đạt được trạng thái cân bằng động - vừa duy trì được tính liên tục của truyền thống, vừa đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn của đời sống hiện đại. Ở Việt Nam, chủ đề tái định vị không gian văn hóa truyền thống được các tác giả tiêu biểu như như Trần Quốc Vượng (2000) và Nguyễn Văn Huy (2008) quan tâm. Tái định vị trong nghiên cứu văn hóa là quá trình dịch chuyển và thương lượng ý nghĩa, vai trò của một thực thể văn hóa bao gồm cả chủ thể thực hành và không gian vật lý nhằm mục tiêu kép: vừa bảo tồn bản sắc truyền thống, vừa kiến tạo giá trị mới cho cộng đồng trong bối cảnh áp lực của đô thị hóa và toàn cầu hóa. Các thực thể văn hóa dân gian được nhìn nhận là những “không gian văn hóa sống” (living cultural spaces). Theo đó, chợ truyền thống không chỉ là địa điểm buôn bán hay trao đổi hàng hóa, mà còn là một thực thể văn hóa sống động. Các giải pháp hướng đến củng cố vai trò chợ truyền thống trong cấu trúc kinh tế, xã hội, đồng thời khôi phục vị thế của chợ truyền thống như một nơi lưu giữ ký ức và định hình bản sắc đô thị đương đại.
3. Kết quả và thảo luận
Thực trạng chợ truyền thống tại TP.HCM: Những điểm nghẽn trong tái cấu trúc đô thị hiện đại
Sự xuống cấp của cơ sở hạ tầng và tiện ích dịch vụ: thách thức lớn nhất đối với chợ truyền thống hiện nay là sự xuống cấp của cơ sở hạ tầng, các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh của đô thị hiện đại. Khảo sát thực địa cho thấy thiết bị chữa cháy tại các chợ phần lớn đã cũ kỹ, hệ thống báo cháy và chữa cháy tự động thường thiếu bảo trì định kỳ. Bên cạnh đó, hệ thống điện cũ kỹ cũng là nguồn nguy cơ cháy nổ thường trực. Theo báo cáo, TP.HCM chỉ mới thu gom và xử lý được khoảng 190.000m³ nước thải sinh hoạt mỗi ngày, đạt tỷ lệ chưa đến 13% tổng lượng thải (khoảng 1,4 triệu m³ mỗi ngày) (Ngọc Ánh, 2025). Trong phạm vi nội bộ các chợ truyền thống, hệ thống thoát nước thường xuyên bị tắc nghẽn. Rác thải và chất bẩn hữu cơ từ hoạt động kinh doanh (nhất là khu vực thực phẩm) bị thải bừa bãi hoặc tràn vào cống rãnh, làm trầm trọng thêm tình trạng ngập úng cục bộ và cản trở khả năng tiêu thoát nước của khu vực xung quanh.
Chợ Bến Thành vốn mang tính biểu tượng với kiến trúc Pháp xây dựng đầu thế kỷ XX, tuy nhiên hạ tầng chợ hiện nay đã xuống cấp sau hơn một thế kỷ hoạt động. Theo đại diện Ban quản lý chợ Bến Thành cho biết: “Về hạ tầng, nhiều hạng mục đã xuống cấp, cần cải tạo để đáp ứng yêu cầu hiện đại nhưng vẫn giữ được kiến trúc và không gian truyền thống. Hạn chế nhất là dịch vụ, tiện ích, chất lượng phục vụ. Chỉ hướng đến một mục tiêu duy nhất là bán hàng, mua hàng và ra về. Cụ thể: tổ chức mặt bằng và kinh doanh: do là chợ truyền thống, xây dựng từ lâu nên tỷ lệ, diện tích và cách bố trí ngành hàng bất cập; thiếu dịch vụ, tiện ích, phụ trợ, kho bãi. Điều kiện phòng cháy chữa cháy (PCCC), hệ thống trang thiết bị PCCC chưa đáp ứng QCVN 06:2022. Khả năng tận dụng thông gió, chiếu sáng tự nhiên hạn chế; thiếu các không gian tĩnh, nghỉ ngơi, trải nghiệm cho khách. Chất lượng dịch vụ, hàng hóa, điều kiện vệ sinh môi trường và phòng chống dịch bệnh: khó kiểm soát chất lượng; khó triển khai phòng dịch và bảo vệ môi trường” (Phỏng vấn sâu N.V.H, chợ Bến Thành, nam, 53 tuổi).
