Từ khóa: người Chăm; ký ức về biển; phát triển du lịch bền vững; Trung Bộ.

Abstract: The Chăm people are a community that once built a flourishing maritime culture, playing an important role in the regional maritime trade network of Ancient and Medieval Southeast Asia. However, since the mid-19th century, due to historical upheavals, the Chăm’s traditional bond with the sea was broken, while their values and memories of the sea have been preserved in their language, beliefs, rituals, folk knowledge, and community cultural life. Applying the theoretical framework of collective memory, historical memory, and cultural memory, this article analyzes the expressions of sea memory in Chăm culture, considering it a valuable form of cultural capital for sustainable tourism development. On this basis, the article proposes several orientations and solutions to conserve, revive, and promote the Chăm’s memory of the sea in connection with developing cultural tourism products, thereby contributing to diversifying tourism resources, enhancing heritage values, and promoting sustainable development in localities with Chăm communities.

Keywords: Chăm people; memory of the sea; sustainable tourism development; Central Vietnam.

 

mua quat  VH Cham tinh Khanh hoa   mai huong.jpg
Biểu diễn tiết mục múa quạt truyền thống của người Chăm tỉnh Khánh Hòa tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam- Ảnh tư liệu minh họa: Mai Hương

1. Đặt vấn đề

Phát triển du lịch bền vững không chỉ đòi hỏi khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và di sản văn hóa mà còn hướng đến việc nhận diện, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể, ký ức cộng đồng và vốn văn hóa như những nguồn lực nội sinh cho phát triển. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu ký ức văn hóa biển của người Chăm có ý nghĩa không chỉ đối với việc bảo tồn bản sắc văn hóa mà còn góp phần hình thành các sản phẩm du lịch có chiều sâu, nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến.

Người Chăm là cộng đồng cư dân có lịch sử gắn bó lâu đời với biển. Trong nhiều thế kỷ, vương quốc Champa phát triển trên nền tảng kinh tế biển, hình thành hệ thống tri thức, tín ngưỡng và biểu tượng văn hóa đặc sắc liên quan đến biển. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XIX, những biến động lịch sử đã làm đứt gãy truyền thống hướng biển của cộng đồng này. Mặc dù nghề biển không còn giữ vai trò chủ đạo trong đời sống người Chăm hiện nay, ký ức về biển vẫn được lưu giữ trong ngôn ngữ, tín ngưỡng, nghi lễ và đời sống văn hóa cộng đồng.

Các nghiên cứu về Champa và văn hóa Chăm thời gian qua chủ yếu tập trung vào lịch sử, khảo cổ học, kiến trúc đền tháp, tín ngưỡng, lễ hội và các di sản vật thể, phi vật thể. Trong khi đó, ký ức về biển - một thành tố quan trọng phản ánh bản sắc văn hóa và lịch sử của nền văn minh biển Champa - vẫn chưa được quan tâm đầy đủ dưới góc độ nguồn lực văn hóa phục vụ phát triển du lịch bền vững.

Từ khoảng trống nghiên cứu đó, bài viết tiếp cận ký ức về biển của người Chăm dưới góc nhìn ký ức tập thể và ký ức văn hóa, phân tích các biểu hiện còn lưu giữ trong đời sống đương đại, đồng thời xem đây là một dạng vốn văn hóa có khả năng tạo ra cả giá trị văn hóa và giá trị kinh tế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm bảo tồn, phục hồi và phát huy ký ức về biển của người Chăm gắn với phát triển du lịch bền vững, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và phát huy hiệu quả nguồn lực văn hóa ở các địa phương có cộng đồng người Chăm.

2. Phương pháp nghiên cứu

Đã có quá nhiều các công trình nghiên cứu về người Chăm, vương quốc Champa ở miền Trung Việt Nam, các công trình này đều khẳng định người Chăm là một tộc người gắn bó chặt chẽ với biển. Do đó, tác giả sử dụng tài liệu thứ cấp, đồng thời sử dụng lý thuyết về ký ức lịch sử để xem xét tiền đề phát triển bền vững du lịch ở các địa phương có người Chăm, một trong 54 tộc người ở Việt Nam hiện nay.

