Từ khóa: du lịch mạo hiểm; người Cơ Ho; Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà; xung đột văn hóa; bảo tồn di sản.

Abstract: Developing community-based adventure tourism in nature reserves is a widespread strategy aimed at achieving a dual objective: livelihood development and heritage conservation. However, the rapid growth of this segment often triggers profound conflicts regarding the living space and cultural identity of the Cơ Ho ethnic community. Employing a mixed-methods approach, this study combines secondary data analysis from institutional research projects conducted during the 2024-2025 period with ethnographic fieldwork and in-depth interviews across representative buffer-zone villages (Đa Blah, Đa Ra Hoa, Đa Tro) in Bidoup - Núi Bà National Park. Findings reveal that while the tripartite partnership model has brought initial livelihood improvements for the Cơ Ho people (specifically the Chil and Lạch subgroups), this relationship faces four critical internal barriers: labor allocation restricted to low-value segments; a lack of capacity and professional operational skills; forced commercialization and “staged authenticity” that disrupt sacred cultural spaces; and asymmetrical economic benefit-sharing. Based on these insights, the paper proposes policy recommendations to restructure the value chain and empower the community with cultural autonomy.

Keywords: adventure tourism; Cơ Ho people; Bidoup - Núi Bà national Park; cultural conflict; heritage conservation.

 

VQG Bidoup   nui ba.jpg
VQG Bidoup - Núi Bà có nhiều tiềm năng khai thác du lịch trải nghiệm - Ảnh: bidoupnuiba.gov.vn

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế phát triển du lịch đương đại, du lịch mạo hiểm (adventure tourism) đã chuyển mình từ một phân khúc thị trường ngách trở thành ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng vượt bậc, đặc biệt tại các khu bảo tồn thiên nhiên nhạy cảm ở các quốc gia đang phát triển (Buckley, 2012). Tại Việt Nam, sự giao thoa giữa nhu cầu chinh phục thiên nhiên của du khách và mục tiêu đa dạng hóa sinh kế cho cộng đồng vùng đệm đã thúc đẩy các Vườn quốc gia (VQG) mở cửa vùng lõi để khai thác du lịch sinh thái mạo hiểm (Nguyen & Vo, 2022). Khác với các loại hình du lịch sinh thái đại trà, du lịch mạo hiểm đòi hỏi sự thâm nhập sâu vào các địa hình nguyên sơ - vốn đồng thời là không gian sinh tồn mang tính tâm linh và cấu trúc văn hóa đặc hữu của các dân tộc thiểu số tại chỗ (Truong và cộng sự, 2014). Tuy nhiên, thực tiễn vận hành đang đặt ra một nghịch lý lớn: tốc độ thương mại hóa và xu hướng đô thị hóa du lịch đang xâm nhập mạnh mẽ, tạo ra áp lực nén lên môi trường tự nhiên, đồng thời đe dọa làm biến dạng các giá trị văn hóa cộng đồng.

VQG Bidoup - Núi Bà (tỉnh Lâm Đồng), nằm ở vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang, là địa bàn mang tính đại diện cao cho xung đột này. Đây là nơi cư trú lâu đời của cộng đồng người
Cơ Ho (chủ yếu là các nhánh Chil và Lạch) với kho tàng văn hóa tinh thần phong phú như Không gian văn hóa Cồng chiêng, hệ thống luật tục giữ rừng và văn hóa sinh thái cộng đồng. Những năm gần đây, việc đưa vào vận hành các tuyến trekking cấp độ mạo hiểm cao (như tuyến Chinh phục đỉnh Bidoup 2.287m, tuyến Hòn Giao) đã bước đầu hình thành mối liên kết giữa Ban quản lý VQG, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng Cơ Ho. Mặc dù vậy, sự phát triển quá nhanh của loại hình này đang bộc lộ những bất cập. Thay vì giữ vai trò chủ thể di sản, người Cơ Ho đang có nguy cơ ở bên lề chuỗi giá trị du lịch, đối mặt với sự đứt gãy không gian văn hóa truyền thống và các rào cản năng lực nội tại.

