Từ khóa: di tích lịch sử văn hóa; nguồn lực nhân văn; phát triển bền vững; Hà Nội; di sản văn hóa.
Abstract: As the political, administrative, and cultural center of the country, the capital city of Hanoi possesses a rich and diverse system of historical and cultural relics in terms of types and values, reflecting the depth of history and the cultural identity of Thang Long - Hanoi. Based on an approach that views the relic system as a humanistic resource, this paper provides an overview of Hanoi’s historical and cultural relic system and clarifies how their values are transformed and integrated into social life through traditional education, the construction of community cultural life, the development of cultural tourism, and the promotion of cultural creative activities. On this basis, the paper proposes several solutions to enhance the effectiveness of utilizing the values of historical and cultural relics for the sustainable development of Hanoi in the current period.
Keywords: historical and cultural relics; humanistic resources; sustainable development; Hanoi; cultural heritage.

1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển bền vững đã trở thành xu thế chủ đạo, việc nhận diện, khai thác có hiệu quả các nguồn lực nội sinh có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển lâu dài của mỗi quốc gia và địa phương. Cùng với các nguồn lực kinh tế, khoa học - công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… những năm gần đây, nguồn lực văn hóa ngày càng được nhận diện rõ hơn như một yếu tố nội sinh, quan trọng, góp phần tạo nên bản sắc, sức cạnh tranh và động lực phát triển bền vững. Trong tổng thể nguồn lực văn hóa, di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) giữ vị trí đặc biệt, là sản phẩm vật chất mà các thế hệ trước truyền lại đến ngày nay, tuy nhiên, không phải là sản phẩm vật chất thông thường mà là các sản phẩm được kết tinh những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, thể hiện những tinh hoa đỉnh cao, của trí tuệ, sức sáng tạo của các thế hệ đi trước trong những sản phẩm đó. Các di tích được gìn giữ, bảo vệ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc, bên cạnh đó, các giá trị của chúng cũng được khai thác, phát huy đáp ứng nhu cầu của người dân. Luật Di sản văn hóa (2024) đã khẳng định “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Nhân dân ta”. Các DTLSVH trên cả nước đã và đang được quản lý, khai thác, phát huy giá trị góp phần quan trọng để phục vụ sự phát triển cộng đồng, phục vụ cho nhu cầu hưởng thụ, nâng cao đời sống văn hóa của người dân.
Thủ đô Hà Nội là địa phương có hệ thống DTLSVH phong phú, đa dạng về loại hình, quy mô và giá trị. Trải qua thời gian, các di tích trên địa bàn Thủ đô không chỉ góp phần định hình bản sắc văn hóa Thăng Long - Hà Nội mà còn tạo nên một nguồn lực nhân văn đặc biệt, giàu tiềm năng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững.
Về quy mô, Hà Nội hiện là địa phương có số lượng di tích lớn nhất cả nước. Theo số liệu thống kê, các di tích đã được kiểm kê trên địa bàn là 6.489 di tích, trong đó có 22 cụm di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, 1.165 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 1.672 di tích được xếp hạng cấp thành phố; có 1 di sản văn hóa (DSVH) thế giới là Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội và 1 di sản tư liệu UNESCO công nhận (Bia tiến sĩ các khoa thi triều Lê và Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám) (Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, tháng 12/2025).
Về loại hình, có đầy đủ các loại hình theo quy định của Luật Di sản văn hóa: di tích lịch sử, di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh... Các di tích khảo cổ tiêu biểu như Cổ Loa, Hoàng thành Thăng Long - nơi ghi dấu các giai đoạn hình thành nhà nước và kinh đô cổ; các di tích lịch sử cách mạng như nhà số 5D Hàm Long, nhà số 48 Hàng Ngang, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch… các công trình kiến trúc nghệ thuật, cùng các danh thắng nổi tiếng như Hồ Gươm, hồ Tây hay quần thể danh thắng Hương Sơn… Đáng chú ý, trong hệ thống di tích của Hà Nội còn lưu giữ nhiều bảo vật quốc gia có giá trị đặc biệt, tiêu biểu như hệ thống 82 bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám; tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở đền Trấn Vũ quán, tượng Phật thời Tây Sơn ở chùa Tây Phương, bộ tượng Di đà Tam tôn chùa Thầy… Các hiện vật này không chỉ có giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và khoa học, mà còn mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, góp phần truyền tải các giá trị đạo đức, tri thức và tinh thần nhân văn của dân tộc qua nhiều thế hệ.
