Ưu tiên cạnh tranh giữa áp lực năng suất công việc và PEB
Thực tiễn vận hành cho thấy áp lực dịch vụ và khối lượng công việc là nguyên nhân hàng đầu khiến “các thực tiễn phi chính thức” lấn át PEB. Quản lý Max (bộ phận Hội nghị) chỉ ra rằng áp lực về hiệu suất thời gian khiến nhân viên gặp lỗi trong việc áp dụng tiết kiệm điện mặc dù các nhân viên này đều báo cáo có ý thức bảo vệ môi trường. Chẳng hạn, họ đã quên tắt đèn phòng họp do quá bận rộn với các tác vụ khác. Sự đứt gãy giữa ý thức bảo vệ môi trường và thực tiễn cũng được quản lý buồng phòng tại Khách sạn B xác nhận. Trong môi trường khách sạn hạng sang, tốc độ vận hành luôn là ưu tiên vượt trội của nhân viên nhằm thỏa mãn khách hàng. Nhân viên Ngân (bộ phận bếp - Khách sạn B) coi việc giảm năng lượng là “nhiệm vụ bất khả thi” nếu phải đánh đổi lợi ích hiệu suất kinh doanh được áp lên cô trực tiếp. Ngoài ra, để rút ngắn thời gian chuẩn bị từ 20 phút xuống còn 3-5 phút và giữ thức ăn luôn ở ngưỡng an toàn 63 độ C, lò ga bắt buộc phải cháy liên tục, trong khi đó thực tế của các bếp không cho phép. Bếp phó Minh lập luận: “Nếu khách hàng phải đợi một tiếng đồng hồ khi đang đói, thì tiêu chuẩn kinh doanh của tôi đang đi xuống”. Cùng quan điểm, đầu bếp Martin (Khách sạn A) khẳng định việc tắt/ bật thiết bị liên tục là phi thực tế: “Lẽ thường và tính thực tế là hai điều khác biệt”. Do hệ thống bếp không cung cấp cơ chế hỗ trợ các nhân viên áp dụng tiết kiệm điện/ ga trong quy trình, kết quả nhân sự luôn ưu tiên chọn hiệu quả vận hành trong các giây phút thực tế này (Chawla et al., 2021).
Khoảng cách quyền lực và sự ủy thác trách nhiệm sinh thái
Phân tích mở rộng chỉ ra một nghịch lý: các quyết định tác động vật lý tới môi trường (như bật/ tắt thiết bị) lại bị phó mặc hoàn toàn cho nhóm nhân viên cấp thấp ở tuyến đầu. Các nhà quản lý có thể ban hành các quy chuẩn (như dọn dẹp 10 bước hay 13 bước) nhưng do không trực tiếp tham gia thao tác, họ mất đi quyền kiểm soát và khả năng giám sát. Việc ủy thác trách nhiệm có áp dụng hành động tiết kiệm năng lượng này trong các quy trình vận hành khiến quyền quyết định mức năng lượng tiêu thụ rơi vào tay những người nhân viên cấp thấp - lao động trực tiếp. Điều này dẫn đến tình trạng mục tiêu bảo vệ môi trường dễ dàng bị gạt bỏ vì sự tiện lợi cá nhân cũng như trong áp lực hoàn thành công việc đúng tiến độ.
Phương thức truyền thông phi chính thức
Cả hai khách sạn bộc lộ điểm yếu lớn do phụ thuộc vào kênh truyền thông phi chính thức. Tại Khách sạn A, hạn chế năng lực sử dụng công nghệ của nhân viên lớn tuổi khiến thông tin chỉ truyền đạt “bằng lời nói”, gây đứt gãy kiến thức và tạo ra xung đột lịch trình giữa bộ phận bếp và an ninh. Tại Việt Nam, ngoài cơ sở hạ tầng cũ kỹ (lò ga 20 năm tuổi), việc lệ thuộc vào các ghi chú viết tay hoặc truyền miệng khiến thông điệp môi trường dễ rơi vào quên lãng, được hiểu chưa đúng. Điều này dẫn đến sự triệt tiêu động lực thực hiện hành động bảo vệ môi trường của nhân viên trong công việc hằng ngày của họ. Thấu hiểu động lực của các thực tiễn giao tiếp này là điều kiện quan trọng để xây dựng môi trường làm việc chuyển đổi xanh hiệu quả (Lghomrore, 2025).
