
Cuối hạ trong chuyến về Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) tôi được nhà thơ Lê Văn Sự dẫn đi thăm một số danh lam, thắng cảnh và di tích văn hóa trên địa bàn, trong đó có động Hồ Thông – chùa Du Anh. Trước khi đến với thơ, ông là một cán bộ ngành Văn hóa sở tại, có công lớn trong việc khảo cứu, biên soạn, có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa. Tóm lại, một người Xứ Thanh, mê đắm với văn hóa Xứ Thanh, dành cả đời mình cho văn hóa Xứ Thanh.
Con đường ven sông ở làng Bống Thượng, được đặt tên Hồ Quy Ly. Chúng tôi từng đi bộ buổi sáng trên con đường này. Hình như cả làng Bống Thượng đều là nơi cư ngụ của cộng đồng họ Lê? Tư gia nhà thơ Lê Văn Sự cũng mở hướng theo con đường mang tên Sùng Quốc công Lê Thọ Vực – anh trai của Lê Thái Tổ (Lê Lợi).
Điều này làm tôi nhớ đến những trang sử hào hùng của Triều đại Hậu Lê, nhất là thời Lê Sơ. Lê Thọ Vực còn có tên gọi khác là Lê Cảnh Du (hay Lê Du), một nhà thơ có thơ chép trong Hồng Đức quốc âm thi tập.
*
* *
Nhà thơ Lê Văn Sự năm nay đã 77 tuổi, nhưng hăm hở như “trai 17”. Bàn chân dù thập thễnh, nhưng khi đặt những bước chân lên bậc đá lên động Hồ Công, chân ông bén lắm. Hai anh em chúng tôi cứ nhắm theo ông mà đi. Tất cả hơn 223 bậc đá, bên núi Vân Đài trùng điệp đá. Đá ở đây có hồn, có vía, vươn lên trời cao gửi thông điệp. Nghe nhà thơ Lê Văn Sự kể, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa từng có văn bản cấm khai thác đá ở núi Vân Đài, nhằm bảo vệ động Hồ Công từng được vinh danh là “Động đẹp nhất trong 36 động ở phương Nam”.
Trên đường lên động, nhà thơ Lê Văn Sự dừng lại ở tảng đá lớn, mé trái, bên đường nói với chúng tôi:
- Bốn chữ “Thanh kì khả ái” của chúa Trịnh Sâm ca ngợi mảnh đất xứ Thanh. Theo như giải thích về nghĩa bóng thì đất Thanh Hóa luôn xuất hiện những con người đặc biệt, chứ không chỉ là nghĩa Hán – Việt của 2 từ “khả ái”.
- Những con người đặt biệt xuất hiện ở đất Xứ Thanh luôn truyền cảm hứng, thu hút - Tôi nói chen vào, với Lê Văn Sự.
- Đây là một chứng tích của Nhất nguyên Động chủ Chúa Trịnh Sâm khi đến thăm động. Chúa cho khắc năm 1770 ca ngợi phong cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, mĩ lệ của khu vực thắng tích này - Nhà thơ Lê Văn Sự giải thích.

Trong đầu óc tôi lúc đó xuất hiện hình ảnh nhà vua cải cách Hồ Quý Ly, người dấy nghĩa ở Lam Sơn, Lê Lợi sau này là Vua Lê Thái Tổ, mở ra triều đại Hậu Lê. Thời Lê Sơ đã oanh liệt, thời Lê Trung Hưng (Vua Lê – Chúa Trịnh) cũng để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử.
- Hiện nay trên vách động còn khoảng 18 bài thơ chữ Hán còn được khắc trên vách động. Nhà thơ Lê Văn Sự sau khi làm lễ vái 3 vái trước ban thờ, quay sang phải vách động chỉ cho tôi và nhà văn Phan Mai Hương.