Mặc dù du lịch dựa vào cộng đồng đã được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận ở góc độ du lịch sinh thái chung mà chưa bóc tách sâu các tác động và rào cản đặc thù của du lịch mạo hiểm - nơi ranh giới giữa việc tôn trọng không gian thiêng và hành vi thương mại hóa rất mong manh. Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu đó, nghiên cứu này hướng tới ba mục tiêu chính: i) Nhận diện thực trạng tham gia của cộng đồng người Cơ Ho trong chuỗi cung ứng du lịch mạo hiểm tại vùng đệm VQG Bidoup - Núi Bà; ii) Bóc tách các điểm nghẽn thể chế và rào cản nội tại (cấu trúc, nguồn lực, truyền thông) cản trở sự phát triển bền vững của cộng đồng; iii) Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực nội tại và bảo tồn văn hóa, cung cấp bằng chứng thực chứng cho các nhà hoạch định chính sách du lịch bền vững.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp hỗn hợp theo thiết kế diễn giải tuần tự nhằm đảm bảo tính toàn diện và chiều sâu của dữ liệu thực chứng:

Về mặt định lượng: bài viết kế thừa và phân tích các dữ liệu thứ cấp từ đề tài nghiên cứu cấp Bộ giai đoạn 2024-2025 về “Phát triển du lịch mạo hiểm tại các vườn quốc gia”. Các số liệu được trích xuất bao gồm: Thống kê lượt khách, doanh thu du lịch qua các năm, số lượng lao động người Cơ Ho tham gia hệ thống porter, tần suất và thu nhập từ các dịch vụ liên kết thô.

Về mặt định tính: tác giả tiến hành công tác điền dã dân tộc học sâu rộng tại vùng đệm VQG Bidoup - Núi Bà từ năm 2024 đến cuối năm 2025. Tác giả đã thực hiện phỏng vấn sâu bán cấu trúc, đối tượng bao gồm: già làng, trưởng buôn, các thanh niên làm nghề porter, các nghệ nhân đội cồng chiêng và dệt thổ cẩm tại ba buôn trọng điểm: Đa Blah, Đa Ra Hoa và Đa Tro (trước 1/7/2025). Đồng thời, 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung đã được tổ chức nhằm bóc tách các xung đột văn hóa và lợi ích kinh tế giữa người dân và các đơn vị lữ hành tư nhân.

3. Kết quả và thảo luận

Thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm và mức độ tham gia của cộng đồng Cơ Ho

Dữ liệu thực chứng cho thấy mô hình phát triển du lịch tại VQG Bidoup - Núi Bà đang vận hành theo cơ chế phối hợp ba bên bao gồm: Ban quản lý VQG - Doanh nghiệp lữ hành - Cộng đồng địa phương. Hiện nay, hệ thống sản phẩm du lịch mạo hiểm được phân hóa rõ rệt thành hai nhóm: tuyến Núi Bà đang được cho Công ty Du lịch Lâm Đồng thuê trọn gói để khai thác đại trà; trong khi các tuyến vùng lõi có độ mạo hiểm cao như tuyến thác Thiên Thai, đa dạng sinh học Hòn Giao và chinh phục đỉnh Bidoup được quản lý và cấp phép bởi Trung tâm Du lịch và Khoa học (được sáp nhập theo Quyết định số 2562/QĐ-UBND vào tháng 12/2025). 

VQG Bidoup   nui ba b1.jpg
Bảng 1: Cơ cấu phân bổ nhân sự và năng lực giám sát hiện trường tại Trung tâm Du lịch và Khoa học (Tính đến tháng 12/2025)- Nguồn: VQG Bidoup - Núi Bà

Bằng chứng định lượng tại bảng 1 cung cấp một nghịch lý thể chế sâu sắc: trong khi lượng khách phải đón tiếp đã vượt ngưỡng 10.000 lượt, bộ máy giám sát thực địa trực thuộc Trung tâm Du lịch và Khoa học chỉ có vỏn vẹn 4 nhân sự nam trực tiếp tham gia tổ chức vận hành. Với tỷ lệ áp lực chạm ngưỡng 25 khách/ nhân sự vào các ngày cuối tuần, kết hợp với phương thức quản lý lỏng lỗi thời, cơ quan quản lý không thể kiểm soát được việc các đoàn khách có mang theo loa kéo, thiết bị âm thanh công suất lớn vào rừng hay không. Điểm nghẽn về nhân sự này chính là nguyên nhân gián tiếp về các hành vi xâm hại không gian văn hóa tâm linh và môi trường tự nhiên của VQG.