Tại chợ Phú Nhuận, sự xuống cấp hạ tầng khiến người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ, hướng đến các hệ thống siêu thị với quy trình kiểm định hàng hóa và không gian mua sắm tiện nghi hơn. Theo Báo cáo chương trình hành động 2025-2030 của chợ Phú Nhuận: “Cơ sở vật chất các chợ (tường, cột, mái che, hệ thống điện, phòng cháy chữa cháy...) hầu hết đã xuống cấp, hư hỏng nhưng thiếu kinh phí tu bổ toàn diện, thời gian qua chủ yếu chỉ thực hiện sửa chữa nhỏ cơ bản để duy trì hoạt động chợ. Kinh phí duy tu sửa chữa chợ thông qua hình thức đấu thầu việc kinh doanh, khai thác và quản lý chợ không đủ đáp ứng nhu cầu sửa chữa, nâng cấp tất cả các hạng mục đang xuống cấp tại các chợ”. Về sửa chữa, nâng cấp xây dựng mới cơ sở vật chất: “Tiếp tục tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng dần đáp ứng đầy đủ theo các tiêu chí đối với chợ, đặc biệt là cải thiện về điều kiện phòng cháy chữa cháy, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường tại chợ. Thực hiện theo hướng dẫn của Sở ngành thành phố theo Nghị định số 60/2024/NĐ-CP ngày 5/6/2024 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ đối với cơ chế vốn đầu tư về chợ từ ngân sách địa phương” (Ủy ban nhân dân quận Phú Nhuận, 2025).
Bất cập trong quy hoạch không gian và vị trí địa lý: đối với các chợ có vị trí trung tâm như chợ Bến Thành, mật độ giao thông cao và tình trạng ùn tắc thường xuyên tạo ra rào cản vật lý ngăn cản người dân địa phương tiếp cận chợ cho nhu cầu hằng ngày. Hơn nữa, vị trí này đặt chợ vào thế đối đầu trực diện với các trung tâm thương mại hiện đại (Saigon Centre, Takashimaya) - những thiết chế có ưu thế vượt trội về tiện nghi và đẳng cấp dịch vụ. Hệ quả là chợ Bến Thành bị “du lịch hóa”, mất dần chức năng dân sinh và vai trò trong hệ thống phân phối thực tế của cư dân. Đối với chợ Phú Nhuận, vị trí nằm trong khu dân cư đông đúc nhưng do thiếu quy hoạch mở rộng, lối đi nhỏ hẹp bị lấn chiếm bởi hàng hóa khiến việc di chuyển trở nên khó khăn, làm giảm trải nghiệm mua sắm. Đồng thời, sự bao vây của mạng lưới cửa hàng tiện lợi và siêu thị ngay trong khu vực dân cư đã vô hiệu hóa lợi thế “gần nhà” của chợ. Với các chợ truyền thống mới xây dựng tại các khu vực như Tân Phú hay Thủ Đức lại rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng do bố trí xa khu dân cư và thiếu kết nối giao thông, dẫn đến lãng phí nguồn lực đầu tư.
Áp lực cạnh tranh bất đối xứng từ thị trường bán lẻ hiện đại: theo thống kê từ Báo cáo tổng kết năm 2023 của Sở Công Thương TP.HCM, hiện nay kênh phân phối truyền thống TP.HCM có 221 chợ truyền thống, 3 chợ đầu mối; kênh phân phối hiện đại bao gồm: 48 trung tâm thương mại, 267 siêu thị, 3.321 cửa hàng tiện lợi. Quy mô và số lượng chợ truyền thống có khuynh hướng giảm, thu hẹp qua từng năm. Các tập đoàn bán lẻ lớn như Saigon Coop, Vincom, Aeon mall sở hữu lợi thế quy mô về logistics, khả năng kiểm định chất lượng và hệ sinh thái tài chính - công nghệ mà các tiểu thương nhỏ lẻ không thể tiếp cận. Với chợ Bến Thành hiện nay phải đối mặt với áp lực trực diện từ các trung tâm thương mại cao cấp lân cận như Saigon Centre, Takashimaya. Những tổ hợp này cung cấp trải nghiệm mua sắm tiện nghi, sang trọng, thu hút phân khúc khách hàng trung lưu và du khách quốc tế, đẩy chợ Bến Thành vào nguy cơ chỉ còn là điểm tham quan văn hóa thay vì là một thực thể kinh tế thực chất. Hơn nữa, các mặt hàng lưu niệm - thế mạnh của chợ - nay bị cạnh tranh gay gắt bởi thương mại điện tử với giá cả minh bạch và dịch vụ giao nhận vượt trội. Chợ Phú Nhuận vốn là chợ dân sinh, hiện tại chợ bị “bao vây” bởi hệ thống siêu thị (Coopmart, BigC) và mạng lưới dày đặc các cửa hàng tiện lợi (Circle K, FamilyMart, GS25) ngay trong khu dân cư. Sự tiện lợi về thời gian (mở cửa 24/7) và cam kết về an toàn thực phẩm của các mô hình này đã làm xói mòn lợi thế “gần nhà” của chợ truyền thống.