Từ góc độ tiếp cận nguồn lực, có thể khẳng định rằng hệ thống di tích của Hà Nội là một nguồn lực nhân văn đặc biệt, bởi các di tích không chỉ tồn tại như những đối tượng vật chất cần được bảo tồn, mà còn là nơi lưu giữ ký ức lịch sử, truyền thống văn hóa và các giá trị tinh thần của cộng đồng. Thông qua các hoạt động thực hành văn hóa, sinh hoạt tín ngưỡng, giáo dục truyền thống và trải nghiệm di sản, di tích có khả năng tác động trực tiếp đến nhận thức, thái độ và hành vi của con người, góp phần hình thành nhân cách, bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức cộng đồng và trách nhiệm xã hội.
Chính sự hội tụ của các giá trị lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ và nhân văn đã giúp các di tích trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, có khả năng tham gia sâu vào quá trình phát triển bền vững của Thủ đô. Không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của người dân, hệ thống di tích còn tạo nền tảng cho phát triển du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa và các hoạt động sáng tạo, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững và bao trùm. Đây là cơ sở quan trọng để khẳng định rằng việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ di sản, mà còn là chiến lược đầu tư lâu dài cho phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết được triển khai trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa văn hóa học, sử học và quản lý di sản văn hóa, đặt hệ thống di tích của Hà Nội trong mối quan hệ với lý thuyết nguồn lực nội sinh và phát triển bền vững.
Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu được sử dụng nhằm hệ thống hóa các văn bản về chính sách, các báo cáo chuyên ngành, các nghiên cứu liên quan đến di tích, DSVH…
Phương pháp thống kê - so sánh được vận dụng để xử lý số liệu về số lượng di tích, đầu tư tu bổ di tích và hoạt động du lịch, qua đó nhận diện xu hướng chuyển hóa giá trị di sản thành nguồn lực nhân văn. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu trường hợp được áp dụng đối với một số di tích tiêu biểu nhằm làm rõ cơ chế phát huy giá trị trong thực tiễn. Cách tiếp cận này bảo đảm tính khách quan, khoa học và gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn quản lý DSVH ở Thủ đô.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả
Góp phần giáo dục truyền thống hướng tới xây dựng con người Thủ đô hoàn thiện theo hướng chân thiện mỹ
Trước hết, cơ chế giáo dục và truyền thông di sản là con đường cơ bản để chuyển hóa di tích thành nguồn lực nhân văn. DTLSVH là nơi hàm chứa các giá trị về lịch sử của đất nước, vùng đất nơi chúng đang tồn tại, cũng có thể phản ánh về những danh nhân, những tấm gương tiêu biểu có công trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với ý nghĩa như vậy, các DTLSVH là những tài sản quý giá góp phần khẳng định truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta về chủ nghĩa yêu nước, anh hùng, bất khuất; về tinh thần tự hào dân tộc, yêu chuộng hòa bình; cũng như tinh thần đoàn kết, lao động sáng tạo, sống đạo lý nhân nghĩa của người dân Việt...
Nhiều di tích tiêu biểu của Hà Nội đã và đang được khai thác như những “không gian giáo dục mở”, góp phần truyền tải lịch sử, bồi dưỡng tri thức và giá trị nhân văn cho cộng đồng; là phương tiện quan trọng để hướng tới việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ, nhằm hoàn thiện và nâng cao phẩm chất, bản lĩnh của một công dân Thủ đô - Thủ đô vì hòa bình - theo hướng chân- thiện - mỹ. Những năm qua, thực hiện theo chủ trương của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố đưa nội dung giáo dục Hà Nội học vào chương trình học ở các trường phổ thông, nhiều trường đã linh hoạt, chủ động trong việc triển khai đổi mới hình thức các nội dung giáo dục đạo đức, truyền thống và sáng tạo để học sinh dễ tiếp cận, dễ thích nghi. Học sinh được học tập qua hình thức trải nghiệm thực tế, ngoại khóa tại các bảo tàng, tại di tích như đình, chùa, văn miếu… Các trường đã có sự liên kết với các điểm di tích, lấy di tích như một cơ sở để giảng dạy, học tập, trau dồi kiến thức. Đó là cách làm hiệu quả, khơi gợi, giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước, truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái… cho học sinh.
