Từ khóa: di sản văn hóa; du lịch bền vững; giá trị văn hóa.

Abstract: Lam Son - Lam Kinh is a sacred land, the birthplace of the national hero Le Loi, the origin of the Lam Son Uprising that drove out the Ming invaders during ten arduous years (1418-1428), and also the eternal resting place of the kings, empresses, and queen mothers of the Early Le Dynasty. The Lam Kinh historical site possesses many historical and cultural values that have been effectively exploited for sustainable tourism development. However, reality shows that the exploitation of the Lam Kinh heritage for tourism development is still limited and not commensurate with the enormous potential of this vast system of historical and cultural relics. This article discusses the value of the Lam Kinh cultural heritage; the results of exploiting its historical and cultural values for tourism development and the difficulties encountered, while also proposing solutions to promote tourism development at the Lam Kinh historical site.

Keywords: cultural heritage; sustainable tourism; cultural values.

Untitledml.jpg
Nghi môn trong Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh - Ảnh: baothanhhoa.vn

1. Đặt vấn đề

Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh vốn là đất Lam Sơn, nơi nghĩa quân Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh (1418-1428). Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế (Lê Thái Tổ), lập nên vương triều Hậu Lê, đóng đô ở Thăng Long (Đông Kinh), mở ra thời kỳ phát triển mới cho quốc gia Đại Việt. Năm 1430, Lê Thái Tổ đổi tên vùng đất Lam Sơn thành Lam Kinh (Tây Kinh). Kể từ đó, các kiến trúc điện, miếu... cũng bắt đầu được xây dựng tại đây, gắn với hai chức năng chính: Điểm nghỉ chân của các vua Lê khi về lễ bái tổ tiên, đồng thời, cũng là nơi ở của quan lại và quân lính thư­ờng trực trông coi Lam Kinh; khu tập trung lăng mộ của tổ tiên, các vị vua, hoàng thái hậu nhà Lê và một số quan lại trong hoàng tộc. Năm 1962, khu di tích lịch sử Lam Kinh được xếp hạng cấp quốc gia, đến 1994 được Chính phủ phê duyệt dự án trùng tu tôn tạo. Từ đó đến nay, nhiều hạng mục công trình khu di tích đã được phục hồi tôn tạo, tránh được sự hoang phế, bảo vệ được nhiều di tích di vật cổ thời Lê. Năm 2012, nơi đây tiếp tục được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. Không chỉ đặc sắc về kiến trúc, di tích Lam Kinh còn lưu giữ những tư liệu lịch sử mang đậm dấu ấn văn hóa Việt. Hiện nay, vấn đề đặt ra cho những người có trách nhiệm là việc khai thác, sử dụng và phát huy một cách hợp lý giá trị di tích cho phát triển du lịch của xứ Thanh, để Khu di tích Lam Kinh thực sự có sức sống trong đời sống cộng đồng.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp điền dã thực địa. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp (các nguồn tài liệu đã được công bố: sách, tạp chí, công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, luận án, thư tịch, sử liệu, tư liệu tại các thư viện, kho lưu trữ, báo cáo tổng kết, tài liệu thống kê, ghi chép, tài liệu cá nhân... có liên quan đến vấn đề nghiên cứu). Phương pháp nghiên cứu này một mặt giúp kế thừa nhanh chóng các kiến thức, số liệu, kết quả nghiên cứu đã được kiểm nghiệm, công nhận, mặt khác để định hướng cho đề tài nghiên cứu tiếp tục bổ sung những khoảng trống mà các tài liệu đi trước chưa đề cập tới.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả

Giá trị của di sản văn hóa Lam Kinh

Giá trị lịch sử

Di tích Lam Kinh vốn là nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hồi đầu thế kỷ XV. Ở đây, nhà Lê đã cho xây dựng nhiều công trình điện, miếu thờ. Lam Kinh cũng là nơi an táng các vua và hoàng hậu thời Lê Sơ. Nơi đây được coi là Kinh đô thứ hai (Lam Kinh hay Tây Kinh) của nhà nước Đại Việt thời Lê sau Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội). Bởi vậy, Lam Kinh đương thời là vùng đất căn bản và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhà hậu Lê. Lam Kinh bắt đầu được xây dựng từ năm 1433, hoàn thiện dần vào các năm sau đó với rất nhiều công trình mới được xây dựng. Năm 1456, trong dịp hành lễ ở Lam Kinh, Vua Lê Nhân Tông đã đặt tên cho 3 tòa điện chính là Quang Đức, Sùng Hiếu và Diễn (Diên) Khánh. Hằng năm, các vua và hoàng tộc nhà Lê Sơ đều về Lam Kinh bái yết Sơn Lăng.

Tại khu di tích Lam Kinh còn lưu trữ nhiều di vật lịch sử quý giá, như bia Vĩnh Lăng - Lam Sơn Vĩnh Lăng bi, bia Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao - Khôn Nguyên Chí Đức Chi Lăng, bia Vua Lê Thánh Tông - Đại Việt Lam Sơn Chiêu Lăng bia và bia Vua Lê Hiến Tông - Đại Việt Lam Sơn Dụ Lăng bi… “Lam Sơn Vĩnh Lăng bi” (bia Vĩnh Lăng), tồn tại song hành cùng với lịch sử của dân tộc từ năm 1433 (Thuận Thiên năm thứ 6). Đây là một trong những tấm bia lớn nhất cả nước, với kỹ thuật điêu khắc, trang trí cầu kỳ, công phu, đường nét trau chuốt. Bia mô tả ngắn gọn, cô đọng gia tộc, thân thế, sự nghiệp công lao của Vua Lê Thái Tổ trên 750 chữ Hán khắc theo lối chữ triện do Nguyễn Trãi biên soạn. Sau 580 năm kể từ ngày được dựng, năm 2013, bia Vĩnh Lăng được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia.

Bia “Khôn Nguyên Chí Đức Chi bi” (bia Quang Thục Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao) được công nhận bảo vật quốc gia. Đây được xem là tấm bia đẹp nhất nước Nam, khắc ghi lai lịch, công đức của người phụ nữ có công làm rạng danh 3 đời vua thời hậu Lê (Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông). “Đại Việt Lam Sơn Chiêu Lăng bi” (bia Chiêu Lăng) ghi lại thân thế, sự nghiệp của Vua Lê Thánh Tông, một vị vua có công lao lớn trong lịch sử phong kiến Việt Nam, cũng được công nhận là bảo vật quốc gia. Bia được dựng vào mùa Xuân năm Mậu Ngọ, niên hiệu Cảnh Thống thứ nhất (1498) đời Vua Lê Hiến Tông.

Lam Kinh vẫn rạng rỡ hào quang một thuở vàng son của dân tộc và hậu thế hôm nay đến với Lam Kinh cũng một phần bởi họ muốn được chiêm ngắm những trang sử đá về một giai đoạn lịch sử hưng thịnh nhưng cũng nhiều bí ẩn nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Giá trị văn hóa

Khu di tích Lam Kinh mang nhiều ý nghĩa giá trị văn hóa thiêng liêng không chỉ của nhân dân Thanh Hóa mà của cả dân tộc. Ðây là công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, mang dấu ấn văn hóa cung đình cùng toàn bộ các bia ký, lăng mộ, minh chứng bước phát triển rực rỡ của nền kiến trúc nước nhà. Các điện miếu và lăng mộ được bố trí theo quan điểm Nho giáo, thuật phong thủy, có sự hài hòa giữa đồi núi, khe suối, cây xanh, tạo nên một môi trường đẹp, cân bằng giữa cảnh quan thiên nhiên và kiến trúc. Đặc biệt nơi đây hiện đang lưu giữ 5 tấm bia cổ, là những tư liệu quý giá về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật điêu khắc.

