Từ khóa: cộng đồng; bảo vệ; phát huy; trò Xuân Phả.

Abstract: This article focuses on researching the role of the Xuan Pha village community in safeguarding and promoting the values of local heritage Xuan Pha performance. The author identifies the community not only as heritage practitioners but also as the primary subjects in preserving cultural memories, transmitting skills, and mobilizing socialized resources to maintain the vitality of the heritage. Research findings indicate that while local residents demonstrate a high level of voluntary spirit in practicing the heritage and contributing material resources, their authority in monitoring and administrative decision-making remains limited. In the face of modern life’s impacts and potential risks to the heritage, the article emphasizes the urgent need for a transition in management models. Accordingly, the community needs to exercise substantive autonomy, closely integrating State support with community self-management to effectively safeguard and promote the heritage in the contemporary context.

Keywords: community; safeguarding; promoting; Xuan Pha performance.

Untitledli.jpg
Múa trò Xuân Phả trong Lễ hội Lam Kinh - Ảnh: baothanhhoa.vn

1. Đặt vấn đề

Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể dựa vào cộng đồng là nguyên tắc cốt lõi được UNESCO nhấn mạnh trong Công ước 2003. Trong dòng chảy văn hóa xứ Thanh, trò Xuân Phả được tôn vinh là “Đệ nhất trò diễn” và chính thức trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2016. Trải qua nhiều thế kỷ, sức sống bền bỉ của trò Xuân Phả không chỉ nằm ở giá trị nghệ thuật độc đáo mà còn ở cơ chế tự quản và tinh thần trách nhiệm của cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, ngày nay, dưới sự tác động của kinh tế thị trường, xu hướng “sân khấu hóa” và thực trạng già hóa đội ngũ nghệ nhân am hiểu bí quyết chế tác đạo cụ, mặt nạ đang đặt ra những yêu cầu mới cho công tác quản lý.

Thực tế cho thấy, nếu tách rời cộng đồng khỏi các quyết định bảo tồn, di sản dễ rơi vào tình trạng bảo tàng hóa hoặc biến dạng bản sắc. Do đó, việc nhận diện và đánh giá đúng vai trò của cộng đồng trong bối cảnh hiện nay không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận quản lý mà còn là cơ sở cấp thiết để xây dựng các chính sách hỗ trợ thiết thực, giúp trò Xuân Phả thích ứng và phát huy hiệu quả trong đời sống đương đại.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính toàn diện và khách quan. Với phương pháp định tính, tác giả trực tiếp quan sát tham dự các kỳ lễ hội và buổi tập luyện tại làng Xuân Phả để ghi nhận quy trình thực hành, nghi lễ và cơ chế tự quản của dân làng. Đồng thời, tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu với một số nghệ nhân và cán bộ quản lý để làm rõ cơ chế truyền dạy, chế tác đạo cụ cũng như thực trạng quản lý hiện nay.

Về định lượng, tác giả thực hiện khảo sát xã hội học trên 200 mẫu là nghệ nhân và cư dân địa phương. Dữ liệu được phân tích qua ba chỉ số chính: Tỷ lệ phần trăm (%) để nhận diện cơ cấu; Điểm trung bình (Mean) để đo lường mức độ đồng thuận (thang Likert 5 mức độ) và Độ lệch chuẩn (SD) để đánh giá mức độ tập trung hoặc phân hóa trong ý kiến cộng đồng. Việc xử lý số liệu không chỉ giúp nhận diện đóng góp nguồn lực của người dân mà còn chỉ ra những khoảng trống trong quyền quyết định của chủ thể di sản.

Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và so sánh được áp dụng xuyên suốt. Tác giả đã rà soát hệ thống văn bản pháp quy, hồ sơ di sản kết hợp với các ghi chép cá nhân của nghệ nhân để xây dựng khung lý thuyết, đồng thời làm nổi bật nét đặc thù trong mô hình tự quản của cộng đồng Xuân Phả so với các loại hình trò diễn khác trong khu vực.

Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và so sánh được áp dụng xuyên suốt để xây dựng khung lý thuyết và đối chiếu thực tiễn. Tác giả đã tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ khoa học Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trò Xuân Phả, kết hợp với việc nghiên cứu các tư liệu hồi ức và ghi chép của các nghệ nhân trong cộng đồng. Phương pháp so sánh được sử dụng để làm nổi bật nét đặc thù trong mô hình tự quản của cộng đồng Xuân Phả so với các loại hình trò diễn dân gian khác trong khu vực.