4. Kết luận
Nghiên cứu này đã chỉ rõ cách thức các thực tiễn phi chính thức trở thành rào cản cản trở các nỗ lực áp dụng tiết kiệm năng lượng hướng đến mục tiêu bền vững trong ngành Khách sạn. Tại cấp độ vận hành, các quy tắc ngầm, tư duy đề cao tốc độ dịch vụ và thói quen giao tiếp lỏng lẻo đang chi phối hoàn toàn hành vi của nhân viên thay vì các chính sách vì mục tiêu bảo vệ môi trường của các khách sạn. Đặc biệt, sự vắng bóng của các tài liệu giám sát và quy chuẩn đo lường buộc nhân sự phải lệ thuộc vào “lẽ thường” và “phán đoán cá nhân”. Đồng thời, tình trạng ủy thác trách nhiệm vật lý cho lực lượng lao động tuyến đầu (kết hợp với áp lực năng suất và sự thiếu hỗ trợ cơ sở hạ tầng) đã trao cho nhân viên cấp thấp quyền định đoạt vấn đề sinh thái, khiến họ liên tục hy sinh môi trường để đổi lấy sự tiện lợi trong hoàn thành tác vụ.
Dựa trên những phát hiện trên, để khuyến khích các nhân viên triển khai các hành động bảo vệ môi trường trong các công việc hằng ngày của họ tại khách sạn các doanh nghiệp lưu trú cần thấu hiểu sâu sắc và điều chỉnh sự ảnh hưởng của các “luật ngầm” này. Thứ nhất, các doanh nghiệp khách sạn cần phải văn bản hóa các tiêu chuẩn tiêu thụ năng lượng và thiết lập các chỉ số giám sát rõ ràng, tích hợp vào quy trình đánh giá thay vì phó mặc cho lời nói truyền miệng. Thứ hai, lĩnh vực hành động đầu tiên liên quan đến hiệu quả của truyền thông môi trường. Các khách sạn cần thể hiện các thông điệp môi trường làm việc nhất quán và rõ ràng đến nhân viên, vì nghiên cứu cho thấy các thông điệp môi trường bị loãng khi truyền qua nhiều kênh và tác nhân truyền thông phi tuyến tính (các loại chủ thể) và trở nên mơ hồ đối với nhiều nhân viên. Nghiên cứu đã cho thấy, yếu tố này ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi môi trường hiện tại của nhân viên. Vì vậy, nghiên cứu khuyến nghị các hành động cụ thể để truyền thông môi trường hiệu quả, bao gồm kênh truyền thông, thiết kế phương pháp truyền thông và thành phần người truyền đạt thông điệp xanh, mà các công ty khách sạn nên thực hiện. Hành động cụ thể đầu tiên được đề xuất cho khách sạn liên quan đến kênh truyền thông, đó là việc truyền đạt hiệu quả các chính sách và giá trị môi trường đến nhân viên cấp cơ sở (tức là bộ phận Nghiên cứu và Phát triển). Nghiên cứu cho thấy email hiện là kênh truyền thông chính nhưng không hiệu quả trong việc truyền đạt thông tin đến tất cả nhân viên bộ phận Nghiên cứu và Phát triển vì hầu hết họ không có quyền truy cập email. Để giải quyết vấn đề này, các công ty có thể xem xét tăng phạm vi phủ sóng hiện tại (khoảng 66% được báo cáo bởi một quản lý cấp cao) đối với nhân viên có quyền truy cập email (chiếm đa số nhân viên bộ phận Nghiên cứu và Phát triển) lên 100% hoặc nghiên cứu một kênh truyền thông chính khác phù hợp với nhân viên bộ phận này. Hành động cụ thể thứ hai được đề xuất cho khách sạn liên quan đến việc thiết kế phương pháp truyền thông, nghĩa là khách sạn cần xem xét khía cạnh văn hóa trong việc áp dụng công tác truyền thông từ các văn phòng quốc tế đến với các nhóm nhân viên khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Đối với trường hợp khách sạn A ở Anh và khách sạn B ở Việt Nam, nghiên cứu cho thấy các nhân viên người Việt tại khách sạn Việt Nam có xu hướng “tuân thủ” hoặc “làm theo những gì được chỉ bảo từ cấp trên”, trong khi các nhân viên người Anh và châu Âu tại khách sạn ở Anh lại có xu hướng “tò mò”. Thứ ba, thúc đẩy các thực tiễn thân thiện với môi trường không thể đạt được nếu tách rời khỏi mục tiêu vận hành. Các khách sạn cần nhìn nhận lại mối quan hệ mâu thuẫn giữa kỳ vọng nâng cao năng suất (tốc độ dịch vụ) và cam kết bảo vệ môi trường, từ đó ban hành các chính sách hài hòa, nâng cấp cơ sở hạ tầng và tìm ra điểm cân bằng thực tế để gắn kết nhân viên vào các hành vi xanh. Việc số hóa, văn bản hóa và giảm thiểu tính phi chính thức sẽ là chìa khóa then chốt giúp ngành công nghiệp lưu trú hiện thực hóa thành công tầm nhìn phát triển bền vững (1).