Các di tích đang phát huy rất tốt những giá trị của mình, góp phần vào việc giáo dục truyền thống tiêu biểu nhất phải kể đến Văn Miếu - Quốc Tử Giám, là biểu tượng của truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo, thường xuyên được lựa chọn làm địa điểm tổ chức các hoạt động giáo dục, tôn vinh tri thức và các sự kiện văn hóa. Thông qua các hoạt động tham quan, học tập trải nghiệm và truyền thông di sản, di tích không chỉ được “xem” mà còn được “hiểu” về lịch sử, tấm gương học tập, nghiên cứu của các thế hệ đi trước.
Khu di tích nhà tù Hỏa Lò cũng là địa điểm để nhiều thế hệ người dân đến đây nhằm ôn lại truyền thống lịch sử đấu tranh cách mạng. Những hoạt động tại di tích không chỉ mang ý nghĩa giáo dục lịch sử, mà còn mang tính văn hóa, nhân văn trong việc kết nối các nhân chứng lịch sử trong nước, quốc tế với công chúng Thủ đô và du khách, khẳng định sức sống của di tích trong đời sống đương đại.
Góp phần vào việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Cơ chế gắn kết di tích với đời sống văn hóa cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và lan tỏa các giá trị nhân văn của di sản. Trong những năm qua, chính quyền thành phố cùng toàn thể người dân Thủ đô đã dành nhiều sự quan tâm, đầu tư cho việc giữ gìn, bảo tồn các DTLSVH trên địa bàn. Trong giai đoạn từ 2021 đến năm 2025, có 579 dự án đầu tư trùng tu và nâng cấp, với tổng ngân sách là 14.029 tỷ đồng. Ưu tiên các di tích có giá trị, như di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt, cách mạng kháng chiến, tổng số là 58 di tích dự kiến đầu tư là 5.676,3 tỷ đồng. Các di tích trên địa bàn các địa phương của thành phố được tu bổ tôn tạo giai đoạn 2021-2025 và các năm tiếp theo, gồm 521 di tích (337 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 184 di tích cấp thành phố), tổng số nguồn kinh phí là 8.352,7 tỷ đồng (Kế hoạch số 294/KH-UB ngày 11/10/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội).
Với sự quan tâm đó, các di tích được giữ gìn, bảo vệ, đồng thời được đưa vào khai thác sử dụng. Về cơ bản, đời sống của người dân trên địa bàn Thủ đô vẫn theo nếp của văn hóa truyền thống. Trong đó, nhiều nét văn hóa tinh thần như việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng được thực hành, diễn ra tại các di tích đình, đền, chùa… Trong sự phát triển về nhiều mặt của đời sống hiện nay, nhất là có sự giao lưu hội nhập về văn hóa, việc giữ gìn truyền thống thông qua các hoạt động sinh hoạt văn hóa của người dân như vậy là điều cần thiết.
Cùng với các thiết chế văn hóa mới như nhà văn hóa, rạp chiếu phim… tại các làng, xóm, cụm dân cư vai trò của các thiết chế văn hóa truyền thống như đình, chùa vẫn có vị thế quan trọng. Các thiết chế này có vai trò cố kết cộng đồng, nơi đây hằng năm, dân làng cùng nhau tổ chức lễ hội truyền thống cùng các nghi thức thờ cúng tưởng niệm những người có công với dân với nước. Thông qua các thực hành văn hóa này, di tích cùng với lễ hội trở thành “điểm tựa tinh thần” cho cộng đồng, qua đó phát huy rõ nét vai trò của di tích như một nguồn lực nhân văn trong đời sống xã hội đương đại.
Trong đời sống thường nhật, các điểm di tích như đình làng vẫn là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân. Các hoạt động như hội họp, diễn tập văn nghệ, các hoạt động thể dục thể thao… của hội người cao tuổi, của thanh thiếu niên. Như vậy, có thể thấy, dù đã có những địa điểm như nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng, nhưng ở nhiều nơi, đình, chùa vẫn là địa điểm để người dân địa phương lui tới, tham gia các sinh hoạt văn hóa, thể thao. Điều đó khẳng định ý nghĩa, vai trò của thiết chế này trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay.
