Từ khóa: du lịch sáng tạo; trải nghiệm du lịch; làng hoa giấy Thanh Tiên; thành phố Huế.

Abstract: This paper analyzes the current status and potential of creative tourism through the experience of paper flower making in Thanh Tien village, Hue. Utilizing qualitative research methods and in-depth interviews, the author identifies key elements that drive experiential value, including direct visitor participation, interaction with local artisans, and a culturally rich practice space. Based on these findings, the study confirms the village’s prospects within the creative tourism sector and proposes policy implications for sustainable development coupled with heritage conservation.

Keywords: creative tourism; tourist experience; Thanh Tien paper flowers paper village; Hue city.

Untitledcn.jpg
Khách du lịch tham quan, trải nghiệm làm hoa giấy tại làng Thanh Tiên, thành phố Huế 
Ảnh: baochinhphu.vn

1. Đặt vấn đề

Sự phát triển của du lịch đại trà dẫn đến hiện trạng nhiều điểm đến đang phải đối mặt với nguy cơ thương mại hóa và suy giảm các giá trị văn hóa bản địa. Trong bối cảnh đó, du lịch sáng tạo dựa trên giá trị văn hóa bản địa được xem là một hướng tiếp cận mới, góp phần phát triển du lịch bền vững thông qua sự tham gia, học hỏi và đồng sáng tạo của khách du lịch. Xuất phát từ giữa những năm 1990, khi các nhóm nhà nghiên cứu và các thợ thủ công tìm cách tăng cường bán các sản phẩm thủ công cho khách du lịch. Năm 1997, dự án EUROTEX là sáng kiến hợp tác xuyên quốc gia nhằm kết nối nghề thủ công dệt may với du lịch sáng tạo tại châu Âu bao gồm các đối tác từ Hà Lan, Phần Lan, Hy Lạp và Bồ Đào Nha, với mục tiêu bảo tồn và phát triển các kỹ năng thủ công truyền thống thông qua du lịch. Sau đó đến năm 2000, 2005, 2011, Richards, G. tiếp tục phát triển các lý thuyết về loại hình du lịch này (Phan Minh Châu, 2025). Tiến trình phát triển du lịch sáng tạo đã được Đào Minh Ngọc (2024) đề cập với bốn giai đoạn chính. Giai đoạn trước 2000: tập trung vào sự tương tác giữa khách du lịch và văn hóa bản địa; nhấn mạnh học hỏi, trải nghiệm và hòa mình vào đời sống cộng đồng theo hướng bền vững, quy mô nhỏ. Giai đoạn từ 2000-2010: kết hợp du lịch với các ngành công nghiệp sáng tạo (giải trí, điện ảnh, trình diễn…); hình thành các sản phẩm và trải nghiệm mới dựa trên nội dung sáng tạo hiện đại. Giai đoạn từ 2010-2015: chuyển sang mô hình “đồng sáng tạo trải nghiệm”, có sự tham gia của nhiều bên liên quan; tích hợp văn hóa, công nghệ và sản xuất trải nghiệm. Giai đoạn từ 2018 đến nay: đẩy mạnh kết nối liên ngành và ứng dụng công nghệ, đặc biệt AI; tạo trải nghiệm tương tác, đa chiều, cá nhân hóa giữa khách du lịch và điểm đến. Richards (2020) nhấn mạnh sự cần thiết của việc gắn kết chân thực với các truyền thống và nghề thủ công địa phương để thúc đẩy sự giao lưu văn hóa sâu sắc hơn và tạo ra lợi ích lâu dài. Cách tiếp cận này được coi là cần thiết để phát triển các hoạt động du lịch bền vững và hướng đến cộng đồng. Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sáng tạo nhờ hệ thống tài nguyên du lịch phong phú, gắn với các giá trị văn hóa truyền thống, ẩm thực đặc sắc và cảnh quan thiên nhiên đa dạng (Lê Hoàng Anh, 2021). Một số nghiên cứu tiêu biểu về loại hình du lịch sáng tạo tại các làng nghề truyền thống có thể kể đến như: Phạm Thị Thảo (2018) đã đưa ra mô hình “du lịch trải nghiệm nghề truyền thống” dựa trên sự tham gia của nghệ nhân và cộng đồng. Dương Thị Thu Hằng (2019) đã phân tích vai trò của cộng đồng và giá trị văn hóa trong phát triển loại hình du lịch sáng tạo. Nguyễn Thị Hồng Vân (2020) ứng dụng khái niệm du lịch sáng tạo để phát triển các hoạt động trải nghiệm như khắc gỗ, chạm trổ.