- Chính Vua Lê Thánh Tông vào mùa xuân 1463 đã đến đây thưởng ngoạn và đã đánh giá: “Tam thục lập động, Hồ Công vi đệ nhất”- nghĩa là động Hồ Công là một trong ba mươi sáu động đẹp của Việt Nam lúc bấy giờ - Nhà thơ Lê Văn Sự giải thích.
Động Hồ Công có chiều dài 45m, rộng 23m, cửa mở rộng luôn sẳn sàng đón khách trần lên chơi cõi tiên, thăm thú bàn cờ nơi các vị tiên ngồi chơi. Nhưng Động Hồ Công không chỉ có vẻ đẹp nhìn bằng mắt. Ở đây hội tụ nhiều vẻ đẹp văn hóa từ huyền tư, tâm linh từ đạo lý, truyền thống Việt. Nơi đây lưu nhiều vết tích của các vua Lê - chúa Trịnh cùng biết bao nhiêu các bậc tao nhân mặc khách đến vãn cảnh.
Đứng trước cửa động, phóng tầm mắt ra xa, cả một vùng non nước xứ Thanh hiện rõ, trong đó có núi Tiến sĩ - thiên tạo tạc hình một nhà nho đang ngồi suy tư đọc sách. Ngước lên phía trên vòm cửa động, là dòng chữ hán “Hồ Ngọc Động”, vách đá bên phải cửa động khắc 4 chữ Hán lớn “Sơn Bất Tại Cao” do cư sĩ Nguyễn Nghiễm thân phụ của Đại thi hào Nguyên Du tựa đề. “Sơn bất tại cao, hữu tiên tất linh; Giang bất tại thâm hữu Long tất ứng” nghĩa là: “Núi không cao mà có tiên sẽ linh thiêng; sông không sâu mà có rồng sẽ linh nghiệm”.

Trong động còn được khắc nhiều bài thơ bằng chữ Hán của các vị vua như Lê Thánh Tông; chúa Trịnh Sâm... Đó là giá trị văn hóa.
Theo truyền thuyết, trong động này có Thần tiên đến ở là Hồ Công Long và Phí Trường Phòng, Hai tiên ông này tối vào Hồ lô ngủ trong động, ngày ra chửa bệnh cho dân ngèo. Hiện. trong động còn tượng hai tiên ông bằng đá được nhân dân thờ phụng
Đại Nam nhất thống chí mô tả “...Có những phiến đá như con cóc ngồi, thạch nhũ trong động sắc, có hang đá quanh co dài mười trượng, chỗ tận cùng hang động có giếng đá sâu khôn củng...”. Chính Vua Lê Thánh Tông đến đây đã phải thốt lên: “Thần chùy quí tạc vạn trùng san” nghĩa là: “Động Hồ Công, vẻ đẹp như có quí thần soi tạc nên”.
Nhà thơ Lê Văn Sự thực sự như một “pho tư liệu sống” về dư địa chí văn hóa về quê anh. Là nhà thơ nên ông còn “thi ca hóa” vẻ đẹp tự nhiên, lịch sử, văn hóa của quê hương mình. Tôi biết, từ năm 1992, ông xuất hiện trên thi đàn Xứ Thanh; cho đến nay đã xuất bản 10 tập thơ và 1 trường ca. Chỉ đọc qua tên thi tập đã thấy lòng ông chất chứa nỗi người, nỗi quê, như Về một vùng quê, Bóng mẹ chiều mưa, Nỗi niềm, Miền thương nhớ, Mùa xuân cho em, Lời ru trên sông, Lục bát ru tôi, Giao mùa, Huyền thoại bên cây bồ đề (trường ca), Hồn làng, Người đàn bà ngắm trăng.
- Anh đã đọc bài thơ Động Hồ Công của tôi trong tập Người đàn bà ngắm trăng chưa?
- Tất nhiên rồi. Em rất thích cái ý thơ, được triển khai thành cái tứ độc đáo. Tôi trả lời và tất nhiên đọc lên bài thơ giữa vời vợi gió:
Một vòm mở giữa không gian
Nhờ công Thiên tạo ngàn năm mà thành
Từ xưa lữ khách đến thăm
Thơ đề vách động tháng năm không mờ
(Động Hồ Công, thơ Lê Văn Sự).