Sự bùng nổ của lượng khách mạo hiểm (đạt 8.120 lượt vào năm 2024 và vượt 10.000 lượt vào năm 2025) đã thúc đẩy nhu cầu sử dụng dịch vụ thuê ngoài từ cộng đồng. Người dân Cơ Ho tại các buôn Đa Blah, Đa Ra Hoa, Đa Tro (trước 1/7/2025) tham gia vào chuỗi cung ứng thông qua ba hình thức chính: đội ngũ porter (khuân vác), dẫn đường; cung ứng ẩm thực bản địa; đội văn nghệ cồng chiêng biểu diễn giao lưu văn hóa tại các khu vực vùng đệm.

VQG Bidoup   nui ba b2.jpg
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng lượng khách mạo hiểm và doanh thu dịch vụ liên kết thô tại vùng đệm VQG Bidoup - Núi Bà (2020-2025)- Nguồn: VQG Bidoup - Núi Bà giai đoạn 2024-2025 
*Số liệu năm 2025 bao gồm các ước tính dự báo cho quý cuối cùng.

Số liệu từ Bảng 2 cho thấy một sự bùng nổ cơ học về lượng khách du lịch mạo hiểm, đặc biệt là giai đoạn hậu đại dịch (2022-2025) với tỷ lệ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt trên 40%. Sự gia tăng này kéo theo tổng dòng vốn chi trả thô cho các dịch vụ thuê ngoài của cộng đồng tăng từ 24.800 USD (năm 2020) lên mức dự báo 242.100 USD (năm 2025). Tuy nhiên, phân tích sâu về cấu trúc nguồn khách cho thấy tỷ lệ khách quốc tế đang tăng nhanh (đạt 31,5% vào năm 2025). Điều này trực tiếp làm trầm trọng hơn rào cản nội tại về ngoại ngữ của những người khuân vác hành lý Cơ Ho, đẩy họ vào thế bị động và phụ thuộc hoàn toàn vào các hướng dẫn viên trung gian của doanh nghiệp lữ hành để giao tiếp với khách du lịch.

Về mặt kinh tế, sự tham gia này đã mang lại những đóng góp tích cực không thể phủ nhận. Thu nhập từ du lịch đã trở thành nguồn sinh kế quan trọng, giúp tăng thu nhập bình quân của các hộ tham gia lên từ 25%-30% so với làm nông thuần túy. Quan trọng hơn, lợi ích kinh tế minh bạch này đã dịch chuyển tư duy của người dân từ việc “chặt cây, săn thú” sang bảo vệ rừng, biến họ thành một “lá chắn” tự nguyện bảo vệ đa dạng sinh học cho vùng lõi VQG.

Các rào cản nội tại và xung đột phát sinh trong bảo tồn văn hóa

Bên cạnh những điểm sáng về sinh kế, kết quả phân tích định tính từ các cuộc phỏng vấn sâu và điền dã dân tộc học đã bóc tách bốn rào cản nội tại và xung đột sâu sắc, làm lộ rõ mặt tối của sự phát triển du lịch quá nóng:

Rào cản 1: Sự phân công lao động ở phân khúc giá trị thấp

Một trong những điểm là sự bất cập là sự bất cân xứng trong phân công lao động. Người Cơ Ho hầu như chỉ được thuê làm các công việc cơ học, nặng nhọc bằng cơ bắp như vác đồ, dọn rác, nấu ăn thô. Họ hoàn toàn vắng bóng trong các vị trí có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao như quản lý tour, điều hành điều phối, hay chuyên gia thuyết minh di sản. Phỏng vấn sâu thanh niên tại buôn Đa Blah cho thấy, dù am hiểu sâu sắc về rừng và văn hóa bản địa, họ chủ yếu đóng vai trò khuân vác, ít khi diễn giải di sản. Do e ngại mâu thuẫn với hướng dẫn viên của doanh nghiệp, họ thường giữ thái độ thụ động ngay cả khi thông tin về văn hóa bị thuyết minh chưa chính xác. Thực trạng này dẫn đến việc “vốn tri thức cộng đồng dân tộc Cơ Ho” chưa được phát huy trong cộng đồng.

Rào cản 2: Thiếu hụt năng lực và tính chuyên nghiệp trong vận hành

Cộng đồng Cơ Ho tại vùng đệm đối mặt với rào cản nguồn lực rất lớn về trình độ giáo dục và kỹ năng dịch vụ. Phần lớn các đội nhóm porter và ẩm thực vận hành theo tính chất tự phát, thời vụ, thiếu các chứng chỉ chuyên môn về an toàn du lịch mạo hiểm, cứu hộ cứu nạn hay vệ sinh an toàn thực phẩm. Đặc biệt, rào cản ngoại ngữ là một “bức tường” ngăn cách người dân tiếp cận phân khúc khách quốc tế (chiếm tới 31,5% cấu trúc khách vào năm 2025). Do không giao tiếp được, toàn bộ việc tương tác, diễn giải văn hóa đều phải thông qua bên trung gian, khiến giá trị di sản bị sai lệch khi đến với du khách nước ngoài.