Trong không gian văn hóa của thành phố Huế - nơi hội tụ nhiều giá trị di sản vật thể và phi vật thể, làng hoa giấy Thanh Tiên giữ một vị trí đặc biệt với nghề làm hoa giấy truyền thống có lịch sử lâu đời, gắn liền với đời sống tín ngưỡng và văn hóa lễ Tết của người dân địa phương. Những năm gần đây, làng Thanh Tiên đã bước đầu tổ chức hoạt động trải nghiệm làm hoa giấy cho khách du lịch. Tuy nhiên, các hoạt động này còn mang tính đơn giản và chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống dưới góc độ du lịch sáng tạo, đặc biệt từ quan điểm trải nghiệm của khách du lịch, nhằm làm rõ mức độ đáp ứng các đặc trưng của loại hình du lịch này cũng như tiềm năng phát triển trong bối cảnh địa phương.

Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích trải nghiệm làm hoa giấy của khách du lịch tại làng Thanh Tiên, qua đó đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sáng tạo thông qua hoạt động này. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc phát triển du lịch sáng tạo gắn với bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề truyền thống tại Huế và Việt Nam.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp định tính, kết hợp tổng hợp phân tích tài liệu thứ cấp và phỏng vấn sâu. Tài liệu thứ cấp bao gồm các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học và văn bản liên quan đến du lịch sáng tạo, trải nghiệm du lịch và phát triển du lịch làng nghề, cùng các tài liệu chính thức và nguồn thông tin liên quan đến bối cảnh địa phương làng hoa giấy Thanh Tiên. Để đảm bảo tính hệ thống và độ tin cậy của dữ liệu định tính, nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc với hai nhóm đối tượng: khách du lịch tham gia trải nghiệm làm hoa giấy (10 khách du lịch) và nghệ nhân địa phương trực tiếp tổ chức hoạt động (2 nghệ nhân). Nghiên cứu được thực hiện tại làng hoa giấy Thanh Tiên, xã Phú Mậu, thành phố Huế trong tháng 1/2026. Các cuộc phỏng vấn được tiến hành trực tiếp tại không gian làm nghề của nghệ nhân, kết hợp ghi âm và ghi chép thực địa, tập trung vào bốn nội dung: Mức độ tham gia của du khách, cơ hội học hỏi tri thức nghề, mức độ tương tác với cộng đồng địa phương và tính chân thực của trải nghiệm trong bối cảnh đời sống của người dân bản địa. Dữ liệu định tính thu thập từ phỏng vấn sâu được xử lý thông qua phương pháp phân tích nội dung theo chủ đề.

Quy trình mã hóa được thực hiện theo ba bước. Thứ nhất, mã hóa mở nhằm xác định các đơn vị ý nghĩa quan trọng xuất hiện trong dữ liệu. Thứ hai, mã hóa trục để nhóm các mã có nội dung tương đồng thành các chủ đề phản ánh bốn nội dung phân tích của nghiên cứu. Thứ ba, mã hóa chọn lọc nhằm tích hợp các chủ đề thành hệ thống khái niệm phản ánh các biểu hiện của du lịch sáng tạo trong thực tiễn. Bảng mã hóa được xây dựng dựa trên khung phân tích nhưng cho phép bổ sung các mã mới phát sinh từ dữ liệu thực địa nhằm đảm bảo tính linh hoạt và độ phù hợp với bối cảnh nghiên cứu. Kết quả phân tích làm rõ các biểu hiện của du lịch sáng tạo trong thực tiễn, đồng thời đối chiếu kết quả nghiên cứu với các luận điểm lý thuyết đã được đề cập trong phần cơ sở lý luận.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả

Khái quát về làng nghề làm hoa giấy Thanh Tiên

Làng nghề hoa giấy Thanh Tiên (xã Phú Mậu, thành phố Huế) hình thành từ khoảng thế kỷ XVII-XVIII, được công nhận là làng nghề truyền thống vào năm 2013, cách trung tâm thành phố 7km. Theo tư liệu ghi lại: làng hoa giấy Thanh Tiên ra đời gần 400 năm thời các chúa Nguyễn. Sau khi Vua Gia Long thu giang sơn về một mối, nhân lễ Thượng tuần, nhà vua ban chiếu đề nghị mỗi một trấn đem về kinh thành một loài hoa quý. Trong triều đình có một vị quan người làng Thanh Tiên làm ở Bộ Lễ chức Tả Hữu Đồng Nghị, dâng lên nhà vua một loài hoa ngũ sắc với đầy ý nghĩa Tam cương - Ngũ thường: “Ba cành hoa ở giữa tượng trưng cho Trung - Hiếu - Nghĩa. Trong đó luôn có một chiếc hoa màu vàng hoặc đỏ được làm to nhất tượng trưng cho đấng minh quân, còn 5 bông hoa hai bên tượng trưng cho Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín”. Khi nghe trình bày ý nghĩa, vua ban chiếu khuyến khích làng Thanh Tiên làm hoa giấy để bày biện, bán lên kinh đô và phổ biến nghề cho mọi người (Hồng Thọ, 2024). Hoạt động sản xuất hoa giấy tại địa phương hình thành và phát triển gắn với nhu cầu thờ cúng, tín ngưỡng và đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân. Các sản phẩm đặc trưng, đặc biệt là hoa giấy và hoa sen giấy, được chế tác hoàn toàn thủ công, phản ánh tri thức nghề truyền thống và những giá trị văn hóa. Hiện nay, làng có khoảng trên dưới 20 hộ tham gia sản xuất hoa giấy, trong đó chỉ có ít hộ sản xuất quanh năm, còn lại là chủ yếu hoạt động vào mùa Tết (Bảo Khánh, 2021). Mặc dù quy mô nhỏ, làng hoa giấy Thanh Tiên giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn di sản nghề thủ công truyền thống và được xem là tài nguyên du lịch văn hóa đặc thù của Huế.

 Phát triển du lịch sáng tạo tại làng Thanh Tiên, thành phố Huế

Trong bối cảnh du lịch sáng tạo, tri thức và kỹ năng làm hoa giấy của nghệ nhân địa phương được xem là tài nguyên sáng tạo cốt lõi, có khả năng chuyển hóa thành các trải nghiệm du lịch mang tính tham gia và đồng sáng tạo. Một số hộ gia đình tại làng Thanh Tiên đã tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho khách du lịch như hướng dẫn làm hoa giấy, giới thiệu ý nghĩa văn hóa của sản phẩm và cho phép khách du lịch tự tay hoàn thiện sản phẩm mang về. Đây là hình thức trải nghiệm phù hợp với bản chất của du lịch sáng tạo, nhấn mạnh quá trình học hỏi, tương tác và kết nối với văn hóa sống của cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch sáng tạo tại Thanh Tiên đang chịu sự chi phối mạnh mẽ của yếu tố nguồn nhân lực. Số lượng hộ duy trì nghề hiện nay chỉ còn khoảng 20 hộ còn làm hoa giấy thường xuyên và một số ít hộ đủ điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm. Đối với du lịch sáng tạo, yêu cầu về nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở kỹ năng nghề thủ công mà còn bao gồm năng lực hướng dẫn trải nghiệm, giao tiếp với du khách, kể chuyện văn hóa và tổ chức hoạt động học tập mang tính tương tác. Cơ sở hạ tầng đóng vai trò then chốt trong việc chuyển hóa làng nghề truyền thống thành điểm đến du lịch sáng tạo. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch sáng tạo tại làng Thanh Tiên hiện nay chủ yếu là không gian sản xuất và sinh hoạt của các hộ làm nghề. Một số chương trình trải nghiệm đã được tổ chức dưới hình thức workshop làm hoa giấy với thời lượng ngắn, có hướng dẫn trực tiếp, cung cấp nguyên vật liệu và cho phép du khách mang sản phẩm hoàn thiện về làm kỷ niệm. Cùng với đó, các chính sách phát triển du lịch cộng đồng của thành phố Huế tạo ra khung thể chế thuận lợi cho việc lồng ghép bảo tồn làng nghề với phát triển du lịch, hướng đến mục tiêu khai thác giá trị văn hóa một cách bền vững (Ủy ban Nhân dân thành phố Huế, 2025).