3. Kết quả và thảo luận

Ký ức về biển của người Chăm

Trong không gian văn hóa biển đảo Việt Nam, chủ thể và khách thể văn hóa vùng Trung Bộ có nhiều tộc người, nhưng trong lịch sử, tộc người chủ thể có vai trò quan trọng, phải ghi nhận là người Chăm. Tộc người Chăm được biết đến với các tên Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Champa, Hời… với các nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc. Theo số liệu từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Chăm tại Việt Nam có 178.948 người. Hiện tại, cư dân Chăm gồm có hai bộ phận chính: bộ phận cư trú ở tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Lâm Đồng chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới. Tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn: 83,8%.

Nguồn gốc của người Chăm là những cư dân cổ Sa Huỳnh, họ đã tiếp thu và bản địa hóa văn hóa Ấn Độ để tạo dựng quốc gia Champa, một nền văn hóa gần cùng thời với văn hóa Đại Việt ở phía Bắc. Các nhà khoa học khảo cổ Việt Nam và thế giới xem văn hóa Sa Huỳnh quan trọng không kém văn hóa Đông Sơn. Theo tác giả Solheim II (1969), gốm Sa Huỳnh có liên hệ với gốm Kalanay của dân Philippines cổ và ông đưa ra thuyết “mạng buôn bán trao đổi Nusantao” của dân Nam Đảo trên khắp biển Thái Bình Dương mấy ngàn năm trước công nguyên. Dù cư dân Sa Huỳnh sau đó chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, nhưng tiếng nói Nam Đảo vẫn còn tồn tại lâu sau đó trong dân Lâm Ấp và Chàm. Người Chăm đã thừa hưởng truyền thống biển của cư dân cổ Sa Huỳnh và phát triển lên trình độ cao hơn. Họ là những người vừa làm nông nghiệp trên rẻo đồng bằng hẹp Trung và Nam Trung Bộ, vừa khai thác biển. Tác giả Trương Văn Món (2024, tr.503): “Do địa hình Champa nằm ở dải đất miền Trung có bờ biển dài, nhiều hải đảo và được thụ hưởng tri thức biển của cư dân Mã Lai - Đa Đảo nên rất giỏi về nghề biển, chinh phục đại đương. Họ từng đóng những chiếc thuyền lớn vượt đại dương đến các quốc gia xa xôi mà lịch sử đã ghi nhận”. Nói tới người Chăm là phải đề cập đến vương quốc Champa. Trong suốt một thời kỳ lịch sử dài lâu, vương quốc Champa đã được ghi nhận là chủ nhân của vùng bờ biển dài dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam ngày nay. Các hệ thống cảng biển ven bờ của Champa đã sớm được ghi nhận như những địa điểm dừng chân thường xuyên của các đoàn thuyền buôn nội địa cũng như là ngoại quốc.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, trong suốt chiều dài lịch sử, Champa chỉ đơn thuần là một Thể chế biển, lấy hoạt động kinh tế biển làm nền tảng và cũng là nhân tố quyết định sự tồn vong của vương quốc này. Quan điểm ấy dựa trên một thực tế là, vương quốc Champa đã hình thành và phát triển trên một không gian lãnh thổ dài và hẹp dọc theo ven biển miền Trung nước ta ngày nay, bị giới hạn về phía Tây bởi dãy núi Trường Sơn chạy dọc suốt chiều dài lãnh thổ, phía Đông là Biển Đông rộng lớn. Bờ biển miền Trung lồi lõm với rất nhiều vịnh nước sâu thuận lợi cho việc neo đậu của tàu thuyền. Bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của những đảo, quần đảo được hình thành trong quá trình tạo sơn như: Hòn Gió, đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị), Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng), Lý Sơn/ Cù Lao Ré (tỉnh Quảng Ngãi), Hòn Tre (tỉnh Khánh Hòa), Phú Quý (tỉnh Lâm Đồng)… Sinh thành và phát triển trong một điều kiện địa lý và môi trường sinh thái như vậy, các cư dân cổ Champa đã sớm lựa chọn cho mình con đường phát triển xuyên suốt trong lịch sử, đó là hướng biển, gây dựng một nền kinh tế biển bằng việc chủ động dự nhập vào mạng lưới hải thương của khu vực. Vương quốc Champa đã từng một thời là Vương quốc biển, Thể chế biển, điển hình của khu vực Đông Nam Á. Các sử liệu Trung Hoa là những nguồn tư liệu đầu tiên ghi nhận Champa như là một quốc gia của người vượt biển, của những thủy thủ, những thương nhân buôn bán và cướp bóc trên khắp mặt biển của khu vực. Những tài liệu của Trung Hoa cũng ghi nhận về các mặt hàng của Champa được xuất sang Trung Hoa mà Giáo sư người Nhật Bản Momoki Shiro (1999, tr.43-48) đã trích lục từ sử liệu của Trung Hoa bao gồm: “Vàng, bạc, thiếc, sắt, ngọc “baomu”, ngọc trai “Chengshuichu”, ngọc trai lửa, hổ phách, pha lê, ốc tiền, các loại đá “pusashi”, sừng tê, ngà voi, mai rùa, trầm hương, gỗ đàn hương, long não, xạ hương, trầm, hồng thủy, dầu lửa, bông, vải “Zhaoxia”, vải có vẽ màu, vải bông trắng, chiếu lá cọ, “mingjjao”? “wujjao”? sáp ong vàng, lưu huỳnh, gỗ vang, gỗ mun, tre “guanyin”, gạo, tổ yến, hạt tiêu, cau, dừa, mít, cây “haiwuzi”. Người Chăm đã đóng được những thuyền lớn, nhất là thuyền chiến mà hình bóng của nó còn ghi trên các phù điêu ở Angkor (vương quốc Campuchia) thế kỷ XI-XII. Người Chăm nổi tiếng về nghề biển và nghề đóng tàu thuyền. Người Chăm chế tạo nhiều phương tiện đi biển với kích thước và hình dáng khác nhau. Thông dụng là thuyền (gilai), nhỏ hơn là ghe (gaiy), gắn với thuyền có “bè” (rakik) như là phương tiện phụ để vận chuyển từ thuyền này sang thuyền khác, hay từ thuyền về đất liền. Thuyền cũng có loại thuyền độc mộc mà người Chăm gọi là pluk, thuyền thúng (janưk patih). Phương tiện lớn hơn là tàu (kapal) hay loại tàu lớn (ahauk, gilai ahauk) có khả năng viễn dương. Nhờ có tàu thuyền nên người Chăm nổi tiếng về nghề biển. Suốt 17 thế kỷ, người Chăm đã từng làm chủ đại dương. Người Chăm đã buôn bán trên biển, giao lưu, giao thương với Trung Quốc và Đại Việt ở phía Bắc, với các quốc gia hải đảo ở phía Nam và với Ấn Độ ở phía Tây. Người Chăm đã từng tham gia vào đội quân cướp biển, một thời tung hoành trên biển Đông, mà sau này, vào khoảng thế kỷ XVIII, một trong số họ đã được tuyển dụng thành thủy thủ của hải quân Tây Sơn ra đại phá quân Thanh ở thành Thăng Long (Nguyễn Việt, 1989).