3. Kết quả và thảo luận

Cấu trúc cộng đồng chủ thể của trò Xuân Phả

Cấu trúc cộng đồng chủ thể của trò Xuân Phả bao gồm 3 nhóm chủ thể trụ cột, tương tác khá hiệu quả với nhau để duy trì sức sống của di sản.

Nhóm chủ thể định chuẩn và lưu giữ ký ức (đội nền)

“Đội nền” của trò Xuân Phả là một thiết chế nhân sự đặc thù quy tụ những cá nhân xuất sắc nhất về kỹ năng diễn xướng và am hiểu nghi lễ. Tính đến tháng 3/2026, nhóm gồm 23 thành viên, trong đó có 1 Nghệ nhân Nhân dân (NNND) và 13 Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT). “Đội nền” của trò Xuân Phả đóng vai trò như một trục định chuẩn. Họ nắm giữ những quy tắc về nhịp phách, điệu múa, thần thái của mặt nạ… để đảm bảo những giá trị tinh hoa của trò Xuân Phả được giữ gìn và thể hiện một cách tốt nhất.

Nhóm chủ thể thực hành di sản trong các thôn/ làng

Nếu nhóm nghệ nhân đội nền đóng vai trò hạt nhân duy trì các giá trị cốt lõi về kỹ thuật múa và nhịp phách chuẩn mực, thì cộng đồng dân cư tại 6 thôn chính là lực lượng tạo nên không gian sinh tồn rộng lớn và bền vững cho trò diễn. Mỗi đơn vị cư trú đóng vai trò là môi trường nuôi dưỡng và bảo tồn một trò diễn cụ thể: làng Thượng (thôn 1): nắm giữ trò Hoa Lang; làng Trung (thôn 2): nắm giữ trò Tú Huần; làng Đoài và làng Liên Thành: đồng nắm giữ trò Chiêm Thành; làng Đông: nắm giữ trò Ngô Quốc; làng Yên: nắm giữ trò Ai Lao.

Cơ chế này đã chuyển hóa việc bảo vệ di sản từ trách nhiệm chung của xã thành nghĩa vụ cụ thể gắn liền với danh dự và bản sắc riêng của từng đơn vị thôn làng. Việc luân phiên thay đổi nhân sự trong đội múa với số lượng khoảng 15 người mỗi đội hằng năm là một phương thức truyền bá kỹ năng hiệu quả, giúp đa số người dân trong làng đều có khả năng thực hành trò diễn. Mô hình này giúp khắc phục tình trạng khu biệt di sản thường thấy ở nhiều nơi khác, khi việc thực hành chỉ còn ở vài dòng họ hoặc cá nhân. Tại Xuân Phả, di sản được chia sẻ rộng rãi và trở thành tài sản chung của toàn thể dân làng. Sự phân chia trách nhiệm giữa các đơn vị cư trú tạo ra một môi trường thi đua văn hóa tự nhiên. Tâm lý mong muốn thôn/ làng mình có kỹ thuật biểu diễn tinh tế và phục trang chỉn chu hơn các làng lân cận trong ngày hội chính là động lực nội sinh mạnh mẽ. Điều này thúc đẩy người dân tự nguyện đóng góp nguồn lực tài chính và công sức một cách tự giác mà không cần đến các biện pháp hành chính từ phía chính quyền.

Nhóm chủ thể kế cận và mạng lưới hỗ trợ

Việc đưa trò diễn vào chương trình giảng dạy tại trường Trung học cơ sở Xuân Trường cùng các hoạt động ngoại khóa đã hình thành một đội ngũ thực hành dự bị cho di sản. Thông qua quá trình này, các em học sinh không chỉ được tiếp cận kỹ thuật múa mà còn được bồi đắp ký ức văn hóa, khơi dậy lòng tự hào về truyền thống quê hương.

Song song với đó, mạng lưới hội đồng hương Xuân Phả tại các đô thị lớn như Hà Nội hay Đồng Nai đóng vai trò là nhóm chủ thể hỗ trợ quan trọng. Nhóm này không chỉ cung cấp nguồn lực tài chính cho việc tu bổ nghè Xuân Phả và tổ chức lễ hội hằng năm, mà còn góp phần mở rộng không gian quảng bá di sản ra khỏi phạm vi làng xã.