Đánh giá phát triển du lịch sáng tạo thông qua trải nghiệm làm hoa giấy của khách du lịch

Sự tham gia chủ động của khách du lịch vào các hoạt động trải nghiệm

Kết quả phỏng vấn cho thấy, phần lớn khách du lịch được phỏng vấn đều trực tiếp tham gia vào các công đoạn chính của quy trình làm hoa giấy, từ lựa chọn màu giấy, cắt và gấp cánh, làm nhụy, ghép cánh đến hoàn thiện sản phẩm: “Mình được làm gần như toàn bộ các bước, sai thì làm lại, có nhưng công đoạn cần kỹ thuật cao thì cô, chú sẽ hướng dẫn kỹ lại chứ không làm hộ mình” (Người phỏng vấn 1, 2026). Nhiều khách du lịch quan sát nghệ nhân làm mẫu ở giai đoạn đầu, sau đó nhanh chóng chuyển sang tự thực hành và hoàn thiện sản phẩm: “Ban đầu mình quan sát trước và sau đó làm theo hướng dẫn cũng sợ vì bị hư, vì giấy mỏng nhưng làm vài cánh lại quen rồi thì làm sẽ nhanh hơn” (Người phỏng vấn 2, 2026). Điều này cho thấy trong hoạt động này, vai trò khách du lịch được chuyển dịch từ người xem thụ động sang người chủ động tham gia. Khách du lịch cảm thấy hài lòng được lựa chọn màu sắc, cách phối và hình thức sản phẩm, đồng thời vẫn được nghệ nhân định hướng về giá trị truyền thống: “Nhà mình chọn tông màu khác nhau: vợ tông pastel, mình chọn đỏ vàng theo mẫu. Cô hướng dẫn không ép theo một mẫu, chỉ nhắc nếu muốn đúng kiểu hoa thờ, cúng thì nên chọn phối màu nhất định theo màu truyền thống” (Người phỏng vấn 3, 2026). Từ các ý kiến phỏng vấn trên, có thể nhận định rằng trải nghiệm làm hoa giấy tại làng Thanh Tiên tạo điều kiện cho khách du lịch tham gia một cách chủ động, trực tiếp. Mức độ tham gia của du khách không dừng lại ở quan sát, mà mở rộng sang thực hành, tương tác và đồng sáng tạo cùng nghệ nhân nâng cao vai trò của khách du lịch như một chủ thể sáng tạo.

hội học hỏi và tiếp cận tri thức nghề truyền thống

Thông qua việc trực tiếp tham gia thực hành và tương tác với nghệ nhân khách du lịch có điều kiện hiểu rõ hơn cả kỹ thuật nghề lẫn ý nghĩa văn hóa - tín ngưỡng gắn với hoạt động làm hoa giấy địa phương. Phần lớn người được hỏi cho biết họ học được nhiều kiến thức mới liên quan đến nghề làm hoa giấy: “Tôi biết thêm là hoa giấy này gắn với lễ Tết, cúng bái của người Huế, trước đó tôi cứ nghĩ hoa giấy để trang trí, chụp ảnh” (Người phỏng vấn 4, 2026); “Tôi học được là làm hoa giấy này không chỉ để trang trí mà gắn với đời sống tâm linh, đặc biệt là Tết và các dịp cúng. Cái mới với tôi là: cùng là hoa giấy, nhưng ở đây nó không phải đồ thủ công cho đẹp, mà là một phần của nghi lễ và ký ức làng” (Người phỏng vấn 5, 2026). Hầu hết khách du lịch được hướng dẫn cụ thể, trực tiếp và mang tính thực hành trong suốt quá trình trải nghiệm: “Cô chú hướng dẫn khá chi tiết, vừa hướng dẫn vừa kể chuyện, không giống kiểu dạy học nên cảm giác thoải mái không bị áp lực sợ làm sai” (Người phỏng vấn 6, 2026); “Cô làm mẫu sau đó giải thích đến lượt mình làm sai thì cô sửa. Mình nhớ cô chỉ hai điểm rất cụ thể là khi miết cánh thì không miết mạnh quá vì giấy sẽ rách hoặc gãy nếp nhìn cứng. Khi chấm keo thì chỉ chấm một chút ở chân cánh, không bôi đầy, vì bôi đầy sẽ lộ keo và làm cánh nặng” (Người phỏng vấn 7, 2026). Việc trực tiếp thực hành khiến khách du lịch nhận thức rõ những khó khăn, yêu cầu kỹ thuật và giá trị lao động ẩn sau mỗi sản phẩm thủ công: “Nhìn bên ngoài thì thấy đơn giản nhưng bắt tay làm rồi mới thấy, muốn làm được một bông hoa đẹp phải đòi hỏi tay nghề cao, tính kiên nhẫn và phải khéo léo” (Người phỏng vấn 8, 2026). Có thể thấy, qua quá trình hướng dẫn mang tính thực hành giúp nâng cao nhận thức của khách du lịch về giá trị lao động và sự tinh xảo của nghề làm hoa giấy. Trải nghiệm không chỉ mang tính giải trí mà còn có giá trị giáo dục văn hóa, đồng thời khơi gợi nhu cầu tìm hiểu và thực hành tiếp, cho thấy tiềm năng lan tỏa và duy trì tri thức nghề thông qua du lịch sáng tạo.

