Sản phẩm và DVTLTM
Sản phẩm và DVTLTM trong TVĐH đã phát triển từ hoạt động tra cứu trích dẫn sang hỗ trợ nghiên cứu đa dạng, bao gồm đào tạo, tư vấn, báo cáo phân tích, hồ sơ tác động nghiên cứu, công cụ trực quan hóa dữ liệu TLTM (dashboard) và các sản phẩm phục vụ quản trị chiến lược. DVTLTM không chỉ cung cấp số liệu mà còn chuyển hóa dữ liệu công bố và trích dẫn thành sản phẩm thông tin có giá trị sử dụng cho giảng viên/ nhà nghiên cứu, khoa/ bộ môn và quản lý trường đại học.
Ở giai đoạn đầu, DVTLTM thường được triển khai thông qua các sản phẩm, dịch vụ có tính hướng dẫn dưới hình thức hội thảo, cẩm nang thư viện trực tuyến, tư vấn, dễ tiếp cận và gắn trực tiếp với nhu cầu giảng viên/ nhà nghiên cứu. Các dịch vụ thường gắn với nhu cầu xét bổ nhiệm, biên chế, phó giáo sư/ giáo sư hoặc hoàn thiện hồ sơ học thuật (Bladek, 2014; Hendrix, 2010). Thư viện có thể cung cấp các dịch vụ đào tạo và tư vấn TLTM cho giảng viên/ nhà nghiên cứu, đặc biệt trong bối cảnh các quy trình tuyển dụng và thăng tiến ngày càng yêu cầu minh chứng về tác động nghiên cứu. Các sản phẩm ở nhóm này thường bao gồm hướng dẫn sử dụng chỉ số trích dẫn, phân tích h-index, đếm trích dẫn, Journal Impact Factor và tư vấn cách trình bày các chỉ số trong hồ sơ học thuật (Hendrix, 2010).
Khi dịch vụ phát triển, các thư viện có thể cung cấp các sản phẩm như báo cáo trích dẫn, hồ sơ nghiên cứu đa chiều, công cụ trực quan hóa dữ liệu và báo cáo tác động nghiên cứu (Gorraiz, Wieland, & Gumpenberger, 2016; Tavernier & Jamieson, 2022). Trường hợp Đại học Viên cho thấy thư viện có thể xây dựng một danh mục sản phẩm và dịch vụ bao gồm đào tạo, tư vấn, phân tích chuyên gia, tổ chức sự kiện, hợp tác phát triển với nhà cung cấp và sản phẩm khoa học. Mô hình này vượt ra ngoài phạm vi hỗ trợ cá nhân để hình thành một hệ sinh thái DVTLTM chuyên nghiệp, trong đó thư viện vừa là đơn vị cung cấp dịch vụ, vừa là tác nhân tham gia nghiên cứu và phát triển phương pháp trong lĩnh vực trắc lượng khoa học (scientometrics). Hơn nữa, Đại học Viên tiếp tục phát triển mô hình đánh giá TLTM dựa trên phỏng vấn, báo cáo cá nhân hóa, xác thực kết quả và xây dựng hồ sơ nghiên cứu đa chiều. Sản phẩm của mô hình này không chỉ là báo cáo trích dẫn, mà là hồ sơ TLTM đa chiều, phản ánh năng suất, tác động, hợp tác và trọng tâm nghiên cứu của từng nhà khoa học (Gumpenberger et al., 2012).
Ở hướng tiếp cận đánh giá nghiên cứu, TVĐH có thể tạo ra các sản phẩm như dashboard tác động nghiên cứu, báo cáo tác động và bằng chứng phục vụ hợp tác nghiên cứu, hồ sơ vị trí giảng viên/ nhà nghiên cứu, phó giáo sư/ giáo sư và phát triển bộ sưu tập. Nghiên cứu này mở rộng khái niệm DVTLTM từ đo lường trích dẫn sang hỗ trợ nhà nghiên cứu minh chứng năng suất và hiệu suất nghiên cứu thông qua các bằng chứng định lượng và trực quan hóa dữ liệu. Như vậy, sản phẩm TLTM không chỉ phục vụ đánh giá mà còn hỗ trợ truyền thông học thuật, nhận diện mạng lưới ảnh hưởng và phát triển chiến lược nghiên cứu (Tavernier & Jamieson, 2022).