Việc thực hiện vai trò của cộng đồng

Qua khảo sát 200 người dân tại xã Thọ Xuân, trọng tâm là các nghệ nhân, dân làng Xuân Phả, vai trò và sự tham gia của cộng đồng được thể hiện cụ thể như sau:

Cộng đồng nhận diện và khẳng định giá trị của di sản

Sự nhận diện di sản của cộng đồng không chỉ dừng lại ở việc biết đến sự tồn tại của các trò diễn, mà quan trọng hơn là sự thấu hiểu giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh gắn liền với không gian sinh tồn của làng xã.

Untitlednm.jpg
Bảng 1: Mức độ hiểu biết của cộng đồng địa phương về di sản

Số liệu tại bảng 1 cho thấy mức độ nhận diện di sản của người dân Xuân Phả đạt tỷ lệ rất cao với tổng cộng 81,0% người dân khẳng định có hiểu biết về di sản (bao gồm các mức độ biết và biết rất rõ). Điều này minh chứng cho sự tự nhận thức mạnh mẽ về căn tính văn hóa địa phương. Người dân nơi đây không xem các trò diễn đơn thuần là hoạt động giải trí hội hè, mà coi đó là linh hồn, là biểu tượng khẳng định uy thế văn hóa của làng xã. Tuy nhiên, có một sự phân hóa nhẹ trong cấu trúc tri thức: trong khi tỷ lệ người dân biết đạt mức cao nhất (50,0%), thì nhóm biết rất rõ chiếm 31,0%. Thực tế này có thể lý giải bởi đặc thù của trò Xuân Phả vốn sở hữu hệ thống vũ đạo phức tạp và tính chuyên môn hóa nghệ thuật cao. Do đó, các tri thức chuyên sâu thường có xu hướng tập trung vào đội ngũ nghệ nhân nòng cốt, trong khi đại đa số cư dân nắm bắt di sản ở mức độ nhận diện các giá trị chung và quy trình lễ hội.

Untitledlm.jpg
Bảng 2: Nhận thức của cộng đồng địa phương về ý nghĩa di sản

Số liệu trên cho thấy sự khẳng định giá trị di sản rất cao từ phía cộng đồng. Cụ thể, tiêu chí thể hiện bản sắc văn hóa địa phương đạt điểm trung bình cao nhất (Mean = 4,29). Với chỉ số độ lệch chuẩn thấp (SD = 0,57), kết quả này phản ánh một sự đồng thuận lớn và thống nhất cao trong tư tưởng của cư dân Xuân Phả khi nhìn nhận di sản là cốt lõi của bản sắc quê hương. Tương tự, các giá trị về gắn kết cộng đồng (4,22) và gìn giữ truyền thống làng xã (4,18) đều đạt ngưỡng điểm trên 4,0, cho thấy di sản đóng vai trò như một sợi dây liên kết vô hình nhưng bền chặt giữa các thành viên trong xã hội. Đáng chú ý, nhận thức về giá trị phát triển du lịch và kinh tế của người dân đạt mức 3,71. Dù thấp hơn các giá trị văn hóa thuần túy, nhưng con số này cho thấy cộng đồng đã bắt đầu nhận diện trò Xuân Phả như một nguồn lực phát triển bền vững, phản ánh danh tiếng cấp quốc gia của di sản đã bắt đầu chuyển hóa thành tư duy kinh tế văn hóa tại địa phương.

Cộng đồng là “kho lưu trữ sống” trong quá trình tái thiết và phục dựng di sản

Sau những đứt gãy lịch sử kéo dài, đặc biệt là khoảng thời gian từ năm 1948-2011, chính ký ức của cộng đồng đã trở thành cơ sở dữ liệu quan trọng và tin cậy nhất để hồi sinh di sản trò Xuân Phả. Việc khôi phục lễ hội chủ yếu nhờ vào sự âm thầm lưu giữ ký ức dân gian về trò diễn trong cộng đồng, đặc biệt là vai trò của các cụ cao niên am hiểu sâu sắc về trò như cụ Đỗ Ơm, Đỗ Thuyết, Đỗ Đình Tạ. Sau đó, NNƯT Bùi Văn Hùng còn kiên trì ghi chép, tư liệu hóa, vẽ lại hệ thống vũ đạo của trò diễn. Những nỗ lực này đã giúp lưu giữ các bí quyết kỹ thuật và tri thức dân gian đặc thù mà các văn bản hành chính thông thường khó có thể chuyển tải hết được. Sự tham gia tích cực này khẳng định rằng khi di sản không còn tồn tại trên bề mặt đời sống thực hành, nó vẫn được bảo tồn bền vững trong tâm thức của cộng đồng chủ thể.