Mức độ tương tác giữa khách du lịch với cộng đồng địa phương và nghệ nhân

Mức độ tương tác giữa khách du lịch với cộng đồng địa phương và nghệ nhân tương đối cao. Sự tương tác này không chỉ diễn ra ở mức độ giao tiếp đơn thuần mà còn trao đổi, chia sẻ và đồng hành trong quá trình tạo ra sản phẩm. Phần lớn khách du lịch cho biết họ có trao đổi và trò chuyện trực tiếp với nghệ nhân trong suốt quá trình trải nghiệm. Nội dung trao đổi không chỉ xoay quanh kỹ thuật làm hoa giấy, mà còn mở rộng sang các câu chuyện về nghề, đời sống thường ngày của người dân địa phương: “Mình hỏi bây giờ khách du lịch đến có nhiều không? Ngày thường cô làm bao nhiêu bông? Cô trả lời: Thời điểm đông khách nhất là sắp đến Tết hoặc những dịp lễ hội, có thể làm được khoảng 20 bông một ngày, nhưng còn tùy” (Người phỏng vấn 9, 2026); “Mình hỏi về thu nhập, thị trường tiêu thụ chủ yếu và các con hay họ hàng nhà cô có theo nghề không. Cô trả lời: thu nhập thì cũng không nhiều, khó khăn vì chỉ tập trung vào mùa Tết, các con có đứa đi học xa nhưng vẫn cố giữ nghề, để sống được thì phải linh hoạt, có bán thêm sản phẩm cho khách” (Người phỏng vấn 10, 2026). Điều này cho thấy sự tương tác mang tính hai chiều, tạo điều kiện để du khách tiếp cận bối cảnh xã hội và văn hóa của làng nghề. Khi được hỏi về mối quan hệ giữa bản thân và nghệ nhân, đa số người được hỏi cho rằng mối quan hệ này không mang tính người phục vụ - khách, mà thiên về cùng nhau làm và chia sẻ. Việc nghệ nhân ngồi làm cùng giúp họ có cảm giác đang cùng nhau hoàn thiện sản phẩm chứ không phải được phục vụ. Họ đều đánh giá cao sự thân thiện, cởi mở và chân chất của nghệ nhân và người dân địa phương.

Tính chân thực của trải nghiệm trong bối cảnh văn hóa làng nghề

Phần lớn khách du lịch cho biết trải nghiệm làm hoa giấy diễn ra tại nhà dân hoặc không gian làm nghề thực tế của nghệ nhân, nơi họ vẫn sản xuất hoa giấy trong đời sống thường ngày: “Đồ đạc cô chú sắp xếp gọn gàng, đồ nghề và giấy để quanh nhà, một số nguyên liệu chuẩn bị sẵn để tiết kiệm thời gian” (Người phỏng vấn 3, 2026); “Sản phẩm họ bày quanh nhà và cách họ hướng dẫn cho khách để làm ra một sản phẩm cũng giống như sản phẩm họ bán nên không giống như họ đang diễn mà làm thật” (Người phỏng vấn 4, 2026). Chia sẻ của nghệ nhân cho rằng quy trình làm hoa trong trải nghiệm về cơ bản không khác với cách làm hoa trong đời sống thường ngày, chỉ thay đổi tốc độ và cách hướng dẫn để du khách theo kịp: “Về cơ bản là giống, từ cách cắt cánh, gấp cánh, làm nhụy đến ghép hoa đều là cách cô vẫn làm hằng ngày. Chỉ khác là ngày thường cô làm nhanh hơn, còn khi có khách thì làm chậm lại để vừa làm vừa giải thích cho khách hiểu” (Nghệ nhân 1, 2026); “Có vài bước điều chỉnh cho khách dễ làm, ví dụ như chuẩn bị sẵn giấy đã cắt kích thước, hoặc chọn mẫu hoa đơn giản hơn. Nhưng cách làm thì vẫn là nghề thật, không phải làm khác đi hay làm giả cho khách xem” (Nghệ nhân 2, 2026). Có thể nhận định rằng trải nghiệm làm hoa giấy tại làng Thanh Tiên duy trì được tính chân thực tương đối cao thông qua ba yếu tố chính: không gian và quy trình làm nghề gắn với đời sống thường ngày của nghệ nhân, sự điều chỉnh hợp lý nhằm hỗ trợ khách du lịch tham gia mà không làm biến dạng nghề truyền thống và cảm nhận rõ ràng của khách du lịch về việc được tham gia vào một hoạt động làm sản phẩm thủ công.