Thành điện Lam Kinh xưa được xây dựng theo địa thế “tọa sơn hướng thủy” Phía Bắc của kinh thành dựa vào núi Dầu, phía Nam nhìn ra sông Chu, có núi Chúa làm bình phong, phía Đông là rừng Phú Lâm, còn phía Tây được bảo vệ bởi núi Hương và núi Hàm Rồng. Khu hoàng thành, cung điện và thái miếu của kinh thành Lam Kinh vẫn được giữ nguyên vẹn cho đến ngày nay, với cách bố trí hình bàn cờ gồm khu ngọ môn, sân rồng, chính điện, thái miếu…

Cây cầu Bạch (tên gọi xưa là Tiên Loan kiều) bắc trên sông Ngọc là lối đi chính dẫn du khách vào thăm Kinh thành cổ Lam Kinh. Cầu được làm theo kiểu dáng kiến trúc độc đáo phổ biến ở các nước nhiệt đới vùng Á Đông, đó là thượng gia hạ kiều tức trên nhà, dưới cầu.

Lam Kinh còn là một trung tâm hành lễ thờ tự các vua Lê và hoàng thái hậu thời Lê Sơ vào loại lớn nhất, tiêu biểu nhất trong một ngàn năm phong kiến tự chủ ở Việt Nam. Trung tâm hành lễ thờ tự này bao gồm một quần thể kiến trúc điện, miếu, lăng mộ, sân rồng, nhà tả vu, hữu vu, nghi môn, thành lũy, sông Ngọc và các công trình kiến trúc khác được phân bố vừa tập trung vừa trải rộng, trên một diện tích trên 200ha, ở khu vực giáp ranh giữa đồng bằng và trung du đồi núi phía Tây Thanh Hóa.

Khu di tích cũng gắn liền với những câu chuyện truyền thuyết mang màu sắc huyền bí với những cây cổ thụ nổi tiếng như cây ổi biết cười, cây đa, thị mang điềm báo, cây lim tự hiến thân mình để xây điện thờ. Màu sắc tâm linh không chỉ tô thêm sự linh thiêng mà còn là yếu tố thú vị, gây tò mò và thu hút ngày càng nhiều du khách đến với lịch sử đầy tự hào của Thanh Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung.

Phát triển du lịch gắn với bảo tồn các giá trị di sản văn hóa

Từ một phế tích hoang tàn, suốt mấy thập kỷ qua, Lam Kinh đã được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và tỉnh Thanh Hóa để trùng tu, tôn tạo nhằm phục dựng diện mạo vốn có của công trình văn hóa tín ngưỡng tâm linh đã có lịch sử gần sáu thế kỷ. Lam Kinh ngày nay mang dáng dấp của một công trình bề thế, uy nghiêm và linh thiêng gắn với chức năng của một sơn lăng - nơi diễn ra tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của Vương triều Hậu Lê. Với các giá trị về lịch sử, văn hóa to lớn, Lam Kinh trở thành điểm đến tâm linh - nơi “về nguồn” của người Việt Nam.

Dựa trên tiềm năng, lợi thế sẵn có để khai thác phát triển du lịch, những năm qua, di tích này đã và đang được chú trọng đầu tư tôn tạo và đưa vào khai thác, để trở thành một trong những điểm đến du lịch văn hóa - tâm linh quan trọng của tỉnh Thanh Hóa. Cho đến nay, hàng chục hạng mục công trình gồm các lăng mộ, nhà bia, chính điện và các tòa thái miếu, nghi môn, sân rồng, thềm rồng, cầu Bạch, đền thờ Lê Lai và một số hạng mục như hồ Như Áng, giếng cổ, sông Ngọc, cảnh quan thiên nhiên… đã được tu bổ, tôn tạo và bảo vệ, với kinh phí lên đến hơn 400 tỷ đồng được huy động từ ngân sách và các nguồn xã hội (Hoài Anh, 2022).