Cộng đồng là chủ thể thực hành và giám sát

Sự tham gia của cộng đồng Xuân Phả trong khâu thực hành di sản không mang tính thụ động mà được tổ chức thành các thiết chế xã hội chặt chẽ với tinh thần tự giác và tính kỷ luật cao. Cộng đồng thực hiện quyền lực văn hóa của mình thông qua việc thiết lập và tuân thủ các quy tắc chuyên môn và tâm linh được quy ước ngầm định. Chính người dân, chứ không phải các cơ quan quản lý hành chính, là những người trực tiếp giám sát và kiên quyết loại bỏ những cá nhân không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về đạo đức hoặc vi phạm các điều cấm kỵ tâm linh ra khỏi đội hình diễn xướng. Những hành động này nhằm mục đích cao nhất là bảo vệ tính thiêng của di sản và ngăn chặn sự xâm nhập của các yếu tố thiếu chuẩn mực làm ảnh hưởng đến giá trị truyền thống.

Thông qua cơ chế thực hành tập thể và quá trình kèm cặp trực tiếp giữa các thế hệ nghệ nhân tại làng Xuân Phả, cộng đồng đã tự thiết lập một môi trường thẩm định nghệ thuật thường xuyên. Nhiều sự sai lệch trong nhịp phách, các động tác múa hay quy trình chế tác đạo cụ, mặt nạ đều được cộng đồng phát hiện và điều chỉnh kịp thời. Chính tinh thần giám sát cộng đồng này đã trở thành bộ lọc tự nhiên, giúp trò Xuân Phả có thể giữ được bản sắc độc đáo qua chiều dài lịch sử.

Cộng đồng cung cấp nguồn nhân lực và tài chính tổ chức lễ hội

Trong bối cảnh nguồn ngân sách nhà nước dành cho công tác bảo tồn còn hạn chế, cộng đồng địa phương đóng vai trò là nguồn lực tài chính và vật chất quan trọng nhất đối với di sản. Năm 2024, cộng đồng địa phương đã tự nguyện đóng góp hơn 1,1 tỷ đồng để tu bổ nghè Xuân Phả. Từ năm 2001, khi lễ hội được khôi phục lại, cộng đồng hằng năm đều đóng góp nguồn nhân lực và kinh phí để thực hiện. Sự đóng góp này đảm bảo cho di sản có một nền tảng hậu cần vững chắc, giúp các hoạt động thực hành truyền thống được duy trì thường xuyên và trang trọng mà không hoàn toàn phụ thuộc vào sự bao cấp của Nhà nước.

Cộng đồng là “đại sứ văn hóa” trong truyền dạy và quảng bá

Sự tham gia của cộng đồng Xuân Phả đã vượt ra khỏi phạm vi không gian làng xã để hướng tới mục tiêu trao truyền liên thế hệ và quảng bá rộng rãi. Để thực hiện điều này, cộng đồng đã chủ động phá bỏ những rào cản về bí mật gia truyền vốn tồn tại trước đây, thay thế bằng các chiến lược trao truyền mở rộng như đưa di sản vào giảng dạy trong trường học hoặc phổ biến cho toàn thể cư dân trong thôn. Khi tham gia vào các sự kiện văn hóa lớn hoặc các hoạt động phục vụ du lịch, cộng đồng đã thực hiện bước chuyển đổi vai trò quan trọng từ người thực hành nghi lễ đơn thuần sang người trình diễn văn hóa chuyên nghiệp. Họ chủ động điều chỉnh không gian và thời gian diễn xướng để phù hợp với sân khấu hiện đại nhưng vẫn nỗ lực giữ gìn bản sắc cốt lõi, qua đó thể hiện năng lực thích ứng linh hoạt của chủ thể văn hóa trong bối cảnh mới.

