Từ khóa: du lịch văn hóa; liên kết du lịch; tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; quản trị điểm đến.
Abstract: This study examines linkages in cultural tourism development associated with the Worship of Hùng Kings in Phú Thọ from the perspective of heritage-based destination governance. Adopting a qualitative case-study design, the article draws on scholarly publications, UNESCO documentation, policy documents, and sectoral reports updated to July 2025. The data were analyzed through content analysis across six dimensions: management and policy planning, tourism spatial organization, product development, promotion and marketing, human resource development, and heritage safeguarding and promotion. The findings indicate that linkages in heritage safeguarding, festival organization, and community mobilization have been relatively well established, whereas functional linkages supporting tourism product operation remain insufficiently stable. Surrounding cultural spaces have not yet been integrated into a regularly operated product system; promotion remains event-oriented; and the available documents provide limited evidence of mechanisms enabling communities to participate meaningfully in product design, service provision, and the distribution of tourism benefits. The study identifies a gap between the heritage-safeguarding network and the tourism value-creation network. It also clarifies how heritage values can be translated into marketable yet culturally appropriate tourism experiences. It therefore recommends a shift from event-based coordination toward permanent destination governance, a hub-and-spoke product structure, and stronger community co-creation in cultural tourism development.
Keywords: cultural tourism; tourism linkages; Worship of Hùng Kings; destination governance.

1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa là nguồn lực cốt lõi tạo nên tính cạnh tranh cho du lịch địa phương, giúp bảo tồn di sản, phát triển kinh tế và củng cố bản sắc cộng đồng (Ritchie & Crouch, 2010; Su, 2020). UNESCO khẳng định di sản văn hóa là nền tảng cho du lịch bền vững (UNESCO, 2025). Do sản phẩm du lịch văn hóa có tính tổng hợp cao, sự liên kết giữa các bên liên quan là yếu tố quyết định để nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên và cân bằng giữa bảo tồn với phát triển (Baggio et al, 2010; Timur & Getz, 2008).
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2012) là nguồn tài nguyên tâm linh đặc biệt của Phú Thọ. Sau khi sáp nhập ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình, không gian du lịch được mở rộng, tạo điều kiện hình thành các tuyến du lịch liên vùng và thúc đẩy liên kết hạ tầng, thị trường.
Tuy nhiên, việc khai thác di sản này vẫn chưa hiệu quả. Liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và các thiết chế văn hóa còn lỏng lẻo; không gian du lịch bị phân tán; sản phẩm thiếu tính trải nghiệm và chưa tạo được chuỗi giá trị đặc trưng (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2025). Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu liên kết phát triển du lịch văn hóa gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tại Phú Thọ là vô cùng cấp thiết. Nghiên cứu này góp phần làm rõ lý luận về vai trò của liên kết trong phát triển du lịch văn hóa dựa trên di sản, đồng thời đề xuất giải pháp phát triển bền vững du lịch vùng Đất Tổ.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế trường hợp định tính nhằm phân tích liên kết trong phát triển du lịch văn hóa gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ. Cách tiếp cận này phù hợp vì liên kết du lịch văn hóa là quá trình phối hợp đa chủ thể, chịu tác động đồng thời của chính sách quản lý, không gian di sản, thực hành cộng đồng, hoạt động thị trường và yêu cầu bảo tồn. Trọng tâm của nghiên cứu không phải là đo lường tác động nhân quả, mà là nhận diện mô thức tổ chức liên kết, kết quả đã hình thành và khoảng trống trong quá trình chuyển hóa giá trị di sản thành sản phẩm du lịch văn hóa.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, được lựa chọn có chủ đích từ bốn nhóm nguồn: công trình khoa học về du lịch văn hóa, quản lý di sản, liên kết du lịch và quản trị điểm đến; hồ sơ UNESCO; văn bản pháp lý, quy hoạch, chương trình liên quan đến bảo tồn di sản và phát triển du lịch; báo cáo chuyên ngành và thông tin chính thức của cơ quan quản lý, giáo dục và đơn vị quản lý di tích tại Phú Thọ. Tài liệu được sử dụng khi liên quan trực tiếp đến nội dung liên kết, có nguồn gốc rõ ràng và cho phép xác định thời điểm, phạm vi không gian cũng như ngữ cảnh thông tin.
Dữ liệu được xử lý bằng phân tích nội dung theo sáu chiều: quản lý và hoạch định chính sách; tổ chức không gian du lịch; phát triển sản phẩm; xúc tiến, quảng bá; đào tạo nguồn nhân lực; bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Ở mỗi chiều, nghiên cứu làm rõ chủ thể tham gia, cơ chế phối hợp, kết quả đã hình thành và khoảng trống cản trở phát triển chuỗi giá trị du lịch văn hóa. Các nhận định được đối chiếu giữa công trình khoa học, văn bản chính sách và báo cáo chuyên ngành. Kết quả được hiểu là nhận diện định tính về mô thức liên kết và khoảng trống quản trị, chưa nhằm đo lường cường độ quan hệ hoặc kiểm định tác động nhân quả.