Cơ sở hạ tầng giao thông đến khu di tích Lam Kinh cũng được triển khai đầu tư xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách tiếp cận và tham quan di tích. Nhiều hạng mục hạ tầng kỹ thuật của di tích được quan tâm, đầu tư như: xây dựng phòng và hệ thống trưng bày hiện vật, giới thiệu di tích; xây dựng nhà vệ sinh đạt chuẩn phục vụ khách du lịch; hệ thống điện, thông tin liên lạc, biển báo; nhà đón tiếp; trang thiết bị phục vụ công tác thuyết minh… Cùng với đó, nhiều dịch vụ bổ trợ cung cấp cho khách du lịch đã được các cấp, ngành định hướng và hỗ trợ cho người dân trong công tác đào tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch khi đến với Lam Kinh như: dịch vụ ăn uống, lưu trú, quà lưu niệm, thuyết minh, hướng dẫn…

Ban quản lý Di tích lịch sử Lam Kinh đã chủ động, tích cực trong việc đẩy mạnh khai thác các tour tham quan như: Thanh Hóa - Lam Kinh - Suối cá; Thanh Hóa - Thành nhà Hồ - Lam Kinh - Suối cá; Thanh Hóa - Sầm Sơn - Lam Kinh. Bên cạnh đó là các tuyến tham quan: Nhà trưng bày - Khu trung tâm chính điện và lăng mộ Vua Lê Thái Tổ, lăng mộ Vua Lê Hiến Tông - Hồ Tây - nhà bia Vĩnh Lăng; Nhà trưng bày - Khu trung tâm di tích - 5 khu lăng mộ các vua và hoàng hậu ở phía Đông - Đền thờ bà Hàng Dầu - 2 đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai và đền thờ Lê Lợi.

Sau đại dịch COVID-19, Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Lam Kinh đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách khi nhiều dịch vụ trải nghiệm mới đã và đang được ứng dụng tại đây. Trong đó, phải kể đến việc ra mắt sản phẩm du lịch thông minh và đón khách tham quan chính điện Lam Kinh, góp phần tăng thêm sức hấp dẫn cho Lam Kinh, đây còn được xem là “cú hích” quan trọng để sản phẩm du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh của Thanh Hóa có được vị trí xứng đáng và ngày càng thu hút khách du lịch.

Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh hiện đã triển khai hệ thống thuyết minh tự động (audio guide) phục vụ công tác giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá hình ảnh di tích. Với thao tác đơn giản, trên điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng, du khách tải ứng dụng “Lam Kinh audio guide”, truy cập vào ứng dụng là có thể quét mã QR tại các điểm tham quan. Bên cạnh đó, khi truy cập vào ứng dụng này, khách du lịch có thể nghe giới thiệu thuyết minh về di tích mọi lúc, mọi nơi bằng 2 ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt. Ngoài việc nghe thuyết minh từng điểm di tích, trong ứng dụng “Lam Kinh audio guide” và thuyết minh tự động cầm tay còn lồng ghép nhiều câu chuyện tâm linh, cũng như những nhân vật lịch sử nổi tiếng gắn với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhằm truyền tải được nhiều thông tin hơn đến với du khách.

Ngoài việc ứng dụng phần mềm thuyết minh tự động, du khách có thể trải nghiệm toàn bộ khu du lịch Lam Kinh qua ứng dụng MobiFone Smart Travel. MobiFone Smart Travel là ứng dụng trải nghiệm du lịch trên không gian đa chiều dựa trên công nghệ thực tế ảo (VR), giúp khách du lịch có cái nhìn bao quát nhất về các khu, điểm du lịch từ xa; cũng như hệ thống hướng dẫn, chỉ đường trực tiếp tại điểm du lịch khi tương tác thông qua công nghệ thực tế tăng cường (AR).

Công tác tuyên truyền, xúc tiến và áp dụng các tiến bộ công nghệ vào quảng bá nhằm đưa di sản đến gần hơn với du khách cũng được các ban, ngành, đơn vị, địa phương quan tâm triển khai. Đồng thời, chú trọng khai thác giá trị các loại hình văn hóa phi vật thể của vùng đất Lam Sơn như lễ hội, trò chơi, trò diễn... phục vụ du lịch.