Nhìn chung, cộng đồng cư dân làng Xuân Phả chính là những người nắm giữ chìa khóa của quá khứ thông qua ký ức, kiểm soát chất lượng của hiện tại qua quá trình thực hành và định hình tương lai của di sản thông qua giáo dục và đầu tư. Sự tham gia bền bỉ, tự nguyện và có tổ chức của cộng đồng chính là thành lũy vững chắc nhất bảo vệ di sản trước những tác động tiêu cực của thời gian và nền kinh tế thị trường.

Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản

Mức độ tham gia của cộng đồng là chỉ số phản ánh tính thực chất của việc trao quyền trong quản trị di sản. Tiến trình này không tĩnh tại mà dịch chuyển qua ba cấp độ quyền lực tăng dần:

Cấp độ thụ động (tiếp nhận thông tin và tham vấn): cộng đồng tham gia với tư cách là bên tiếp nhận các thông báo, kế hoạch đã được hoạch định sẵn từ cơ quan quản lý.

Cấp độ chủ động (thực hiện và đóng góp nguồn lực): đây là giai đoạn khẳng định vai trò chủ thể thực hành. Người dân trực tiếp tham gia tập luyện, trình diễn, chế tác đạo cụ và tự nguyện đóng góp kinh phí, ngày công.

Cấp độ quyết định (giám sát và biểu quyết): là mức độ cao nhất của quyền sở hữu văn hóa, nơi cộng đồng tham gia vào việc giám sát tài chính, biểu quyết các vấn đề quan trọng và cùng hoạch định chiến lược phát triển (mô hình đồng quản lý).

Untitled;p.jpg
Bảng 3: Mức độ tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản

Dựa trên kết quả tại bảng 3, thực trạng tham gia của cộng đồng Xuân Phả được phân tích qua các cấp độ sau:

 Cấp độ tiếp nhận thông tin và tham vấn (cấp độ thụ động): người dân đánh giá cao sự kịp thời trong thông báo kế hoạch lễ hội (Mean = 3,74) nhờ hệ thống truyền thanh và họp làng hiệu quả. Tuy nhiên, khi chuyển sang khâu tham vấn ý kiến, điểm số giảm xuống mức trung bình (Mean từ 3,02 đến 3,05). Điều này cho thấy cộng đồng chủ yếu vẫn tiếp nhận và thực hiện theo kế hoạch sẵn có hơn là trực tiếp đóng góp ý tưởng ngay từ giai đoạn lập đề án.

Cấp độ trực tiếp thực hiện và đóng góp nguồn lực (cấp độ chủ động): đây là thế mạnh cốt lõi khi di sản gắn bó mật thiết với đời sống. Chỉ số trực tiếp thực hành đạt mức khá (Mean = 3,61) nhờ quy trình tuyển chọn “con trò” khắt khe từ các gia đình trong làng. Mức độ đóng góp nguồn lực cũng đạt điểm số ấn tượng (Mean = 3,53), tiêu biểu là việc huy động kinh phí lớn tu bổ nghè Xuân Phả, minh chứng cho tinh thần tự quản “lấy di sản nuôi di sản”.

Cấp độ giám sát và quyết định (cấp độ quyết định): việc giám sát kinh phí và tu bổ chỉ đạt dưới ngưỡng trung bình (Mean từ 2,93 đến 2,98). Với SD dao động 0,83-0,85, cộng đồng có sự phân hóa khi phần lớn vẫn tin tưởng giao phó cho Ban quản lý hoặc các nghệ nhân lão thành. Đáng lưu ý, quyền quyết định có điểm số thấp nhất (biểu quyết vấn đề quan trọng đạt 2,81; quyết định đưa di sản vào du lịch đạt 2,75). Chỉ số SD cao nhất là 0,90 phản ánh sự lúng túng của người dân trong việc định hướng tương lai kinh tế của di sản, đòi hỏi một cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn để thực hiện hóa quyền làm chủ của cộng đồng.

Untitledml.jpg
Bảng 4: Kết quả tự đánh giá mức độ tham gia của
cộng đồng đối với việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản hiện nay

Kết quả tự đánh giá tại bảng 4 cho thấy mức độ tham gia hiện nay của cộng đồng chủ yếu tập trung ở ngưỡng trung bình (38,0%) và khá (30,0%). Tỷ lệ đánh giá ở mức rất cao vô cùng khiêm tốn, chỉ đạt 3,0%. Những con số này phản ánh một thực tế là cộng đồng chưa thực sự phát huy hết tiềm năng của mình. Sự tham gia hiện tại phần lớn vẫn mang tính chất mùa vụ gắn với dịp lễ hội và giới hạn trong các hoạt động thực hành kỹ thuật, chưa thâm nhập sâu vào quy trình quản lý và hoạch định chiến lược dài hạn.