Các TVĐH đã phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ có tính thể chế hóa như trong bối cảnh của Trung Quốc. Các sản phẩm này phản ánh sự chuyển dịch từ dịch vụ tham khảo đơn lẻ sang dịch vụ đánh giá nghiên cứu có tính sản phẩm hóa, phục vụ trực tiếp cho quản trị ngành, hoạch định chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh của trường đại học (Ye, 2019).
Điều này cho thấy DVTLTM không chỉ cung cấp số liệu mà còn giúp diễn giải và truyền thông tác động nghiên cứu. Các sản phẩm có thể được phân thành bốn nhóm: Đào tạo, tư vấn cá nhân, phân tích cấp tổ chức và dashboard trực quan hóa. Sự phân tầng này cho thấy dịch vụ cần được thiết kế theo từng nhóm người dùng. Với các TVĐH Việt Nam, các sản phẩm và DVTLTM cần triển khai theo lộ trình và chuẩn hóa sản phẩm đầu ra, đồng thời chuyển từ “cung cấp số liệu” sang “diễn giải dữ liệu” nhằm nâng cao giá trị sử dụng của dịch vụ.
Nguồn dữ liệu và công cụ TLTM
Nguồn dữ liệu và công cụ TLTM là nền tảng kỹ thuật quan trọng quyết định chất lượng của DVTLTM trong TVĐH. Yếu tố này hay cơ sở dữ liệu trích dẫn như Web of Science, Scopus và Google Scholar đóng vai trò nền tảng, trong khi các công cụ nâng cao như InCites và SciVal hỗ trợ phân tích chiến lược. Đồng thời, chúng thực hiện phân tích trích dẫn, xác định h-index, kiểm tra hồ sơ tác giả và so sánh sự khác biệt giữa các nguồn dữ liệu. Tuy nhiên, việc sử dụng cần đi kèm kỹ năng phân biệt tác giả và quản lý định danh như ORCID, bởi dữ liệu trích dẫn rất dễ bị sai lệch do trùng tên tác giả, biến thể tên hoặc khác biệt về trường đại học (Powell & Elder, 2019).
Đồng thời, các hệ thống định danh như ORCID và các nền tảng hồ sơ nghiên cứu giúp cải thiện chất lượng dữ liệu. Ngoài các CSDL trích dẫn, nguồn dữ liệu và công cụ dành cho nhà nghiên cứu còn được phân loại thành định danh tác giả (ORCID, ResearcherID, Google Scholar Profiles), mạng xã hội học thuật và quản lý tài liệu tham khảo không chỉ hỗ trợ quản lý hồ sơ nghiên cứu mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng hiển thị học thuật và thu thập dữ liệu. Điều này cho thấy nguồn dữ liệu của DVTLTM đang mở rộng từ CSDL trích dẫn truyền thống sang các hệ thống định danh, hồ sơ tác giả, nền tảng mạng học thuật và công cụ quản lý trích dẫn. Tương tự, tại Đại học Viên, việc phân tích TLTM cần dựa trên nhiều nguồn dữ liệu TLTM và các CSDL chuyên ngành để cải thiện độ bao phủ và diễn giải chỉ số trong ngữ cảnh theo ngành (Gorraiz, Wieland, & Gumpenberger, 2016).
Các TVĐH sử dụng Web of Science, Scopus, ESI, InCites, kho tài nguyên nội sinh số - IR và các hệ thống dữ liệu nội bộ để cung cấp dịch vụ đánh giá nghiên cứu (Ye, 2019). Đồng thời, dưới góc độ cấp độ trong mô hình dịch vụ, việc lựa chọn nguồn dữ liệu và công cụ không nên tách rời khỏi phạm vi dịch vụ, năng lực chuyên môn và cấu trúc quản trị. Một thư viện mới triển khai dịch vụ có thể bắt đầu với các công cụ như Google Scholar, Scopus, Web of Science hoặc VOSviewer; trong khi các đơn vị phân tích cấp trường cần các công cụ nâng cao hơn như SciVal, InCites, API hoặc dashboard. Như vậy, dữ liệu và công cụ phải được lựa chọn theo mô hình dịch vụ và mục tiêu sử dụng (Bredahl, 2022b).