3.2. Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy trải nghiệm làm hoa giấy tại làng Thanh Tiên có tiềm năng phát theo hướng du lịch sáng tạo, thể hiện qua sự tham gia chủ động của khách du lịch, cơ hội học hỏi tri thức nghề truyền thống, mức độ tương tác giữa khách du lịch, nghệ nhân và tính chân thực của trải nghiệm trong bối cảnh văn hóa làng nghề.

Trước hết, nghiên cứu làm rõ vai trò chủ động của khách du lịch trong trải nghiệm. Khách du lịch trực tiếp tham gia vào hầu hết các công đoạn làm hoa giấy, từ quan sát thụ động chuyển sang chủ thể tham gia hoạt động sáng tạo. Kết quả này phù hợp với cách tiếp cận của du lịch sáng tạo nhấn mạnh học thông qua trải nghiệm và sáng tạo thông qua tham gia. Bên cạnh đó, trải nghiệm làm hoa giấy tạo ra cơ hội tiếp cận tri thức nghề truyền thống một cách hiệu quả. Thông qua hướng dẫn trực tiếp của nghệ nhân và quá trình thực hành, khách du lịch không chỉ hiểu rõ kỹ thuật làm nghề mà còn nhận biết về ý nghĩa văn hóa tín ngưỡng của hoa giấy trong đời sống người Huế. Một kết quả quan trọng khác là mức độ tương tác hai chiều giữa khách du lịch và nghệ nhân. Mối quan hệ chủ yếu được hình thành theo hướng truyền tải tri thức, cùng nhau làm và chia sẻ. Cách thức tương tác này góp phần nâng cao vai trò chủ thể của nghệ nhân, tăng cường gắn kết xã hội và tạo chiều sâu cảm xúc cho trải nghiệm du lịch. Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy tính chân thực của trải nghiệm được duy trì ở mức tương đối cao trong bối cảnh văn hóa làng nghề. Hoạt động trải nghiệm diễn ra trong không gian sinh hoạt thực tế của các hộ làm nghề, với quy trình và kỹ thuật truyền thống được bảo tồn, các điều chỉnh chỉ mang tính hỗ trợ để khách du lịch có thể tham gia. Trong đó, yếu tố du lịch đóng vai trò kết nối chứ không thay thế cách làm nghề truyền thống.

Tổng hợp các kết quả trên cho thấy trải nghiệm làm hoa giấy tại làng Thanh Tiên đã đáp ứng tốt các khía cạnh của du lịch sáng tạo, đặc biệt ở các khía cạnh tham gia - học hỏi - tương tác - chân thực. Đây là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch sáng tạo gắn với bảo tồn làng nghề truyền thống tại Huế, hướng tới giá trị văn hóa bền vững.

Một số hàm ý chính sách nhằm phát triển du lịch sáng tạo thông qua trải nghiệm làm hoa giấy tại địa bàn nghiên cứu

Hàm ý về phát triển và hỗ trợ nhân lực sáng tạo tại làng nghề

Nghệ nhân và cộng đồng địa phương giữ vai trò người dẫn dắt, truyền tải tri thức và tạo điều kiện để khách du lịch tham gia vào các hoạt động trải nghiệm văn hóa truyền thống. Do đó, chính sách phát triển cần tập trung hỗ trợ và nâng cao năng lực cho người dân địa phương không chỉ về kỹ năng nghề truyền thống mà còn về kỹ năng hướng dẫn, giao tiếp với khách du lịch truyền tải câu chuyện văn hóa, học tập ngoại ngữ để giao tiếp với khách nước ngoài. Các chương trình đào tạo ngắn hạn, tập huấn tại chỗ hoặc hỗ trợ học hỏi từ các mô hình du lịch sáng tạo tương tự là cần thiết để giúp cộng đồng địa phương tham gia làm du lịch một cách chủ động và hiệu quả hơn.