Nhìn chung, cộng đồng Xuân Phả đã thực hiện rất tốt vai trò là người thực hành và người đóng góp nguồn lực (Mean > 3,5). Tuy nhiên, vai trò là người quản lý bao gồm giám sát và quyết định vẫn còn hạn chế (Mean < 3,0). Đây là nút thắt cần tháo gỡ trong công tác quản lý.

Hạn chế và rào cản trong việc thực hiện vai trò của cộng đồng

Mặc dù cộng đồng chủ thể tại làng Xuân Phả và lân cận đã thể hiện vai trò trung tâm trong quá trình hồi sinh di sản, song thực tiễn vận hành cho thấy sự tham gia này vẫn tồn tại những khoảng trống. Những hạn chế này không chỉ xuất phát từ bối cảnh kinh tế, xã hội khách quan mà còn đến từ những bất cập trong cấu trúc và mức độ tham gia thực tế của cộng đồng.

Thứ nhất, hạn chế về tính bền vững trong trao truyền do nguy cơ đứt gãy thế hệ. Đây là thách thức mấu chốt khi hầu hết thành viên nắm giữ kỹ thuật tinh hoa như đánh trống, múa lão, hay chế tác mặt nạ đều đã ở độ tuổi ngoài 70. Lớp trẻ kế cận có trình độ thấu hiểu di sản và kỹ thuật chuyên sâu vẫn đang thiếu hụt trầm trọng.

Thứ hai, sự lệch pha giữa các cấp độ tham gia: mạnh về thực hiện nhưng còn yếu quản trị. Kết quả khảo sát tại bảng 3 đã thể hiện hạn chế về quyền năng của cộng đồng. Trong khi mức độ trực tiếp tham gia thực hành và đóng góp công sức đạt điểm số khá cao (Mean > 3,5), thì mức độ tham gia vào các khâu quản trị lại rất thấp. Điểm số về mức độ giám sát kinh phí (Mean 2,93) và mức độ quyết định các vấn đề quan trọng (Mean 2,81) cho thấy cộng đồng vẫn đang ở thế thụ động. Người dân chủ yếu tham gia theo phương thức tiếp nhận và thực hiện các kế hoạch đã định sẵn, thiếu cơ chế để biểu quyết hay giám sát thực chất.

Thứ ba, áp lực sinh kế dẫn đến sự tham gia thiếu ổn định. Phần lớn cộng đồng chủ thể là nông dân hoặc lao động tự do. Một số người trẻ có tài năng diễn xướng nhưng phải rời quê hương đi làm ăn xa để đảm bảo cuộc sống. Sự biến động về nhân lực này khiến các đội múa thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu hụt. Điều này cũng lý giải vì sao điểm trung bình về mức độ sẵn sàng đóng góp công sức dù cao nhưng lại khó duy trì tính chuyên nghiệp và cam kết dài hạn.

Thứ tư, hạn chế trong nhận thức và nguy cơ sân khấu hóa di sản. Dưới tác động của cơ chế thị trường, một bộ phận cộng đồng đang có xu hướng thỏa hiệp các giá trị nguyên bản để chiều lòng du khách. Việc cắt gọt thời lượng diễn xướng, cải biên động tác cho bắt mắt hay sử dụng vật liệu công nghiệp làm đạo cụ đang làm xói mòn tính thiêng và bản sắc của di sản. Sự dễ dãi trong thực hành này phản ánh một lỗ hổng trong nhận thức về việc bảo tồn các giá trị cốt lõi trước áp lực thương mại hóa.

Thứ năm, sự thiếu hụt năng lực tự chủ trong phát huy giá trị kinh tế. Cộng đồng vẫn chưa thực sự làm chủ được nguồn tài nguyên văn hóa mình nắm giữ. Tại Xuân Phả, người dân vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào sự bao cấp và điều phối của chính quyền, thiếu các kỹ năng mềm như ngoại ngữ, marketing hay quản lý để tự vận hành các mô hình du lịch cộng đồng. Điểm số thấp nhất ở mục quyết định đưa di sản vào hoạt động du lịch (Mean 2,75) là minh chứng rõ nhất cho sự lúng túng và thụ động này.