Khai thác các giá trị của di tích để phát triển du lịch
Cơ chế phát triển du lịch văn hóa gắn với di tích là một phương thức quan trọng giúp chuyển hóa các giá trị di sản thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Nguồn thu từ việc tổ chức khai thác hệ thống di tích góp phần phát triển du lịch, đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của Thủ đô. Trên thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, việc phát triển du lịch của Thủ đô tập trung chủ yếu vào các điểm DSVH tiêu biểu như các di tích, làng nghề, ẩm thực… Hà Nội cũng đã có nhiều di tích như Di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, di tích nhà tù Hỏa Lò, chùa Tây Phương, di tích Cổ Loa, làng cổ Đường Lâm… là các điểm du lịch. Sự hấp dẫn của các DSVH này ngày càng thu hút du khách đến với Hà Nội. Theo những số liệu thống kê cho thấy: số lượng du khách đến Hà Nội tăng nhanh, năm sau thường cao hơn năm trước. Trong năm 2025 du lịch Thủ đô đón trên 33,7 triệu lượt khách, tăng 20,87% so với năm 2024. Trong đó, khách quốc tế đạt trên 7,82 triệu lượt, tăng 22,76%; còn khách nội địa đạt trên 25,88 triệu lượt, tăng 20,32%. Cùng với lượng khách tăng mạnh, tổng thu từ du lịch ước đạt trên 134,46 nghìn tỷ đồng, tăng 21,5% so với năm trước (Đăng Nguyên, 2025).
Điều làm nên sự hấp dẫn của du lịch Hà Nội chính là đã khai thác và tôn vinh giá trị của các DSVH. Tại các di tích đã xây dựng những sản phẩm du lịch mới, những không gian sáng tạo lấy cảm hứng từ vốn văn hóa, gây được ấn tượng như tour “Đêm thiêng liêng” tại di tích nhà tù Hỏa Lò, hay “Giải mã Hoàng thành Thăng Long” tại di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long, chương trình “Tinh hoa đạo học” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám tái hiện không khí trường học ngày xưa, chương trình “Ngọc Sơn - đêm huyền bí” mang đến trải nghiệm kỳ ảo giữa lòng Hồ Gươm lung linh… Hiện nay tại nhiều điểm di tích, DSVH khác cũng đang xây dựng những sản phẩm mới như du lịch đêm tại đền Sóc; triển khai đề án đổi mới mô hình tổ chức, phương thức quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích quốc gia đặc biệt lịch sử và danh lam thắng cảnh quần thể Hương Sơn…
Cùng với nguồn doanh thu trực tiếp từ kinh doanh du lịch tại các điểm DTLSVH đóng góp cho ngân sách và sự phát triển kinh tế của Thủ đô, thì việc khai thác giá trị của di tích để phát triển du lịch xét một khía cạnh nữa cần phải đề cập đó là sự thay đổi sinh kế theo chiều hướng tích cực của người dân địa phương nơi các di tích tồn tại. Chúng ta có thể thấy tại điểm di tích quần thể danh thắng Hương Sơn (xã Hương Sơn) hay tại làng cổ Đường Lâm (phường Sơn Tây). Về cơ bản, người dân tại các địa phương này trước nay chủ yếu sinh sống bằng nghề làm nông nghiệp, chăn nuôi hoặc một số nghề phụ nhỏ lẻ... Khi các điểm di tích được khai thác, phát triển với các tour đưa khách trong và ngoài nước đến, một bộ phận người dân đã chuyển sang làm các hoạt động dịch vụ du lịch như kinh doanh, chèo thuyền đưa khách, bán đồ lưu niệm… một số khác chuyển sang sản xuất đồ lưu niệm, đồ thờ cúng hoặc sản phẩm ẩm thực… để cung cấp cho các cơ sở kinh doanh tại các điểm di tích. Những hoạt động này đã làm cho thu nhập của người dân được nâng lên cao hơn so với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, đời sống vật chất của người dân do đó thay đổi từng ngày.