Rào cản 3: Sự thương mại hóa và đứt gãy không gian văn hóa tâm linh

Sự thâm nhập của dòng vốn thương mại đang tạo ra hiện tượng “sân khấu hóa” không gian văn hóa đối với các di sản. Không gian văn hóa cồng chiêng - vốn là một thực thể linh thiêng gắn liền với nghi lễ hiến tế, mừng lúa mới, thần bến nước của buôn làng - đã chuyển thành các buổi biểu diễn tạp kỹ, dài 45 phút để phục vụ thị hiếu giải trí nhanh của khách du lịch tại một số vùng đệm.

VQG Bidoup   nui ba b3.jpg
Bảng 3: Tần suất vượt ngưỡng sức chứa sinh thái và áp lực ô nhiễm tiếng ồn tại các tuyến du lịch mạo hiểm trọng điểm - Nguồn: VQG Bidoup - Núi Bà, giai đoạn 2024-2025 

Sự đứt gãy không gian văn hóa tâm linh không còn là một nhận định định tính mơ hồ mà được chứng thực rõ nét qua bảng 3. Tuyến trekking trọng điểm “Chinh phục đỉnh Bidoup” - nơi có mật độ không gian tâm linh linh thiêng nhất theo luật tục Cơ Ho đang bị quá tải tới 42 ngày/ năm với lượng khách cuối tuần trung bình đạt 145 người (vượt 45% so với ngưỡng sức chứa cho phép). Sự tập trung mật độ người quá cao trong không gian thiêng, kết hợp với các thiết bị khuếch đại âm thanh của các đoàn lữ hành, đã tạo ra một sự “xâm lấn không gian”. Nó biến khu rừng già tôn nghiêm thành một tổ hợp du lịch nhộn nhịp, trực tiếp tác động lên niềm tin thờ phụng thần Yàng của người dân tộc thiểu số khu vực vùng đệm.

Rào cản 4: Bất đối xứng lợi ích và phân phối dòng vốn

Mặc dù tổng doanh thu từ dịch vụ du lịch mạo hiểm toàn VQG tăng trưởng ấn tượng (đạt mức dự báo 242.100 USD vào năm 2025), cấu trúc phân phối dòng vốn lại thể hiện sự bất đối xứng gay gắt. Phần lớn chuỗi giá trị và lợi nhuận cốt lõi (từ 70%-80%) được thâu tóm bởi các doanh nghiệp lữ hành lớn từ Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt thông qua việc bán tour trọn gói trên các nền tảng số. Cộng đồng dân tộc Cơ Ho tại vùng đệm, dù là bên trực tiếp chịu tác động môi trường và tiêu hao tài nguyên văn hóa, chỉ nhận được phần “vụn bánh” là tiền công porter thô (khoảng 300.000-400.000 đồng/ ngày công) và một khoản phí trích lại rất nhỏ từ dịch vụ biểu diễn. Sự phân phối bất công này làm gia tăng tâm lý bất mãn ngầm, làm xói mòn động lực tham gia bảo tồn bền vững của người dân.

Giải pháp và kiến nghị

Để dỡ bỏ các rào cản nội tại và hóa giải các xung đột văn hóa nêu trên, tác giả đề xuất ba nhóm giải pháp đồng bộ mang tính chiến lược:

Một là, tái cấu trúc phân công lao động và thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích

Ban quản lý VQG (trực tiếp là Trung tâm Du lịch và Khoa học) cần ban hành quy chế yêu cầu các đơn vị lữ hành tư nhân khi khai thác tuyến đỉnh Bidoup phải trích tỷ lệ phần trăm doanh thu tour cố định để đóng góp vào quỹ phát triển cộng đồng Bon làng. Đồng thời, cần có chính sách sử dụng người khuân vác hành lý bản địa làm đồng - hướng dẫn viên, nâng cao vị thế của họ từ người khuân vác hành lý thành người diễn giải di sản.