Nhìn chung, xu hướng sử dụng các CSDL trích dẫn và DVTLTM không thể chỉ dựa vào một CSDL hoặc một công cụ duy nhất, mà cần kết hợp nhiều nguồn dữ liệu khác nhau nhằm tăng độ bao phủ, giảm sai lệch và bảo đảm tính phù hợp theo từng lĩnh vực nghiên cứu. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu nghiên cứu về chiến lược lựa chọn và kết hợp nguồn dữ liệu trong bối cảnh hạn chế về tài chính, nhân lực và độ bao phủ dữ liệu. Đặc biệt, đối với các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, cũng như các công bố bằng tiếng Việt. Vì vậy, các TVĐH Việt Nam cần xây dựng chiến lược dữ liệu theo hướng đa nguồn, không phụ thuộc hoàn toàn vào CSDL quốc tế, đồng thời phát triển IR theo hướng tích hợp CRIS để hỗ trợ phân tích nghiên cứu trong dài hạn.
Năng lực nhân sự
Năng lực nhân sự thực hiện DVTLTM giữ vai trò quyết định đối với khả năng triển khai và duy trì DVTLTM trong TVĐH. Nhân sự TLTM không chỉ là người xử lý dữ liệu mà còn phải là người trung gian giữa dữ liệu, nhà nghiên cứu và quản lý trường (Corrall, Kennan & Afzal, 2013; Haddow & Mamtora, 2017).
Dưới góc độ đào tạo nghề nghiệp, các dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu, trong đó có DVTLTM và quản lý dữ liệu nghiên cứu, đang đặt ra yêu cầu mới trong cả thực tiễn hoạt động thư viện và chương trình đào tạo ngành Thư viện - Thông tin. Các nghiên cứu chỉ ra rằng đào tạo và phát triển năng lực là một thách thức lớn. Các chương trình đào tạo LIS truyền thống chưa chuẩn bị đầy đủ cho người làm thư viện trước các nhiệm vụ mới như: phân tích tác động nghiên cứu, tư vấn chỉ số, quản lý dữ liệu nghiên cứu hoặc hỗ trợ đánh giá khoa học (Kennan, Corrall, Afzal, 2014). Điều này cho thấy sự phát triển của DVTLTM không chỉ là vấn đề bồi dưỡng ngắn hạn trong thư viện, mà còn liên quan đến việc đổi mới chương trình đào tạo nhân lực thông tin - thư viện.
Một cách tiếp cận thực tiễn hơn là mô hình đào tạo nội bộ và học tập đồng nghiệp (Powell & Elder, 2019). Trong đó đào tạo nội bộ theo hình thức học tập đồng nghiệp và thực hành trực tiếp như buổi hội thảo/ thảo luận chuyên đề TLTM dành cho thủ thư chuyên ngành có thể nâng cao năng lực của họ trong việc cung cấp DVTLTM. Thủ thư chuyên ngành thường là nhóm tiếp xúc trực tiếp với giảng viên và nghiên cứu sinh, đồng thời là nhân sự tiếp nhận các yêu cầu liên quan đến hồ sơ trích dẫn, lựa chọn tạp chí, h-index hoặc hồ sơ học thuật cá nhân. Bổ sung cho hướng tiếp cận trên, cần xây dựng khung năng lực rõ ràng và phát triển đội ngũ đa kỹ năng. Khung này cần phân chia năng lực TLTM thành ba mức (cơ bản, nâng cao và chuyên gia) và bốn nhóm năng lực gồm: kiến thức trong lĩnh vực, thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm nghề nghiệp, kỹ năng kỹ thuật xử lý phân tích số liệu/ chỉ số và tính liêm chính nghề nghiệp (Lancho, 2021).
Điều này cho thấy năng lực nhân sự cần được phát triển theo hướng từ kỹ năng cá nhân sang năng lực tổ chức của thư viện để tránh tình trạng dịch vụ dễ bị gián đoạn khi nhân sự thay đổi. Tuy nhiên, hiện còn thiếu các nghiên cứu đánh giá mức độ sẵn sàng của cán bộ TVĐH trong bối cảnh các nước đang phát triển.
Kiến nghị
Đối với Việt Nam, để triển khai DVTLTM, một số kiến nghị được đề xuất như sau:
Triển khai DVTLTM gắn với chiến lược phát triển nghiên cứu
Trước hết, các TVĐH cần xác lập rõ động lực triển khai DVTLTM như một phần của hệ thống hỗ trợ nghiên cứu. Dịch vụ này cần được gắn trực tiếp với các yêu cầu thực tiễn như đánh giá giảng viên, xét thăng tiến học thuật, kiểm định chất lượng, xếp hạng đại học và quản trị nghiên cứu.