Điểm yếu của chợ truyền thống trong cuộc cạnh tranh này là sự thiếu hụt các tiêu chuẩn định lượng. Trong khi siêu thị đảm bảo minh bạch giá cả, truy xuất nguồn gốc và chính sách hậu mãi (đổi trả, bảo hành), chợ truyền thống vẫn vận hành dựa trên các giao dịch phi chính thức, thiếu niêm yết giá và cam kết chất lượng. Điều này tạo ra rào cản tâm lý lớn đối với người tiêu dùng hiện đại, những người đề cao sự an toàn và minh bạch hơn là các mối quan hệ thân quen cũ kỹ.
Sự đứt gãy trong văn hóa tiêu dùng và thách thức thế hệ: Quá trình đô thị hóa và chuyển đổi số đã tạo ra một sự “đứt gãy” trong văn hóa đi chợ, đặc biệt là sự phân hóa sâu sắc giữa các thế hệ. Khái niệm “đi chợ” đang dần bị thay thế bởi “mua sắm”. Người tiêu dùng hiện đại, đặc biệt là nhóm dân cư trẻ và nhân viên văn phòng, ưu tiên tối đa hóa sự tiện lợi và tốc độ. Thói quen mặc cả và giao tiếp trực tiếp vốn là đặc trưng văn hóa của chợ, nay trở thành rào cản đối với thế hệ trẻ, những người ưa thích giá niêm yết sẵn và hạn chế tương tác xã hội không cần thiết. Đặc biệt, đại dịch COVID-19 đã đóng vai trò là chất xúc tác mạnh mẽ, thúc đẩy thói quen tiêu dùng không tiếp xúc và thanh toán điện tử.
Trước đây, chợ đóng vai trò là không gian kết nối cộng đồng. Tuy nhiên, sự phát triển của mạng xã hội và thương mại điện tử đã thay thế vai trò này. Người dân có thể tra cứu giá cả, so sánh chất lượng trực tuyến thay vì phải ra chợ hỏi giá. Nhận định về sự đứt gãy thế hệ tại chợ truyền thống được chúng tôi tổng hợp dựa trên dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo nghiên cứu thị trường uy tín như NielsenIQ, Kantar và quan sát thực nghiệm tại địa bàn. Các dữ liệu này đều cho thấy một mẫu số chung: Nhóm khách hàng trẻ (18-35 tuổi) đang ưu tiên các kênh bán lẻ hiện đại vì tiêu chí an toàn vệ sinh thực phẩm và sự tiện lợi. Họ chỉ quay lại chợ trong các dịp đặc biệt để tìm kiếm trải nghiệm văn hóa, chứ không còn coi đó là nguồn cung ứng thực phẩm hằng ngày. Áp lực cạnh tranh từ các mô hình bán lẻ hiện đại và sự thay đổi hành vi tiêu dùng là những thách thức lớn đối với chợ truyền thống.
Tại chợ Bến Thành, chợ Phú Nhuận nói riêng, hệ thống chợ truyền thống tại TP.HCM nói chung, không chỉ tồn tại những hạn chế cơ sở hạ tầng, mà còn phản ánh sự lệch pha sâu sắc giữa mô hình thương mại truyền thống với cấu trúc kinh tế, xã hội đô thị đang chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa và số hóa. Trong bối cảnh mới, các biện pháp can thiệp đơn lẻ như duy trì sửa chữa nhỏ hay hỗ trợ tài chính ngắn hạn là chưa đủ để đảo ngược xu thế suy giảm vị thế của hệ thống chợ. Nhu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải thay đổi tư duy chiến lược: chuyển từ trạng thái tồn tại thụ động dựa trên quán tính lịch sử sang phát triển chủ động thông qua tiến trình tái định vị toàn diện. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đó, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp tái định vị nhằm chuyển hóa các thách thức hiện hữu thành động lực phát triển, tái thiết lập vai trò của chợ truyền thống không chỉ như một điểm bán lẻ, mà còn là một thiết chế văn hóa - kinh tế - xã hội bền vững trong kỷ nguyên số.