_____________________________
1. Bài báo này thuộc một phần của đề tài tiến sĩ của tác giả đã được Ủy ban đạo đức nghiên cứu của Trường đại học Oxford Brookes chấp nhận đăng ký theo số UREC: 181169.
Tài liệu tham khảo
1. Becken, S., & McLennan, C. L. (2017). Evidence of the water-energy nexus in tourist accommodation (Bằng chứng về mối liên hệ giữa nước và năng lượng trong cơ sở lưu trú du lịch). Journal of Cleaner Production. 144. https:// doi.org/ 10.1016/j.jclepro.2016.12.167
2. Bohdanowicz, P., Zientara, P., & Novotna, E. (2011). International hotel chains and environmental protection: an analysis of Hilton’s we care! programme (Europe, 2006-2008) (Các chuỗi khách sạn quốc tế và bảo vệ môi trường: phân tích chương trình “Chúng tôi quan tâm!” của Hilton). Journal of Sustainable Tourism. 19(7). https://doi.org/10.1080/09669582.2010.549566
3. Chawla, G., Lugosi, P., & Hawkins, R. (2021). Food Waste Drivers in Corporate Luxury Hotels: Competing Perceptions and Priorities across the Service Cycle (Nguyên nhân gây lãng phí thực phẩm trong các khách sạn hạng sang của tập đoàn: Những nhận thức và ưu tiên trái ngược nhau trong toàn bộ chu trình dịch vụ). Tourism and Hospitality. 2(3).
4. Chawla, G. (2019). Pro-environmental behaviours of hospitality employees: A practice theory approach (Hành vi thân thiện với môi trường của nhân viên ngành dịch vụ khách sạn: Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết thực tiễn). Oxford Brookes University.
5. Chan, E. S. et al. (2014). What drives employees’ intentions to implement green practices in hotels? The role of knowledge, awareness, concern and ecological behaviour (Điều gì thúc đẩy ý định thực hiện các hoạt động xanh của nhân viên trong khách sạn? Đó là vai trò của kiếnthức, nhận thức, sự quan tâm và hành vi sinh thái). International Journal of Hospitality Management. 40.
6. DeSanctis, G., & Poole, M. S. (1994). Capturing the complexity in advanced technology use: Adaptive structuration theory (Nắm bắt sự phức tạp trong việc sử dụng công nghệ tiên tiến: Lý thuyết cấu trúc thích ứng). Organization Science. 5(2). https://doi.org/10.1287/orsc.5.2.121
7. Dunne, D. (2018, May 7). Tourism is responsible for 8% of global greenhouse gas emissions, study finds (Ngành du lịch chiếm 8% tổng lượng khí thải nhà kính toàn cầu). Carbon Brief.
8. Filimonau, V., Bai, L., Romanenko, A., Tarakanova, V., & Ermolaev, V. A. (2023). How employees perceive and (dis) engage with ‘green’ practices in luxury hotels (Cách nhân viên nhìn nhận và (không) tham gia vào các hoạt động “xanh” tại các khách sạn hạng sang). International Journal of Hospitality Management. 114.
9. Gatersleben, B. (2018). Measuring Environmental Behaviour (Đo lường hành vi môi trường), in Steg, L. & Groot, J.I.M.d. (eds). Environmental Psychology: An Introduction.
10. Georgiadou, A., & Syed, J. (2021). The interaction between gender and informal social networks: An East Asian perspective: Gender diversity management in East Asia (Sự tương tác giữa giới tính và mạng lưới xã hội phi chính thức: Góc nhìn từ Đông Á: Quản lý sự đa dạng giới tính ở Đông Á). Human Resource Management Journal. 31(4).
11. Kim, Y. J., Kim, W. G., Choi, H. M., & Phetvaroon, K. (2019). The effect of green human resource management on hotel employees’ eco-friendly behavior (Ảnh hưởng của quản lý nguồn nhân lực xanh đến hành vi thân thiện với môi trường của nhân viên khách sạn). International Journal of Hospitality Management. 76.