Bên cạnh việc khai thác giá trị để phát triển kinh tế du lịch, các DTLSVH của Thủ đô còn được khai thác, phục vụ cho một lĩnh vực công nghiệp văn hóa tương đối mới ở nước ta, nhưng hiệu quả xã hội, kinh tế rất cao đó là công nghiệp điện ảnh. Với những giá trị về mặt lịch sử, những nét cổ kính của các di tích đã là đối tượng để cho nhiều đạo diễn điện ảnh lựa chọn đưa vào nhiều phân cảnh trong các tác phẩm của mình. Theo Viện Phim Việt Nam, có khoảng 29 bộ phim truyện và phim tài liệu sử dụng hình ảnh các di tích của Hà Nội làm bối cảnh. Những bộ phim gần đây sử dụng các địa điểm di tích làm bối cảnh trường quay có thể kể tới như Mùa ổi (2000), Hà Nội - Hà Nội (2006), Hoa nhài (2022)… Bên cạnh đó, nhiều bộ phim truyền hình cũng sử dụng các di tích làm nền cảnh cho mình như Lối về miền hoa (24 tập) với rất nhiều trường đoạn quay tại cụm di tích Hoàng Xá (xã Quốc Oai) là một cảnh đẹp, thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng đã tìm đến địa điểm này sau khi xem bộ phim. Nhiều di tích tiêu biểu như chùa Thầy, đình Chèm, làng cổ Đường Lâm, làng Cự Đà… cũng theo xu hướng đó được nhiều đạo diễn lựa chọn cho các cảnh quay các bộ phim của mình.
Việc khai thác giá trị của hệ thống DTLSVH để phát triển du lịch, điện ảnh một mặt đưa lại nguồn lợi về kinh tế cho thành phố, cho người dân địa phương nơi có di tích, mặt khác, đó là thông qua du lịch, qua điện ảnh đã đưa hình ảnh Thủ đô Hà Nội ra thế giới, được bạn bè 5 châu biết đến một Thủ đô hòa bình, một Thủ đô của DSVH. Nếu như trước đây, thế giới biết đến Việt Nam, biết đến Hà Nội thông qua những hình ảnh, những thông tin về một Thủ đô, một đất nước với những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thì ngày nay, với nhiều thế mạnh nổi trội, trong đó DSVH - những điểm đến du lịch đã làm cho hình ảnh của Thủ đô lan tỏa ra khắp thế giới, một Thủ đô hòa bình, giàu truyền thống.
3.2. Thảo luận
Việc khai thác, phát huy giá trị các DTLSVH của Thủ đô Hà Nội như trình bày ở trên cho thấy một tín hiệu đáng mừng, đã và đang góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội. Sức mạnh nội tại đó tạo nên nguồn lực phát triển bền vững cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống DSVH của Thủ đô nói chung, các DTLSVH nói riêng. Và cũng từ những đặc điểm từng loại hình di tích, điều kiện của từng di tích, chính quyền sẽ lựa chọn những phương thức bảo vệ, phát huy một cách phù hợp, không phải di tích nào cũng phát huy bằng cách đưa du khách đến bằng mọi cách, mà sẽ là bảo tồn hoặc phát huy theo một hình thức phù hợp nhất. Đối với tổng thể hệ thống DTLSVH để có thể bảo tồn cũng như phát huy giá trị góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội chung của Thủ đô, theo chúng tôi cần chú ý đến một số vấn đề như sau:
Nâng cao nhận thức đúng đắn và đầy đủ của các cấp chính quyền, đoàn thể và cộng đồng về vai trò, ý nghĩa của hệ thống DSVH nói chung của các DTLSVH nói riêng trên địa bàn Thủ đô. Bên cạnh đó, vấn đề bảo vệ, phát huy giá trị các di sản cũng được nhìn nhận một cách đầy đủ, khách quan và theo đúng xu hướng hiện nay.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với DTLSVH, bảo đảm sự thống nhất và đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Việc rà soát, điều chỉnh các quy hoạch liên quan đến di tích; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm quản lý; đẩy mạnh xã hội hóa đi đôi với kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác di tích là những giải pháp cần thiết. Trong bối cảnh Hà Nội đang hướng tới mục tiêu trở thành “Thành phố sáng tạo”, việc tích hợp nội dung phát huy giá trị DTLSVH vào các chiến lược phát triển văn hóa, du lịch và công nghiệp văn hóa sẽ góp phần khẳng định vai trò của di tích như một nguồn lực nhân văn đặc biệt cho phát triển bền vững Thủ đô.
Tăng đầu tư ngân sách cho việc tu bổ, tôn tạo các di tích trên địa bàn thành phố. Trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu đã được ghi nhận nhiều di tích được bảo vệ, giữ gìn kéo dài tuổi thọ, nhưng cũng còn nhiều di tích bị xuống cấp, có nguy cơ bị hủy hoại bởi chưa kịp thời quan tâm, đầu tư kinh phí cho việc chống xuống cấp, tu bổ, tôn tạo. Cần có những chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn lực xã hội hóa từ cộng đồng tham gia vào việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVH.