Người ta tìm thấy một số tàu thương mại của Champa và Philippines bị đắm ở vùng đảo Trường Sa, năm 1997, người Philippines trục vớt một chiếc tàu ngoài đảo Thị Tứ trong quần đảo Trường Sa chứa khoảng một ngàn hiện vật chạm khắc đá granite theo phong cách điêu khắc Champa. Bởi “…Champa từng sở hữu những chiếc ghe thuyền rất mạnh, vượt qua những đại dương xa xôi, trong đó có những loại ghe thuyền phục vụ dân sinh, chở gạo, chở người, chở củi, chở gỗ như thuyền Champa thời nhà Đường có ghi chép…” (Trương Văn Món, 2024, tr.505). Chính chiếc ghe Bầu, con thuyền có khả năng vượt biển ra xa bờ mà người Việt ở Trung Trung Bộ hiện đang sử dụng, chính là di sản văn hóa của người Chăm truyền lại cho người Việt sau này (Ngô Đức Thịnh, 1984). Sau năm 1834, do các nguyên nhân chủ quan và khách quan, người Chăm rời xa biển và bị đứt gãy truyền thống viễn dương. Họ trở thành người làm nông thuần túy ở vùng đất khô cằn Nam Trung Bộ. Không còn một làng người Chăm nào ở đây làm nghề biển, thậm chí họ còn “sợ” biển nữa. Vì thế, trong tâm thức người Chăm đương đại, biển chỉ còn các mảnh ký ức.