12. Lenzen, M. et al. (2018). The carbon footprint of global tourism (Dấu chân carbon của ngành du lịch toàn cầu). Nature Climate Change. 8(6). https://doi: 10.1038/s41558-018-0141-x
13. Lghomrore, A. S. (2025). Analysing Informal Work Practices and Social Networks in the Workplace (Phân tích các hình thức làm việc không chính thức và mạng lưới xã hội tại nơi làm việc). International Journal of Applied and Scientific Research. 3(4).
14. Marchington, M., & Suter, J. (2013). Where Informality Really Matters: Patterns of Employee Involvement and Participation (EIP) in a Non-Union Firm (Nơi mà tính không chính thức thực sự quan trọng: Các mô hình tham gia và đóng góp của nhân viên (EIP) trong một công ty không có công đoàn). Industrial Relations: A Journal of Economy and Society. 52. https://doi: 10.1111/irel.12004
15. Mukherjee, S., Salman, S. A., & Sukdeo, N. I. (2026). A systematic review of climate awareness among Gen Z in the hospitality and tourism sector (Đánh giá có hệ thống về nhận thức biến đổi khí hậu trong thế hệ Z thuộc lĩnh vực khách sạn và du lịch). Journal of Hospitality and Tourism Insights.
16. Pham, N. T., Tučková, Z., & Jabbour, C. J. C. (2019). Greening the hospitality industry: How do green HRM practices influence organizational citizenship behavior toward the environment? (Làm xanh ngành công nghiệp khách sạn: Các thực tiễn quản lý nguồn nhân lực xanh ảnh hưởng như thế nào đến hành vi trách nhiệm xã hội của tổ chức đối với môi trường). Tourism Management. 72.
17. Sachdeva, C., & Singh, T. (2024). Green transformational leadership and pro-environmental behaviour: unravelling the underlying mechanism in the context of hotel industry (Lãnh đạo chuyển đổi xanh và hành vi thân thiện với môi trường: làm sáng tỏ cơ chế tiềm ẩn trong bối cảnh ngành khách sạn). International Journal of Organizational Analysis. 32(2).
18. Stern, P.C. (2000). New Environmental Theories: Toward a Coherent Theory of Environmentally Significant Behavior (Các lý thuyết môi trường mới: Hướng tới một lý thuyết mạch lạc về hành vi có ý nghĩa đối với môi trường). Journal of Social Issues. 56. https://doi.org/10.1111/0022-4537.00175
19. Voss, S., Andre, H., Kock, F., Karl, M., & Josiassen, A. (2026). Guiding pro-environmental behaviour: examining the impact of cognitive and behavioural interventions on sustainable food choices in hospitality (Hướng dẫn hành vi thân thiện với môi trường: xem xét tác động của các can thiệp nhận thức và hành vi đối với lựa chọn thực phẩm bền vững trong ngành dịch vụ ăn uống). Journal of Sustainable Tourism. 34(1).
20. Warde, A. (2005). Consumption and theories of practice (Tiêu dùng và các lý thuyết thực hành). Journal of consumer culture. 5(2).
21. World Sustainable Hospitality Alliance. (2022). Climate action (Hành ðộng vì khí hậu). https://sustainablehospitalityalliance.org/our-work/climate-action/.
22. Xu, Y., & Gursoy, D. (2024). Comparative Analysis of Per-Tourist and Total Carbon Emissions Generated in Hospitality and Tourism Sectors: Impact on Climate Change and Implications for Economy, Society, and Environment (Phân tích so sánh lượng khí thải carbon trên mỗi khách du lịch và tổng lượng khí thải carbon trong ngành khách sạn và du lịch: Tác động đến biến đổi khí hậu và hệ lụy đối với kinh tế, xã hội và môi trường). Journal of Hospitality Marketing & Management.
23. Zientara, P., & Zamojska, A. (2018). Green organizational climates and employee pro-environmental behaviour in the hotel industry (Môi trường tổ chức xanh và hành vi thân thiện với môi trường của nhân viên trong ngành khách sạn). Journal of Sustainable Tourism. 26(7). https://doi: 10.1080/09669582.2016.1206554
Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/5/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/5/2026; Ngày duyệt bài: 20/6/2026.
TS NGUYỄN THỊ VÂN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 648, tháng 7/2026