Chiến lược tái định vị chợ truyền thống tại TP.HCM trong bối cảnh đương đại được cụ thể hóa qua bốn trụ cột chính
Tái định vị nhận thức: sự chuyển dịch mô hình từ “Điểm bán lẻ” sang “Thiết chế văn hóa - xã hội”
Trong bối cảnh đô thị hóa và hiện đại hóa mạnh mẽ tại TP.HCM, thực trạng cho thấy, vấn đề cốt lõi dẫn đến sự suy giảm vị thế của chợ không chỉ dừng lại ở sự xuống cấp của cơ sở hạ tầng hay tiện ích, mà ở chính tư duy định danh về loại hình. Do đó, bước đi tiên quyết để thiết lập lại tính chính danh và sự bền vững cho chợ truyền thống là thực hiện cuộc tái định vị về mặt nhận thức: chuyển dịch quan niệm từ “Điểm bán lẻ” (retail point) đơn thuần sang “Thiết chế văn hóa - xã hội” (socio-cultural institution).
Dưới lăng kính của lý thuyết cạnh tranh nếu chỉ xét trên công năng kinh tế, chợ truyền thống đã đánh mất lợi thế so sánh trước các mô hình siêu thị, cửa hàng tiện lợi hay thương mại điện tử - những mô hình vốn tối ưu hóa được logistics, minh bạch giá cả và tiện ích thanh toán. Sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng của tầng lớp trẻ và trung lưu, những người ưu tiên sự tiện lợi và an toàn, càng khiến vai trò phân phối hàng hóa của chợ bị thu hẹp và đứng trước nguy cơ bị thay thế. Việc xác lập vị thế thiết chế văn hóa - xã hội của chợ truyền thống cho phép khai thác các giá trị phi kinh tế, nơi chợ sở hữu lợi thế cạnh tranh độc quyền không thể sao chép. Chợ không chỉ là không gian vật lý mà là không gian xã hội chứa đựng các mối quan hệ, ký ức và bản sắc; là nơi lưu giữ “hồn cốt” đô thị thông qua văn hóa trả giá và tương tác trực tiếp. Khác với các giao dịch vô danh (impersonal transaction) tại siêu thị, chợ vận hành dựa trên “vốn xã hội” và sự tín nhiệm (social trust) giữa người mua và kẻ bán. Đối với các đô thị phát triển nhanh như TP.HCM, chợ đóng vai trò như một điểm “neo giữ ký ức”, duy trì tính liên tục của lịch sử trong tâm thức cộng đồng. Quy hoạch đô thị cần xem chợ truyền thống là thành tố không thể tách rời của cấu trúc di sản, ưu tiên bảo tồn cấu trúc không gian xã hội. Đây là chiến lược tái định vị dựa trên giá trị cốt lõi, giúp chợ trở thành không gian trải nghiệm đặc thù nơi giá trị thương mại và nhân văn cộng hưởng.
Tái định vị chức năng: mô hình “Chợ lai ghép” (Hybrid marketplace) trong kỷ nguyên số
Để giải quyết bài toán nguy cơ bị “bên lề hóa” về kinh tế, chợ truyền thống cần một mô hình chuyển đổi cho phép vừa thích ứng công nghệ, vừa bảo lưu bản sắc. Mô hình “Chợ lai ghép” được đề xuất như lời giải cho nghịch lý phát triển này. Bản chất của “Chợ lai ghép” là sự tích hợp giữa ba không gian chức năng: không gian vật lý, không gian số và không gian trải nghiệm, tạo nên một hệ sinh thái đa chiều của chợ truyền thống.