Triển khai theo lộ trình mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam
Các TVĐH Việt Nam cần triển khai DVTLTM theo lộ trình phù hợp với năng lực và nguồn lực hiện có. Ở giai đoạn đầu, nên tập trung vào các dịch vụ cơ bản như hướng dẫn chỉ số, workshop và tư vấn cá nhân giảng viên/ nhà nghiên cứu. Ở giai đoạn tiếp theo, thư viện cần chuẩn hóa quy trình, xây dựng nhóm chuyên trách và mở rộng dịch vụ sang cấp khoa/bộ môn. Ở giai đoạn phát triển, cần hình thành mô hình hợp tác liên đơn vị, kết nối với phòng/ ban quản lý khoa học công nghệ và ban lãnh đạo trường.
Phát triển danh mục sản phẩm và dịch vụ theo phân tầng người dùng
Thư viện cần xây dựng danh mục sản phẩm và DVTLTM phù hợp với từng nhóm người dùng:
Cấp cá nhân: hướng dẫn chỉ số, tư vấn hồ sơ học thuật, hỗ trợ ORCID/ Google Scholar, phân tích trích dẫn.
Cấp nhóm nghiên cứu/ khoa/ viện: báo cáo xu hướng nghiên cứu, phân tích năng lực công bố, đối sánh.
Cấp lãnh đạo: báo cáo tác động nghiên cứu, phân tích chiến lược.
Đặc biệt, cần chuyển từ cách tiếp cận cung cấp số liệu sang diễn giải dữ liệu, nghĩa là kết hợp phân tích định lượng với giải thích chuyên môn, nhằm hỗ trợ ra quyết định một cách có trách nhiệm.
Xây dựng chiến lược dữ liệu và công cụ theo hướng đa nguồn và tích hợp
Các TVĐH Việt Nam cần xây dựng chiến lược dữ liệu theo hướng kết hợp đa nguồn, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các cơ sở dữ liệu quốc tế như Web of Science hoặc Scopus. Về lâu dài, cần từng bước đầu tư vào các nền tảng phân tích nâng cao. Đồng thời, các trường đại học cần chú trọng phát triển IR như một nguồn dữ liệu nội sinh, không chỉ để lưu trữ, phổ biến mà cần phát triển IR theo hướng tích hợp với hệ thống thông tin nghiên cứu để cung cấp DVTLTM ở cấp độ cao hơn.
Phát triển năng lực nhân sự
Năng lực nhân sự là yếu tố quyết định tính bền vững của DVTLTM. Do đó, các thư viện cần xây dựng chiến lược phát triển nhân lực theo hướng: Tránh phụ thuộc vào một cá nhân duy nhất; xây dựng nhóm chuyên trách với năng lực đa dạng (dữ liệu, công cụ, phân tích, tư vấn); đào tạo theo lộ trình từ nhận thức cơ bản, kỹ năng công cụ, phân tích và tư vấn.
Bên cạnh đó, để nâng cao năng lực đội ngũ, các TVĐH cần tích hợp nội dung TLTM vào chương trình đào tạo ngành Thông tin - Thư viện cũng như tăng cường đào tạo nội bộ, học tập đồng nghiệp và hợp tác quốc tế. Về dài hạn, muốn bảo đảm dịch vụ không bị gián đoạn khi thay đổi nhân sự, TLTM cần chuyển từ kỹ năng cá nhân sang năng lực tổ chức.