- Anh Lê Văn Sự hẳn nhớ, nhà thơ người Xứ Thanh chúng ta là Nguyễn Duy, đã có 2 bài thơ được khắc đá. Nếu bài thơ Động Hồ Công được khắc đá trên đường lên động thì thật là tuyệt.
- Không dám đâu, chắc nhiều bài hay hơn. Nhà thơ Lê Văn Sự khiêm tốn.

Dẫu anh khiêm tốn nhưng tôi đánh giá nhà thơ Lê Văn Sự ở những đóng góp về văn hóa cho quê nhà. Say mê và viết. Say sưa khảo cứu biên soạn và thuyết trình với các ngành, các cấp để “định vị” các giá trị văn hóa. Những nghiên cứu của ông đã được đưa vào tác phẩm Thanh Hóa Vĩnh Lộc Huyện chí- công trình chung giữa đồng tác giả TS Hán Nôm Nguyễn Văn Hài và ông.
Dưới chân núi Vân Đài này, Động Hồ Thông và Chùa Thông (hay còn có tên khác chùa Du Anh), là một quần thể danh thắng – tâm linh. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Lê Văn Sự, Chùa xây dựng từ thời Lý (Hậu Lý) ở thế kỷ XI. Đây là thời kỳ Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, đổi tên nước từ Đại Cồ Việt sang Đại Việt.
Nhà thơ Lê Văn Sự kể lại rằng, cuối triều Trần, Vua Trần Nghệ Tông (1321–1394) có đưa công chúa Du Anh đến đây vãn cảnh, thưởng ngoạn và làm lễ. Ngắm nhìn thấy cảnh trí đẹp, hữu tình Vua đã phát tâm công đức cho sửa sang trùng tu, đắp tượng và một số hạng mục khác, từ đó mgoài tên gọi chùa Thông còn được mang tên chùa Du Anh.
Đầu niên hiệu Hoằng Định (1601 – 1619), thời Lê Trung Hưng (1533 – 1788) Quảng Quận công Trịnh Vĩnh Lộc xuất tiền cất dựng lại, khởi công năm Tân Sửu (1601) đến năm Ất Tỵ (1605) làm xong. Chùa lấy núi Xuân Đài làm hậu trẫm, núi Trác Phong làm tiền án. Trước đây bên tả chùa có gác Ngọc Hoàng, bên hữu chùa có am công chúa, hai bên nách chùa có 2 cái hồ, mang tên là Nhật hồ và Nguyệt hồ, bốn mùa nước trong xanh tận đáy. Qua tam quan, gặp hai linh vật nhà Trần là tượng voi và sư tử qùy được tạo tác bằng đá nguyên khối.
Cũng vì công lao của Quảng Quận công Trịnh Vĩnh Lộc nên trong Chùa có Bi ký và Bài minh do Thượng thư Phùng Khắc Khoan soạn năm Hồng Đức thứ 6 (1605) ca ngợi công đức của Quảng quận công, quê ở Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, trú quán tại chính Biện Thượng bây giờ. Đầu thời Lê Trung hưng, thời Bình An Vương Trịnh Tùng (1573 – 1623), ông được phong Tuyên Lực công thần, Đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân Đô đốc phủ Đô đốc đồng tri.
Tại Chùa Thông hằng năm vào ngày mùng 9 tháng Giêng (AL) có lễ hội truyền thống, cầu mưa thuận gió hòa, thu hút đông đảo du khách thập phương đến dâng hương hành lễ chiêm ngưỡng cảnh đẹp của núi non kỳ vĩ và thăm thú động Hồ Công. Thường thì, sau khi lễ chùa, du khách từ khuôn viên sân chùa đi theo các bậc đá chếch về hướng Đông – Nam là lên tới Thắng tích động Hồ Công.