 Hàm ý về thiết kế và chuẩn hóa sản phẩm trải nghiệm du lịch sáng tạo

Từ mong muốn của khách du lịch, trải nghiệm làm hoa giấy cần được thiết kế và chuẩn hóa theo hướng rõ ràng, linh hoạt và có chiều sâu. Thiết kế và xây dựng các gói trải nghiệm với thời lượng và mức độ tham gia khác nhau, kết hợp hài hòa giữa thực hành làm hoa, nghe kể chuyện nghề và quan sát nghệ nhân làm mẫu. Việc chuẩn hóa này không nhằm đồng nhất hóa trải nghiệm, mà để đảm bảo chất lượng cơ bản và giúp khách du lịch dễ tiếp cận, đồng thời vẫn giữ không gian cho sự sáng tạo cá nhân.

Hàm ý về bảo tồn giá trị nghề truyền thống trong phát triển du lịch sáng tạo

Phát triển du lịch sáng tạo thông qua trải nghiệm làm hoa giấy tại làng Thanh Tiên cần gắn chặt với việc bảo tồn các giá trị cốt lõi của nghề truyền thống, bao gồm cách làm nghề, tri thức nghề và ý nghĩa văn hóa gắn với sản phẩm hoa giấy. Theo đó, trải nghiệm cần được tổ chức trong không gian làm nghề thực tế, dựa trên quy trình và kỹ thuật truyền thống, tránh biến nghề làm hoa giấy thành hoạt động trình diễn hoặc sản xuất theo khuôn mẫu phục vụ du lịch. Việc kiểm soát quy mô và hình thức tổ chức trải nghiệm là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính chân thực và duy trì giá trị nghề trong quá trình phát triển du lịch sáng tạo.

Hàm ý về liên kết hợp tác giữa các bên liên quan

Để trải nghiệm làm hoa giấy phát triển thành sản phẩm du lịch sáng tạo lâu dài, cần tăng cường liên kết giữa cộng đồng địa phương, chính quyền và doanh nghiệp du lịch. Trong đó, cộng đồng địa phương giữ vai trò chủ thể cung cấp không gian, tri thức nghề và trực tiếp tổ chức trải nghiệm; chính quyền địa phương đóng vai trò điều phối và tạo điều kiện thông qua hỗ trợ hạ tầng, thông tin và cơ chế tổ chức phù hợp; doanh nghiệp du lịch đảm nhiệm vai trò kết nối thị trường, truyền thông và đưa trải nghiệm vào các chương trình du lịch. Sự phân công vai trò rõ ràng và phối hợp hiệu quả giữa ba bên sẽ góp phần giảm tính tự phát trong tổ chức hoạt động trải nghiệm, nâng cao tính ổn định và chất lượng sản phẩm, đồng thời tạo điều kiện để cộng đồng làng nghề tham gia phát triển du lịch sáng tạo một cách chủ động và bền vững.

4. Kết luận

Bài viết đánh giá trải nghiệm làm hoa giấy Thanh Tiên qua khung phân tích du lịch sáng tạo (sự tham gia, học hỏi, tương tác và tính chân thực). Dựa trên dữ liệu phỏng vấn sâu, nghiên cứu khẳng định mô hình này có tiềm năng phát triển mạnh mẽ nhờ các yếu tố: chủ thể sáng tạo (du khách chuyển từ quan sát thụ động sang đồng sáng tạo sản phẩm), giá trị văn hóa (giúp du khách tiếp cận sâu sắc tri thức nghề và đời sống tín ngưỡng xứ Huế), sự kết nối (tạo tương tác hai chiều giàu cảm xúc giữa du khách và nghệ nhân trong không gian làng nghề chân thực).

Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm chính sách nhằm phát triển sản phẩm du lịch đặc thù, hài hòa giữa kinh tế và bảo tồn. Tuy nhiên, do giới hạn về quy mô mẫu định tính, kết quả chưa có tính khái quát cao. Đồng thời, nghiên cứu tập trung đánh giá trải nghiệm và tiềm năng phát triển, chưa phân tích sâu các tác động như mức độ sẵn sàng chi trả, sự hài lòng và ý định quay lại của khách du lịch, vai trò của du lịch sáng tạo đối với bảo tồn và truyền nghề trong cộng đồng. Đây có thể là những hướng nghiên cứu trong tương lai.