Tóm lại, việc triển khai DVTLTM tại các TVĐH Việt Nam cần được tiếp cận theo hướng hệ thống và theo lộ trình, kết hợp đồng bộ giữa động lực, mô hình, sản phẩm dịch vụ, dữ liệu và nhân sự. Việc triển khai hiệu quả dịch vụ này không chỉ mở rộng vai trò vị thế của TVĐH Việt Nam mà còn góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, chất lượng công bố và vị thế học thuật của các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
__________________________
Tài liệu tham khảo
1. Bladek, M. (2014). Bibliometrics services and the academic library: meeting the emerging needs of the campus community (Dịch vụ trắc lượng thư mục và thư viện đại học: Đáp ứng nhu cầu mới của cộng đồng học thuật). College & undergraduate libraries. 21(3-4). https://doi.org/10.1080/10691316.2014.929066
2. Bredahl, L. (2022a). Bibliometric Service Models in Academia and Considerations Impacting Resourcing (Các mô hình dịch vụ bibliometrics trong học thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực). Library Technology Reports. 58(8). https://doi.org/10.5860/ltr.58n8
3. Bredahl, L. (2022b). The current and evolving landscape of bibliometric tools and technologies (Toàn cảnh và xu hướng phát triển của các công cụ bibliometrics). Library Technology Reports. 58(8). https://doi.org/10.5860/ltr.58n8
4. Corrall, S., Kennan, M. A., & Afzal, W. (2013). Bibliometrics and Research Data Management Services: Emerging Trends in Library Support for Research (Dịch vụ trắc lượng thư mục và quản lý dữ liệu nghiên cứu: Xu hướng mới trong hỗ trợ nghiên cứu của thư viện). Library Trends. Vol. 61. No. 3. doi:10.1353/lib.2013.0005
5. Drummond, R., & Wartho, R. (2016). Rims: The Research Impact Measurement Service At The University Of New South Wales (RIMS: Dịch vụ đo lường tác động nghiên cứu tại Đại học New South Wales). Australian Academic & Research Libraries. 47(4). doi:10.1080/00048623.2016.1253427
6. Gordon, S., & Hitchens, A. (2020, October 28). Library Impact Practice Brief: Supporting Bibliometric Data Needs at Academic Institutions (Tài liệu thực hành về tác động của thư viện: Hỗ trợ nhu cầu dữ liệu bibliometrics trong các trường đại học). Washington, DC: Association of Research Libraries. https://doi.org/10.29242/brief.waterloo2020
7. Gorraiz, J., Wieland, M., & Gumpenberger, C. (2016). Individual bibliometric assessment@ University of Vienna: from numbers to multidimensional profiles (Đánh giá bibliometrics cấp cá nhân tại Đại học Vienna: Từ con số đến hồ sơ đa chiều). arXiv preprint arXiv:1601.08049
8. Gumpenberger, C., Wieland, M., & Gorraiz, J. (2012). Bibliometric practices and activities at the University of Vienna (Thực tiễn và hoạt động bibliometrics tại Đại học Vienna). Library Management. 33(3). doi:10.1108/01435121211217199
9. Haddow, G., & Mamtora, J. J. (2017). Research support in Australian academic libraries: services, resources, and relationships (Hỗ trợ nghiên cứu trong thư viện đại học Úc: Dịch vụ, nguồn lực và quan hệ). New Review of Academic Librarianship.23(2-3). https://doi.org/10.1080/13614533.2017.1318765
10. Hendrix, D. (2010). Tenure Metrics: Bibliometric Education and Services for Academic Faculty Chỉ số thăng tiến học thuật: Đào tạo và dịch vụ bibliometrics cho giảng viên). Medical Reference Services Quarterly. 29(2). doi:10.1080/02763861003723416
11. Keller, A. (2015). Research Support in Australian University Libraries: An Outsider View (Hỗ trợ nghiên cứu trong thư viện đại học Úc: Góc nhìn từ bên ngoài). Australian Academic & Research Libraries. 46(2). doi:10.1080/
00048623.2015.1009528
12. Kennan, M. A., Corrall, S., & Afzal, W. (2014). “Making space” in practice and education: research support services in academic libraries (Mở rộng vị trí trong thực hành và đào tạo: Dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu trong thư viện đại học). Library Management. 35(8-9). doi:10.1108/LM-03-2014-0037
13. Lancho Barrantes, B. S., Vanhaverbeke, H., & Dobre, S. (2021). Competencies model for bibliometric work (Mô hình năng lực cho công tác trắc lượng thư mục). https://thebibliomagician.files.wordpress.com/2021/07/competenciesmodel_june2021-2.pdf
14. Powell, K. R., & Elder, J. J. (2019). A bibliometric services workshop for subject librarians (Workshop dịch vụ bibliometrics cho thủ thư chuyên ngành). Library Management. 40(5). doi:https://doi.org/10.1108/LM-03-2018-0014
15. Tavernier, W., & Jamieson, L. M. (2022). Value added: A case study of research impact services. portal: Libraries and the Academy (Gia tăng giá trị cho nghiên cứu: Nghiên cứu trường hợp về dịch vụ hỗ trợ tác động nghiên cứu). Libraries and the Academy. 22(4). Vol. 22. No.4. doi:10.1353/pla.2022.0047
16. Ye, L. (2019). Chinese academic library research evaluation services (Dịch vụ đánh giá nghiên cứu tại thư viện đại học Trung Quốc). Journal of Library Administration. 59(1). doi:10.1080/01930826.2018.1549416
Ngày Tòa soạn nhận bài: 15/4/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 28/4/2026; Ngày duyệt đăng: 15/5/2026.
Ths NGUYỄN THANH TRÀ
Nguồn: Tạp chí VHNT số 645, tháng 6-2026