Cần đổi mới cách tiếp cận trong giáo dục và truyền thông di sản, khắc phục tình trạng truyền tải giá trị di tích còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu. Thay vì chỉ dừng ở hoạt động tham quan, giới thiệu đơn thuần, cần xây dựng các chương trình giáo dục di sản gắn với trải nghiệm, đối thoại và tương tác, phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thanh thiếu niên và học sinh, sinh viên. Việc tăng cường liên kết giữa các cơ sở giáo dục với các di tích tiêu biểu của Thủ đô sẽ góp phần đưa di tích trở thành không gian giáo dục sống động, qua đó, nâng cao hiệu quả chuyển hóa các giá trị lịch sử văn hóa thành nguồn lực tinh thần cho xã hội.
Tạo điều kiện cho các hoạt động sinh hoạt văn hóa, thể thao tại các làng xóm, khu dân cư có thể diễn ra tại các điểm di tích như các chương trình văn nghệ truyền thống, sinh hoạt câu lạc bộ tuổi thơ, tổ chức các lễ hội địa phương… qua đó đời sống văn hóa tại cơ sở được gắn kết với các điểm di tích.
Tăng cường xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù; xây dựng các không gian sáng tạo tại các điểm di sản để thu hút du khách trong nước và quốc tế. Trường hợp của khu di tích nhà tù Hỏa Lò và Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long là những ví dụ bước đầu cho sự thành công theo hướng đi này. Xây dựng các không gian sáng tạo nhằm thu hút du khách là điều cần phải bàn tới, có giá trị thực tiễn hiện nay khi từ năm 2019, Hà Nội đã gia nhập mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO. Đó là điều kiện thuận lợi phát huy sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực, trong đó trọng tâm là nguồn lực văn hóa; góp phần quan trọng trong việc định vị thương hiệu, quảng bá hình ảnh cũng như gia tăng cơ hội hợp tác trên mọi lĩnh vực sáng tạo vì mục tiêu phát triển bền vững... Đây sẽ là đòn bẩy để Hà Nội trở thành Trung tâm sáng tạo của khu vực Đông Nam Á.
Đẩy mạnh hoạt động số hóa DSVH. Việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới trong kỷ nguyên chuyển đổi số là việc làm cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý, bảo tồn DSVH một cách bền vững, khoa học và hiệu quả thực tiễn cao. Thông qua việc số hóa, công nghệ về lưu trữ cùng với các phần mềm tái hiện đa phương tiện, xây dựng các trưng bày, giới thiệu trên các không gian mạng, từ đó công chúng sẽ được tiếp cận, khai thác và tương tác mà không làm tổn hại đến các di tích.
4. Kết luận
Hệ thống di tích của Hà Nội là nguồn lực nhân văn đặc biệt, kết tinh các giá trị lịch sử, văn hóa qua nhiều thế kỷ. Khi được bảo tồn và phát huy một cách khoa học, các di tích không chỉ góp phần giáo dục truyền thống, củng cố đời sống văn hóa cơ sở mà còn tạo động lực cho phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế, xã hội. Thực tiễn cho thấy, việc chuyển hóa giá trị di tích thành nguồn lực phát triển bền vững đòi hỏi sự đồng bộ về cơ chế quản lý, chính sách đầu tư và sự tham gia của cộng đồng. Bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và khai thác là nguyên tắc then chốt để các di tích thực sự phát huy vai trò lâu dài trong chiến lược xây dựng Hà Nội văn hiến, văn minh, hiện đại và bền vững.
_____________________________
1. Quốc hội. (2024). Luật Di sản văn hóa. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Số liệu báo cáo của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, tháng 12/2025.
3. Kế hoạch số 294/KH-UB ngày 11/10/2024 của UBND thành phố Hà Nội về Kế hoạch Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố đến 2025 và các năm tiếp theo.
4. Đăng Nguyên. (2025). Năm 2025, du lịch Hà Nội đón trên 33,7 triệu lượt khách, doanh thu đạt hơn 134.000 tỷ đồng. Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. https://bvhttdl.gov.vn/nam-2025-du-lich-ha-noi-dontren-337-trieu-luot-khach-doanh-thu-dat-hon-134000-tydong-20251225145641446.htm
Ngày Tòa soạn nhận bài: 15/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/2/2026; Ngày duyệt đăng: 26/2/2026
TS TRẦN ĐỨC NGUYÊN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026