Là người nhiều năm nghiên cứu về du lịch, tôi nhận ra “dư địa” phát triển kinh tế du lịch của Thanh Hóa là vô cùng lớn. Du lịch ngày nay không chỉ còn là tắm biển, nghỉ dưỡng mà đã phát triển thành chuỗi giá trị: Du lịch lịch sử, du lịch văn hóa- tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề...và, tất nhiên là hướng đến du lịch xanh, du lịch dưỡng khí nhằm phát triển bền vững, nâng cao giá trị cuộc sống của con người.
*
**
Thanh Hóa là vùng đất đặc biệt. Nguyễn Trãi từng coi đất và người Thanh Hóa là “Phên dậu thứ hai ở phương Nam”(1). Nhờ thế Thanh Hóa là vùng của trầm tích văn và truyền thống lịch sử. Nhắc đến di tích, hẳn người Việt Nam ai cũng biết đến Thành Nhà Hồ (được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 27/6/2011), Khu Di tích Lam Kinh....Trong hàng trăm di tích, Thanh Hóa có đến 27 di tích lịch sử nổi tiếng, bất cứ du khách nào đặt chân đến Xứ Thanh đều mong muốn có mặt để tìm hiểu, check-in.
Từ tư gia nhà thơ Lê Văn Sự đến Chùa Giáng, Đền Nam giao của Tây Đô xưa, Đền thờ Trần Khát Chân...không xa. Chỉ riêng điều đấy đã cho thấy, Vĩnh Lộc nhiều di tích được đưa vào “bản đồ du lịch”.
Mỗi lần chạm vào đất Thanh Hóa, tôi lại nhớ bài thơ “Thanh Hóa” của nhà thơ Thành Nam (bây giờ thuộc tỉnh mới Ninh Bình), Trần Mạnh Hảo. “Nếu Lê Lợi không khởi binh đuổi giặc / Tên nước Nam đã biến khỏi địa cầu / Nếu Thanh Hóa không Nguyễn Hoàng mở đất / Tổ quốc mình sao tới được Cà Mau”. Bài thơ gồm 6 khổ thơ, 24 câu thơ là một “biên niên” được Trần Mạnh Hảo thi ca hóa.
Thanh Hóa đúng là vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa, vùng đất hội tụ của vẻ đẹp. Dẫu nhiều nhà thơ, nhà văn viết về Thanh Hóa đã có thành tựu, nhưng đây vẫn là vùng đất nhiều vỉa tầng văn hóa, luôn thách thức năng lực sáng tạo của văn học nghệ thuật. Không ai độc quyền, sỡ hữu được cảm xúc trước cuộc sống. Hôm qua, hôm nay là ngày mai luôn là dòng chảy tiếp nối.
Nhà thơ Lê Văn Sự yêu quê, tự hào về quê hương. Ông có bài thơ Vĩnh Lộc quê anh, giọng điệu chân thành, nhưng kiêu hãnh:
Thắng tích Tiên Sơn, Kim Sơn, Hồ Công...
Những vần thơ tượng hình vách động
Những ngọn núi chập chờn ngọn sóng
Ngút xanh đến tận mây trời.
Tôi không giỏi về Hán – Việt. Nhưng bụng cứ nghĩ về “vân đài” – núi toàn đá dựng. Có thể theo nghĩa ngọn núi giống như một “đài mây”. Đứng trên đỉnh Vân Đài, mạn Động Hồ Thông, mới chỉ ngó nghiêng thôi, đã thấy niềm tự hào về sông núi, trầm tích văn hóa, nghĩa khí vùng đất “khả ái”. Lịch sử, vì nhiều nguyên nhân, có thể viết lại, nhưng ký ức dân tộc, ký ức từng vùng đất, đối với mỗi người thì không ai có thể viết lại.
Thanh Hóa – Hà Nội, tháng 8/2026
_______________
1. An Nam Chí nguyện, quyển 2.
Bút ký & Ảnh: Ngô Đức Hành
Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026