Đối với không gian vật lý, chợ truyền thống tiếp tục giữ vai trò neo giữ bản sắc, duy trì sự tươi sống của thực phẩm và tính linh hoạt trong giá cả. Quy hoạch không gian vật lý cần đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn hiện đại nhưng không được phá vỡ cấu trúc không gian thương mại đặc thù. Đối với không gian số, đây là yếu tố “hiện đại hóa” giúp vượt qua rào cản địa lý và thời gian. Chiến lược O2O (Online to Offline/ từ trực tuyến đến trực tiếp) cần được triển khai để biến mỗi sạp hàng thành một kho hàng nhỏ (hub) phục vụ song song khách trực tiếp và đơn hàng trực tuyến. Việc ứng dụng thanh toán không tiền mặt và các nền tảng giao hàng giúp chợ tiếp cận lại nhóm khách hàng trẻ và nhân viên văn phòng. Quan trọng hơn, số hóa còn là công cụ quản lý nguồn hàng và truy xuất nguồn gốc, giải quyết “điểm nghẽn” về niềm tin an toàn thực phẩm. Đối với không gian trải nghiệm, đây là quá trình “văn hóa hóa” thương mại, chuyển đổi hành vi mua sắm thành hành vi tiêu dùng văn hóa. Sức mạnh của mô hình lai ghép nằm ở tính tương hỗ: không gian số quảng bá cho du lịch, du lịch tạo lưu lượng khách cho thương mại truyền thống và doanh thu đa kênh giúp tiểu thương ổn định sinh kế, gắn bó hơn với chợ truyền thống.
Tái định vị biểu tượng và trải nghiệm: khai thác “vốn văn hóa” và công nghiệp sáng tạo
Khi chức năng chợ truyền thống suy giảm do cạnh tranh, lý thuyết tái định vị chỉ ra rằng cần chuyển trọng tâm sang giá trị biểu tượng (symbolic value) và giá trị trải nghiệm (experiential value). Chiến lược này nhằm biến chợ thành một “điểm đến văn hóa” gắn kết với công nghiệp sáng tạo. Việc tái định vị biểu tượng cần sự phân hóa dựa trên đặc thù từng loại chợ. Đối với chợ loại 1 (như chợ Bến Thành): tái định vị phải phục dựng chiều sâu văn hóa, khẳng định vị thế trung tâm di sản sống, nơi giao thoa giữa kiến trúc Pháp - Việt, đại diện cho lịch sử thương mại Sài Gòn. Đối với chợ dân sinh (như chợ Phú Nhuận), giá trị biểu tượng nằm ở sự “gần gũi” và “ký ức cộng đồng”. Tái định vị tại đây là tôn vinh văn hóa bản địa, sự tin cậy và mối quan hệ xã hội bền chặt - “hồn cốt” của lối sống hẻm phố.
Để hiện thực hóa “vốn văn hóa” cần tái cấu trúc trải nghiệm thông qua công nghiệp sáng tạo: văn hóa kể chuyện và nội dung số. Chợ cần truyền thông những câu chuyện về tiểu thương, văn hóa mặc cả thông qua mạng xã hội và podcast để tái tạo ấn tượng với giới trẻ. Xây dựng các tour tham quan 3600 giúp mở rộng biên độ ảnh hưởng của chợ ra không gian số quốc tế. Ngày 31/10/ 2025, UNESCO công nhận TP.HCM là Thành phố Sáng tạo trong lĩnh vực điện ảnh đầu tiên của Đông Nam Á. Với thương hiệu được vinh danh này, khuyến khích giới làm phim xây dựng kịch bản phim, bối cảnh phim, về chợ truyền thống. Điều này, không chỉ quảng bá chợ truyền thống mà còn góp phần đẩy mạnh ngành công nghiệp văn hóa của TP.HCM trong bối cảnh hiện nay. Cách tiếp cận này giúp chợ truyền thống tái sinh mạnh mẽ với tư cách là thực thể kinh tế - văn hóa đặc thù.
Tái định vị cơ chế quản lý và nguồn lực: xây dựng nền tảng thể chế bền vững
Chiến lược này dựa trên hai trụ cột: kiến tạo đòn bẩy tài chính và mô hình quản trị cộng đồng. Về nguồn lực tài chính: Quá trình hiện đại hóa đòi hỏi chi phí lớn mà nguồn thu từ phí chợ hiện tại không đủ đáp ứng. Cần thiết lập hệ thống chính sách hỗ trợ bao gồm: gói tín dụng và hỗ trợ chuyển đổi số, hỗ trợ tiểu thương đầu tư công nghệ và nâng cấp quầy sạp. Chính sách ưu đãi thuế/ phí, giảm gánh nặng kinh tế trong giai đoạn đầu tái cấu trúc. Xã hội hóa đầu tư có định hướng: kết hợp nguồn lực nhà nước và tư nhân (tiểu thương) theo lộ trình đến năm 2028 và Nghị định số 60/2024/NĐ-CP để đảm bảo khả thi cho các dự án hạ tầng lớn.