3. Kết quả và thảo luận
Nền tảng di sản và vấn đề chuyển hóa liên kết
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vừa mang tính địa phương, vừa mang tính quốc gia. Trung tâm thực hành tiêu biểu đặt tại Phú Thọ, nhưng ý nghĩa tưởng nhớ tổ tiên và cố kết cộng đồng được chia sẻ rộng trong đời sống người Việt. Trên địa bàn Phú Thọ trước sáp nhập (trước 1/7/2025) có 345 di tích gắn với việc thờ Vua Hùng và các nhân vật thời Hùng Vương (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2024). Khu di tích lịch sử đền Hùng giữ vị trí hạt nhân, trong khi hát xoan Phú Thọ, lễ hội làng, truyền thuyết, ẩm thực và không gian làng xã tạo nên lớp trải nghiệm bổ trợ.
Tuy nhiên, tiềm năng tài nguyên không đồng nghĩa với một hệ thống du lịch đã liên kết. Tín ngưỡng tạo ra mạng lưới biểu tượng và thực hành rộng qua nghi lễ, góp giỗ, tu bổ di tích và giáo dục truyền thống. Mạng lưới này có khả năng huy động cao về tinh thần và xã hội, nhưng mục tiêu cốt lõi là duy trì ký ức cộng đồng và tính thiêng, không phải tối ưu hóa chuỗi cung ứng du lịch. Để chuyển từ mạng lưới văn hóa sang mạng lưới sản phẩm, cần bổ sung các quan hệ chức năng như thiết kế chương trình, đặt dịch vụ, vận chuyển, thuyết minh, bán hàng, kiểm soát chất lượng và phân phối lợi ích.
Liên kết quản lý, bảo tồn và vai trò cộng đồng
Liên kết quản lý di sản là phương diện được xác lập rõ nhất. Phú Thọ đã hình thành cơ chế phối hợp dọc giữa Trung ương, tỉnh và đơn vị quản lý di tích trong kiểm kê, nghiên cứu, tu bổ, tổ chức nghi lễ và thực hiện cam kết bảo vệ di sản. Quy hoạch bảo tồn Khu di tích lịch sử đền Hùng đến năm 2025 xác lập yêu cầu bảo vệ không gian di tích, cải thiện hạ tầng và phát huy giá trị gắn với tham quan (Thủ tướng Chính phủ, 2017). Trong Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội đền Hùng, phối hợp còn mở rộng sang an ninh, giao thông, y tế, truyền thông, doanh nghiệp dịch vụ và các địa phương tham gia nghi lễ.
Cộng đồng là chủ thể không thể thay thế trong thực hành di sản. Người dân, ban quản lý di tích cơ sở, người cao tuổi, nghệ nhân và các nhóm thực hành duy trì nghi lễ, trao truyền tri thức, đóng góp công sức, kinh phí và hiện vật cho không gian thờ tự. Giáo dục di sản và mô hình trường học gắn với di sản góp phần mở rộng quá trình trao truyền sang thế hệ trẻ (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2023). Tuy vậy, tham gia trong bảo tồn chưa tự động chuyển thành vai trò tương đương trong hoạt động du lịch. Bằng chứng về cơ chế để cộng đồng tham gia xây dựng chương trình, định giá, ký kết dịch vụ và phân phối doanh thu còn chưa rõ.
Cơ chế phối hợp thường vận hành mạnh nhất theo chương trình, dự án hoặc sự kiện. Tài liệu được rà soát chưa cho thấy rõ một cơ chế duy trì thường xuyên quan hệ giữa doanh nghiệp lữ hành, điểm văn hóa vệ tinh, cơ sở lưu trú, làng nghề và cộng đồng sau mùa lễ hội. Mô thức liên kết vì vậy có xu hướng tập trung quanh chủ thể công và đơn vị quản lý di tích. Cách tổ chức này giúp bảo đảm kỷ luật nghi lễ và xử lý sự kiện quy mô lớn, nhưng cũng có thể làm giảm khả năng hình thành các quan hệ chức năng ổn định giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị du lịch. Từ góc nhìn khoa học mạng lưới, chất lượng vận hành của điểm đến không chỉ phụ thuộc vào sự hiện diện của chủ thể trung tâm, mà còn phụ thuộc vào khả năng lưu chuyển thông tin, nguồn lực và quan hệ phối hợp giữa các nút trong toàn mạng lưới (Baggio et al., 2010). Đối với quản trị điểm đến bền vững, vai trò điều phối của khu vực công cần được bổ sung bằng các quan hệ hợp tác ngang giữa doanh nghiệp, cộng đồng và các bên liên quan, bởi chính các quan hệ này quyết định mức độ ổn định của sản phẩm và khả năng chia sẻ lợi ích trong dài hạn (Timur & Getz, 2008).