Việc ưu tiên huy động các nguồn lực đầu tư đã đem đến cho khu di tích lịch sử Lam Kinh một diện mạo mới; sự chuyên nghiệp trong cung cách phục vụ; sự hấp dẫn, truyền cảm trong công tác thuyết minh… Nhờ đó, khách du lịch trong nước và quốc tế đến với khu di tích lịch sử Lam Kinh ngày càng đông. Theo báo cáo của Ban Quản lý di tích Lam Kinh (2023), di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh đón 290.000 lượt khách, trong đó có 2.200 lượt khách quốc tế. Năm 2024, khách du lịch đến với số lượng 320 nghìn lượt khách tăng 14,2% so với kế hoạch giao năm 2023 (Ban Quản lý di tích lịch sử Lam Kinh, 2024). Tính đến ngày 30/10/2025, khách du lịch đến với số lượng 280.149 lượt khách tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2024 (Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa, 2025).

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình phát triển du lịch tại khu di tích Lam Kinh cũng gặp phải những khó khăn, thách thức cần được khắc phục. Đó là, trong bối cảnh xã hội hóa các hoạt động di tích ngày càng cao, việc bảo tồn di tích là một hoạt động khoa học khó cả về lý luận và thực tiễn; năng lực công tác hướng dẫn, bảo tồn và phát huy giá trị di tích của một số cán bộ còn những hạn chế nhất định; số lượng cán bộ có chuyên môn sâu cần phải được tăng cường; đội ngũ cán bộ nghiệp vụ cũng cần được bổ sung thêm vì còn thiếu so với địa bàn rộng và số lượng điểm di tích nhiều...

3.2. Thảo luận

Kết quả phân tích ở trên cho thấy việc khai thác giá trị của khu di tích Lam Kinh để phát triển du lịch trong thời gian qua cũng gặp những khó khăn, thách thức nhất định. Ở góc độ quản lý di sản, cách tiếp cận hiện nay vẫn thiên về bảo tồn và quản lý chuyên môn, trong khi các yếu tố quản trị trải nghiệm, liên kết thị trường du lịch và đo lường hiệu quả phát huy giá trị còn hạn chế. Điều này cho thấy khoảng cách giữa mục tiêu bảo tồn di sản, vốn đòi hỏi sự thận trọng, kiểm soát chặt chẽ, với yêu cầu phát triển du lịch năng động, linh hoạt cần được giải quyết một cách hài hòa. Từ đó, có thể rút ra một số hàm ý quan trọng cho việc khai thác giá trị của khu di tích Lam Kinh để phát triển du lịch bền vững như sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng dân cư để hiểu rõ hơn về vai trò và ý nghĩa của việc giữ gìn, phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển du lịch, qua đó tạo sự đồng thuận giữa các bên liên quan trong việc triển khai các hoạt động văn hóa và du lịch.

Thứ hai, tích cực triển khai thực hiện công tác xã hội hóa và tăng cường công tác xúc tiến quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa và lễ hội Lam Kinh thông qua các ấn phẩm truyền thông, truyền hình. Xây dựng và tổ chức các chương trình tập huấn, quảng bá, xúc tiến du lịch có trọng tâm, trọng điểm gắn với các sự kiện văn hóa lễ hội, hội chợ, hội nghị, hội thảo.

Thứ ba, hoàn thiện để nâng cấp chất lượng hệ thống xe điện, thuyết minh tự động, trải nghiệm thực tế ảo phục vụ khách tham quan. Đồng thời, nâng cao hơn nữa hệ thống thông tin du lịch (trang web, bản đồ, chỉ dẫn, quầy thông tin du lịch, tờ rơi...) tiện ích, đa dạng thông tin, bằng những ngôn ngữ quốc tế chính; xây dựng các chương trình quảng bá du lịch Lam Kinh ra quốc tế.