Về cơ chế quản trị: cần minh bạch hóa quyền sử dụng sạp kinh doanh bằng văn bản pháp lý để tiểu thương yên tâm coi đó là tài sản cần gìn giữ và đầu tư dài hạn. Đồng thời, cần chuyển dịch từ mô hình Ban quản lý hành chính thụ động sang mô hình “Quản trị tham gia”, như thành lập Nghiệp đoàn tiểu thương có thực quyền hoặc Hội đồng phát triển chợ - tiểu thương có quyền quyết định và giám sát. Mô hình quản trị cộng đồng giúp giải quyết xung đột lợi ích, tạo đồng thuận xã hội trong việc thực hiện văn minh thương mại và kích thích sự chủ động đổi mới sáng tạo từ chính người kinh doanh. Tái định vị cơ chế quản lý và nguồn lực là điều kiện tiên quyết, tạo nền tảng thể chế bền vững để hiện thực hóa các chiến lược về chức năng và biểu tượng.
4. Kết luận
Trong bối cảnh mới, chợ truyền thống tại TP.HCM đang đối mặt với những thách thức đa chiều về hạ tầng và thói quen tiêu dùng. Do đó, tái định vị là một yêu cầu cấp thiết nhằm tái thương lượng vai trò của thiết chế này trong cấu trúc xã hội đô thị đương đại. Bài viết đề xuất khung lý thuyết tái định vị dựa trên bốn trụ cột chiến lược. Đây là một chiến lược văn hóa toàn diện, không chỉ dừng lại ở các giải pháp kỹ thuật, mà còn nhằm đảm bảo song hành hai mục tiêu: hiệu quả kinh tế và giá trị xã hội. Tái định vị chợ truyền thống không chỉ là giải pháp bảo tồn nét truyền thống thụ động mà là quá trình chủ động kiến tạo giá trị mới, góp phần định hình bản sắc đô thị TP.HCM trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Đây là hướng đi tất yếu để biến chợ truyền thống thành những “không gian văn hóa sống”, nơi vừa phản chiếu ký ức lịch sử, vừa thích ứng linh hoạt với nhu cầu trải nghiệm của xã hội hiện đại.
______________________________
Tài liệu tham khảo
1. Bacalzo, D. S. (2022). Repositioning the public market: The case of Baguio City public market, Philippines (Tái định vị chợ công: Nghiên cứu trường hợp tại chợ thành phố Baguio, Philippines). Paper presented at published in context of Urban heritage and market redevelopment studies.
2. Lentz, C. (2017). Culture: The making, unmaking and remaking of an anthropological concept (Văn hóa: Sự hình thành, phá vỡ và tái tạo một khái niệm nhân học). Zeitschrift für Ethnologie, 142.
3. Ngọc Ánh. (2025, 19 tháng 5). TP.HCM đặt mục tiêu hoàn thành loạt chỉ tiêu giảm ô nhiễm môi trường trong năm 2025. Tạp chí điện tử Môi trường và cuộc sống. https://moitruong.net.vn/tp-hcm-dat-muc-tieu-hoan-thanh-loat-chi-tieu-giam-o-nhiemmoi-truong-trong-nam-2025-82894.html
4. Nguyễn Văn Huy. (2008). Di sản văn hóa và Bảo tàng học: Một góc nhìn từ thực tiễn. Nhà xuất bản Thế giới.
5. Trần Quốc Vượng. (2000). Văn hóa Việt Nam: Tìm tòi và suy ngẫm. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.
6. Ủy ban Nhân dân quận Phú Nhuận. (2025). Kế hoạch phát triển chợ Phú Nhuận giai đoạn 2025-2030.
7. UNESCO. (2018). Tái định hình các chính sách văn hóa thúc đẩy sáng tạo vì phát triển. Báo cáo toàn cầu của Tổng giám đốc UNESCO.
8. UNWTO. (2012). Global report on city tourism (Báo cáo toàn cầu về du lịch thành phố). AM Report (Volume six). Marid. Spain.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 3/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/2/2026; Ngày duyệt đăng: 21/2/2026.
Ths NGUYỄN THỊ TRÚC BẠCH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026