Nhà thơ, nhà nghiên cứu người Chăm Inrasara (Phú Trạm) (2015), khẳng định: tiếng Chăm có nhiều từ để chỉ biển. “Tathik” là biển; bên cạnh “tathik”, tiếng Chăm còn có “darak”. Dân gian Chăm nói: “Laik tamư tathik praung darak praung”, nghĩa là chìm vào biển cả. Như vậy, “darak” vẫn là biển. “Trước hết, ngay trong lời ăn tiếng nói thường nhật của quần chúng, dấu vết văn học biển tồn tại mồn một. Than vãn, nếu người Việt kêu: trời đất ơi, thì người Chăm: trời biển ơi (Lingik tathik lơy). Người Việt nhìn lên thấy trời, cúi xuống thấy đất; Chăm thì khác, dưới chân họ là mênh mông biển nước. Chăm có làm ruộng (đất), nhưng đó là cánh đồng miền Trung nhỏ hẹp bốn mùa hanh gió. Tổ tiên Chăm xưa chủ yếu sống bằng nghề biển, nhờ biển và với biển. Họ kêu trời kêu biển (Ew lingik ew tathik) chứ không phải “la trời la đất” như người Việt. Cũng vậy, người Chăm nói “tối trời tối biển” (Xup lingik xup tathik) khác với người Việt là: (Mưa) tối mù trời đất”. Hẹn giờ giấc lên rừng lấy củi cũng nói: Tuk ia tathik đik - Lúc thủy triều lên (khoảng một giờ sáng). Để chỉ kẻ “nói thánh nói tướng”, Chăm vận đến “biển” với thành ngữ Đom ngauk lingik ngauk tathik - Nói trên trời dưới biển. Gặp thế bí hay đường cùng, họ cũng lấy “biển” ra mà ví: Wơr glai yuw ralai di krưh tathik - Quẩn trí cùng đường như thân ralai giữa biển khơi. Nghĩa là biển tràn ngập đời sống, văn chương và ngôn ngữ Chăm”. Cùng tiếng nói, văn hóa biển của người Chăm vẫn còn thể hiện khá đậm nét trong các nghi lễ cúng tế vị thần sóng biển ngự trị và trông coi đại dương mà người Chăm gọi là Po Riyak. Niềm tin về vị thần biển luôn sâu sắc không kém các vị thần khác có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ như vị nữ thần Poh Yang Inư Nagar, là vị thần bảo trợ của cư dân nông nghiệp lúa nước. Cư dân Chăm có nhiều nghi thức cúng tế ở cửa sông, cửa biển, nguồn nước và họ cũng có đức tin về sự linh hiển của các vị thần để cầu mong được chở che, phù hộ cho sự bình yên trong cuộc sống mưu sinh trên sông biển, mà tục thờ thần sóng biển của người Chăm chính là biểu hiện rõ nhất. Hằng năm, sau lễ Rija Nưgar (Lễ xứ sở) diễn ra vào đầu năm lịch Chăm (tháng 4 dương lịch), bà con Chăm ở các vùng thuộc tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Lâm Đồng đều làm lễ thờ cúng Po Riyak, tức Thần Sóng (Biển). Lễ thờ cúng Po Riyak là một mảnh văn hóa biển của người Chăm, bởi non hai thế kỷ rưỡi, dấu ấn của nó chẳng những vẫn còn in đậm trong tâm thức cộng đồng, trong sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng người Chăm. Lễ cúng Po Riyak kéo dài trong một ngày. Các chức sắc Chăm tham dự gồm có: Acar, Mưdwơn, Kadhar và Pajuw. Mâm lễ vật có thịt gà, xôi, bỏng, rượu và trứng, thêm trái dừa, bánh trái các loại và đương nhiên phải có cây mía đỏ tượng trưng cho cây chèo. Một nghi lễ không thể thiếu là lễ hạ thủy tàu thuyền mới với những lễ vật và bài phù chú thể hiện đặc trưng văn hóa Chăm. Lễ Hạ thủy tàu thuyền có hai dạng: Thuyền cũ cho mùa mới, hay thuyền hoàn toàn mới để lần đầu tiên ra khơi. Dạng thứ nhất, lễ vật có một con gà nướng, một chén xôi, một chén chè, hai quả trứng gà luộc, năm miếng bánh, trầu cũng têm năm miếng. Ở dạng thuyền mới, lễ vật cần thêm: lưới, thúng thóc; trên thúng thóc là cây nến với nải chuối. Con thuyền được đặt trên cạn trước mặt sóng biển