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Blapp, M., & Mitas, O. (2019). The role of authenticity in rural creative tourism (Vai trò của tính xác thực trong du lịch sáng tạo nông thôn). In N. Duxbury & G. Richards (Eds.), A research agenda for creative tourism. Edward Elgar Publishing.

2. Bảo Khánh. (2021). Rực rỡ sắc hoa giấy Thanh Tiên xứ Huế. Báo VietNamNet. https://infonet.vietnamnet.vn/ruc-ro-sac-hoa-giay-thanh-tien-xu-hue-276539.html

3. Bùi Thị Quỳnh Trang. (2020). Nghiên cứu tác động của trải nghiệm khách hàng đến lòng trung thành tại các khách sạn ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Thương mại. (140).

4. Đào Minh Ngọc. (2024). Du lịch sáng tạo: Từ góc độ lý thuyết về đặc điểm loại hình và sản phẩm. In Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia: Phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam - Từ lý thuyết đến thực tiễn.

5. Đoàn Mạnh Cương. (2024). Hà Nội phát triển thành phố sáng tạo thành sản phẩm du lịch sáng tạo. Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. https://bvhttdl.gov.vn/news-20240308103509448.htm

6. Dương Thị Thu Hằng. (2019). Vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch sáng tạo tại làng nghề truyền thống. Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa.

7. Galvagno, M., & Dalli, D. (2014). Theory of value co-creation: A systematic literature review (Lý thuyết về đồng sáng tạo giá trị: Tổng quan tài liệu có hệ thống). Managing Service Quality. 24(6). https://doi.org/10.1108/MSQ-09-2013-0187

8. Hồng Thọ. (2024). Ghé thăm làng hoa giấy Thanh Tiên với dòng chảy lịch sử hơn 400 năm. https://dulich vietnam.com.vn/lang-hoa-giay-thanh-tien-hue.html

9. Lê Hoàng Anh. (2021). Du lịch sáng tạo: Những vấn đề đặt ra. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch. https://itdr.org.vn/nghien_cuu/du-lich-sang-tao-nhung-van-de-dat-ra/

10. Nguyễn Hoàng Mai. (2017). Du lịch sáng tạo: Cơ hội cho du lịch Việt Nam. In Kỷ yếu Hội thảo Du lịch sáng tạo - Cơ hội cho du lịch Việt Nam. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Tổng cục Du lịch.

11. Nguyễn Thị Hồng Vân. (2020). Khai thác giá trị làng mộc Kim Bồng trong phát triển du lịch sáng tạo. Tạp chí Du lịch. (6).

12. Phạm Thị Thảo. (2018). Phát triển sản phẩm du lịch sáng tạo tại làng tranh dân gian Đông Hồ. Tạp chí Khoa học Văn hóa và Du lịch. (5).

13. Phan Minh Châu. (2025). Nghiên cứu phát triển du lịch sáng tạo tại làng nghề truyền thống ở Ninh Thuận. Luận án tiến sĩ Du lịch, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

14. Richards, G. (2011). Creativity and tourism: The state of the art (Sáng tạo và du lịch: Hiện trạng của ngành). Annals of Tourism Research. 38(4). https://doi.org/10.1016/j.annals.2011.07.008

15. Richards, G. (2015). Recipes for sustainable creative tourism (Công thức cho du lịch sáng tạo bền vững). In Proceedings of the Third Business Management International Conference. Thailand.

16. Richards, Greg. (2020). Designing creative places: The Role of creative tourism (Thiết kế những không gian sáng tạo: Vai trò của du lịch sáng tạo). Annals of Tourism Research85: 102922. https://doi.org/10.1016/j.annals.2020.102922

17. Tan, S. K., Kung, F. S., & Luh, D. B. (2013). A model of creative experience in creative tourism (Mô hình trải nghiệm sáng tạo trong du lịch sáng tạo). Annals of Tourism Research. (41). https://doi.org/10.1016/j.annals.2012.12.002

18. Ủy ban Nhân dân thành phố Huế. (2025). Kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng thành phố Huế giai đoạn 2025-2030 (Kế hoạch số 157/KH-ploads/VBPL/Nam2025/T4/00.00.H57-157-KH-UBND-2025-PL1_signed.pdf

Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/2/2026; Ngày duyệt bài: 28/2/2026.

Ths PHÙNG THỊ NGÂN  - PGS, TS LÊ ANH TUẤN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026