Tóm lại, những hạn chế trên cho thấy cộng đồng chủ thể tuy nhiệt huyết nhưng vẫn còn mỏng về lực lượng, yếu về kinh tế và đặc biệt là thiếu quyền năng trong giám sát và quyết định. Để khắc phục, cần một chiến lược chuyển dịch từ quản lý thay cộng đồng sang mô hình đồng quản lý nhằm nâng cao năng lực thực chất, đảm bảo an sinh và trao trả quyền làm chủ cho những người đang trực tiếp giữ hồn di sản trò Xuân Phả.

4. Kết luận

Từ trường hợp nghiên cứu về vai trò của cộng đồng chủ thể trò Xuân Phả, bài viết hướng tới việc nhận diện bản chất của công tác bảo tồn di sản trong bối cảnh đương đại. Di sản không phải là một thực thể tĩnh cần được đóng gói trong bảo tàng, mà là một hệ sinh thái nhân văn sống động, nơi cộng đồng đóng vai trò là nguồn mạch duy trì sức sống. Thực tiễn tại làng Xuân Phả cho thấy, di sản sẽ được bảo tồn tốt nhất khi được dân chủ hóa và thẩm thấu vào cấu trúc địa - văn hóa của từng thôn làng. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra một hạn chế mang tính phổ quát trong quản lý di sản tại Việt Nam hiện nay: độ chênh giữa khả năng thực hành kỹ thuật và năng lực quản trị thực tế của người dân. Khi cộng đồng chỉ dừng lại ở vai trò là người diễn trò và người đóng góp nguồn lực mà chưa thực hiện hay phát huy được quyền giám sát và quyết định chiến lược, thì sẽ chưa thể tạo ra một cơ chế bảo tồn di sản bền vững. Hệ quả là sự đứt gãy giữa lợi ích của cộng đồng với mục tiêu bảo vệ di sản, khiến di sản dễ bị tổn thương trước xu hướng thương mại hóa hoặc các can thiệp hành chính thiếu chiều sâu. Do đó, còn có sự chuyển dịch từ tư duy quản lý hành chính từ trên xuống sang mô hình đồng quản lý. Trong mô hình này, Nhà nước không làm thay cộng đồng mà đóng vai trò kiến tạo hành lang pháp lý và hỗ trợ kỹ năng, trong khi cộng đồng là chủ thể quyết định di sản.

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Ban nghiên cứu và Ban biên soạn lịch sử Thanh Hóa. (2005). Văn hóa phi vật thể Thanh Hóa. Nhà xuất bản Thanh Hóa.

2. Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện Thọ Xuân. (2005). Địa chí huyện Thọ Xuân. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

3. Lê Kim Lữ. (2011). Trò diễn dân gian trên đất Thanh Hóa. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.

4. Lê Thị Minh Lý. (2010). Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể - Quá trình nhận thức và bài học thực tiễn. Tạp chí Di sản văn hóa. Số 1(30).

5. Hoàng Anh Nhân, Phạm Minh Khang, Hoàng Hải. (1997). Khảo sát trò Xuân Phả. Nhà xuất bản Âm nhạc.

6. Nguyễn Thị Thanh Nga. (2023). Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong quản lý di tích quốc gia đặc biệt tại Thanh Hóa. Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa. Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

7. Phạm Cao Quý. (2019). Di sản văn hóa phi vật thể với nghệ nhân và cộng đồng. Tạp chí Di sản văn hóa. Số 3(67).

8. Bùi Hoài Sơn. (2010). Di sản cho ai và câu chuyện về tổ chức lễ hội truyền thống ở Việt Nam. Tạp chí Di sản văn hóa. Số 3(32).

9. Lê Huy Trâm, Hoàng Anh Nhân. (2001). Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh. (Tập 1). Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.

10. Hoàng Minh Tường. (2014). Vị thế của quốc gia Đại Việt và thông điệp về sự bang giao in dấu trong trò Xuân Phả. Tạp chí Di sản văn hóa. Số 3(48).

Ngày Tòa soạn nhận bài: 3/3/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/3/2026; Ngày duyệt đăng: 28/3/2026.

Ths NGUYỄN ĐÌNH THẢO

Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026