Thứ tư, nâng cao chất lượng hướng dẫn, thuyết minh; hướng dẫn viên hằng năm được cập nhật kiến thức mới, nâng cao trình độ chuyên môn; nội dung bài thuyết minh được đổi mới; phải chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ có chuyên môn sâu, am hiểu công nghệ, có khả năng thích ứng với môi trường số và đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện đại trong bảo tồn.

Thứ năm, xây dựng phòng đọc, tra cứu tư liệu về triều đại vua Lê và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cũng như các câu chuyện truyền thuyết; xây dựng tour liên kết di tích Lam Kinh với các di tích và tuyến du lịch phụ cận như: chùa Đầm, chùa Linh Cảnh, đền thờ Trịnh Thị Ngọc Lữ, suối cá thần Cẩm Lương, Sầm Sơn, Thành nhà Hồ...

Thứ sáu, tiếp tục quan tâm nâng cấp cơ sở hạ tầng; có chính sách bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, môi trường vùng phụ cận để Lam Kinh trở thành vùng động lực thu hút phát triển du lịch và kinh tế xanh của tỉnh Thanh Hóa.

4. Kết luận

Khai thác giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch tại Khu di tích Lam Kinh là hướng đi đúng đắn, vừa phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của du lịch hiện nay, vừa tạo ra những sản phẩm độc đáo, phát huy được lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, phát triển du lịch trên cơ sở khai thác các di sản văn hóa đòi hỏi phải luôn gắn công tác bảo tồn tính đa dạng, gìn giữ các giá trị di tích lịch sử văn hóa với việc khai thác phục vụ du lịch; đồng thời, việc bảo vệ tôn tạo di tích phải hướng tới phục vụ ngày càng tốt hơn các đối tượng đến tham quan nghiên cứu, trong đó có khách du lịch. Vì vậy, việc khai thác và phát huy giá trị di sản phải luôn đi đôi với công tác quản lý, bảo tồn. Mặt khác, phải coi đây không chỉ là công việc của riêng các cơ quan quản lý mà nó là trách nhiệm của cả cộng đồng từ mỗi người dân, du khách. Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, thay vì coi di sản như đối tượng cần gìn giữ tách biệt, cần xem đây là một nguồn lực phát triển, một phần trong hệ sinh thái kinh tế, xã hội, có khả năng đóng góp trực tiếp cho công nghiệp văn hóa, du lịch xanh, giáo dục sáng tạo và xây dựng thương hiệu địa phương.

___________________________

Tài liệu tham khảo

1. Hoài Anh. (2022). Phát huy giá trị di tích Lam Kinh gắn với phát triển du lịch. (Bài 2): Định hướng trở thành trọng điểm của du lịch Thanh Hóa. Chuyên san Văn hóa và đời sống. https://vhds.baothanhhoa.vn/phat-huy-gia-tri-ditich-lam-kinh-gan-voi-phat-trien-du-lich-bai-2-dinh-huongtro-thanh-trong-diem-cua-du-lich-thanh-hoa-25148.htm

2. Ban Quản lý di tích lịch sử Lam Kinh. (2023). Báo cáo tổng kết công tác năm 2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024.

3. Ban Quản lý di tích lịch sử Lam Kinh. (2024). Báo cáo tổng kết công tác năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025.

4. Từ Thị Loan, Đặng Hoài Thu (Đồng chủ biên). (2025). Giáo trình văn hóa học đại cương. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. Lê Hồng Lý, Dương Văn Sáu, Đặng Hoài Thu. (2011). Giáo trình quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

6. Quốc hội. (2024). Luật Di sản văn hóa. Cổng thông tin điện tử Chính phủ. https://vanban.chinhphu.vn/? pageid=27160&docid=212473&classid=1&typegroupid=3

7. Đinh Trọng Thu (chủ biên). (2022). Khai thác tài nguyên văn hóa để phát triển du lịch bền vững vùng Tây Bắc. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

8. Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử và Bảo tồn di sản Thanh Hóa. (2025). Báo cáo tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/3/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/3/2026; Ngày duyệt đăng: 28/3/2026.

TS NGUYỄN ĐÌNH PHÚC

Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026