mênh mông, ông Thày đứng ngay đầu thuyền hành lễ. Tuần tự: ông Trình về bản thân (Akhan ka drei); sau đó làm lễ Mời Thần (Da-a Yang), từ thần Tháp cho đến 37 vị Thánh, có cả Thần người Việt. Người Chăm đa thần và quan hệ mật thiết với biển, cho nên trong đời sống tâm linh họ thờ Thần Sóng (Po Riyak), Thần Biển (Yang Tathik) là điều không lạ. Những lúc lên rừng xuống biển (Trun tathik đik glai) gặp bao bất trắc hiểm nguy, người Chăm luôn cậy đến Thần Biển phò trợ độ trì. Thời gian biến đổi, có thể nói, các hiện tượng ngôn ngữ, văn hóa này của người Chăm đương đại chính là ký ức tập thể. Theo triết gia và nhà xã hội học Maurice Halbwachs (1877-1945), người Pháp: Ký ức tập thể là một khối kiến thức và thông tin được chia sẻ chung trong ký ức của hai hoặc nhiều thành viên của một nhóm xã hội và thường mang tính hoài niệm. Ông cũng khẳng định: Ký ức tập thể có thể được chia sẻ, được chuyển tiếp và kiến tạo bởi những nhóm xã hội lớn và nhỏ. Ví dụ về các nhóm này có thể là một chính phủ hoặc một nhóm quần chúng và ông cho rằng có các loại hình khác nhau của ký ức: i) Ký ức tiểu sử hoàn toàn mang tính cá nhân và nhắm đến ký ức của một người về các sự kiện mà chính anh ta đã kinh nghiệm được; ii) Ký ức lịch sử nhắm đến những ký ức về các sự kiện mà các cá nhân đã không sống trải nghiệm cùng với chúng nhưng chỉ được biết đến chúng thông qua bối cảnh xã hội. Halbwachs cũng đề nghị phân biệt lịch sử của ký ức tập thể. Theo ông, lịch sử là “một ký ức chết” mà trước đó đã gây ảnh hưởng trực tiếp lên căn cước của nhóm trong khi ký ức tập thể lại thể hiện ký ức ảnh hưởng lên căn cước hiện thời của nhóm và do đó kiến tạo căn cước cho chính nhóm ấy. Nhìn trong mối quan hệ với văn hóa, đó là ký ức văn hóa, kiến giải của Giáo sư Iuri Mikhailovich Lotman (1922-1993), người Nga gốc Estonia là hợp lý “Là một trong những hình thức của ký ức tập thể, chịu sự chi phối của các quy luật của thời gian, bản thân văn hóa đồng thời lại sở hữu các cơ chế có khả năng chống lại thời gian và sự vận động của thời gian”. Ông cho rằng, đó là biểu tượng và khẳng định: “Ý nghĩa của biểu tượng không phải là thứ gì bất biến và ký ức văn hóa không nên được hình dung như loại nhà kho lưu trữ những thông điệp không thay đổi về bản chất và luôn chỉ có cùng một giá trị. Về mặt này, cụm từ “lưu trữ thông tin” có thể gây hiểu lầm vì bản chất ẩn dụ của nó. Ký ức không phải là kho chứa thông tin, mà là một cơ chế tái tạo thông tin. Cụ thể, các biểu tượng được lưu giữ trong văn hóa, một mặt mang theo thông tin về các ngữ cảnh (hoặc các “ngôn ngữ” tương ứng), mặt khác, để thông tin đó “thức dậy”, biểu tượng phải được đặt vào một ngữ cảnh đương đại nào đó, và điều này không thể tránh khỏi sẽ làm biến đổi ý nghĩa của nó. Do đó, thông tin được tái kiến tạo luôn được thực hiện trong ngữ cảnh trò chơi giữa các ngôn ngữ của quá khứ và hiện tại... Mối liên hệ chặt chẽ giữa biểu tượng và nghi lễ đã biến cử chỉ và tư thế thành biểu tượng cơ bản, điều này được định hình trong nghệ thuật điêu khắc và đồ họa. Như đã được mô tả ở phần trước, trải qua nhiều thế kỷ, các biểu tượng này sẽ có nhiều biến đổi”. Như vậy, quan sát lịch sử của người Chăm sẽ thấy ký ức về biển của họ thực phong phú và đa dạng. Thế hệ hôm nay rõ ràng có trách nhiệm bảo tồn và phát huy ký ức về biển của người Chăm.