Hai là, chuẩn hóa năng lực thông qua đào tạo chuyên sâu

Tổ chức các khóa đào tạo định kỳ, cấp chứng chỉ quốc tế về cứu hộ mạo hiểm, sơ cấp cứu và kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ cơ bản cho thanh niên các buôn Đa Blah, Đa Ra Hoa, Đa Tro (trước 1/7/2025). Chuyển giao các kịch bản thuyết minh chuẩn xác về văn hóa Cơ Ho để xóa bỏ tình trạng bất đối xứng thông tin.

Ba là, thành lập Hợp tác xã du lịch mạo hiểm tự quản

Trao quyền chủ thể cho người dân bằng cách hỗ trợ thành lập các mô hình tổ, hợp tác xã du lịch do chính già làng và thanh niên Cơ Ho tự quản lý. Mọi hoạt động khai thác văn hóa phi vật thể hay dẫn tour mạo hiểm vào khu vực văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ phải thông qua sự phê duyệt của cộng đồng, áp dụng các chế tài nghiêm ngặt (như cấm tuyệt đối loa phóng thanh, loa cầm tay trên tuyến trekking vùng lõi) để trả lại sự tôn nghiêm cho rừng thiêng.

4. Kết luận

Nghiên cứu thực chứng tại VQG Bidoup - Núi Bà khẳng định rằng, phát triển du lịch mạo hiểm chỉ có thể đạt được tính bền vững khi nó tôn trọng và tích hợp một cách hữu cơ với hệ thống văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ. Thực trạng hiện nay chỉ ra rằng, việc tăng trưởng nóng về lượng khách đang tạo ra những xung đột sâu sắc, bộc lộ các rào cản nội tại gay gắt từ sự phân công lao động giá trị thấp, thiếu hụt năng lực, sự thương mại hóa di sản đến phân phối lợi ích bất bình đẳng.

Nếu các điểm nghẽn thể chế và cấu trúc này không được dỡ bỏ kịp thời thông qua các chính sách trao quyền và chuẩn hóa năng lực, du lịch mạo hiểm sẽ trở thành một tác nhân xâm lấn, làm suy thoái, đứt gãy không gian văn hóa đặc hữu của người dân tộc Cơ Ho khu vực vùng đệm. Đây là bài học cảnh báo không chỉ cho Bidoup - Núi Bà, mà còn cho hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc trong việc cân bằng giữa bài toán phát triển kinh tế sinh kế và bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ.

______________________

Tài liệu tham khảo

1. Berkes, F. (2009). Evolution of co-management: Role of knowledge generation, bridging organizations and social learning (Sự tiến hóa của đồng quản lý: Vai trò của tạo lập tri thức, tổ chức bắc cầu và học tập xã hội). Journal of Environmental Management. 90(5).

2. Buckley, R. (2012). Sustainable tourism: Research and reality (Du lịch bền vững: Nghiên cứu và thực tế). Annals of Tourism Research. 39(2).

3. Monz, C. A., Pickering, C. M., & Hadwen, W. L. (2013). Recent advances in recreation ecology and the implications for tourism in protected areas (Những tiến bộ gần đây trong sinh thái học giải trí và ý nghĩa đối với du lịch ở các khu bảo tồn). Journal of Environmental Management. 130.

4. Nguyen, Q. T., & Vo, T. T. (2022). Ecotourism management and biodiversity conservation in Vietnam’s national parks: Challenges and institutional bottlenecks (Quản lý du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia Việt Nam: Thách thức và những điểm nghẽn thể chế). Asia Pacific Journal of Tourism Research. 27(4).

5. Ruhanen, L., Whitford, M., & McLennan, C. L. (2015). Indigenous tourism in Australia: Time for a reality check (Du lịch bản địa ở Úc: Đã đến lúc kiểm chứng thực tế). Tourism Management. 53.

6. Truong, V. D., Hall, C. M., & Garry, T. (2014). Tourism and poverty alleviation: Perceptions and experiences of poor people in Sapa, Vietnam (Du lịch và xóa đói giảm nghèo: Nhận thức và trải nghiệm của người nghèo ở Sa Pa, Việt Nam). Journal of Sustainable Tourism. 22(7).

7. Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà. Các tài liệu báo cáo, đề án và hồ sơ di sản.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 2/7/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 13/7/2026; Ngày duyệt đăng: 25/7/2026.

NCS DƯƠNG VĂN CHĂM - TRẦN MINH TRÍ

Nguồn: Tạp chí VHNT số 651, tháng 8/2026