Quyết định đi du lịch của giới trẻ
Quyết định đi du lịch là quá trình lựa chọn điểm đến, hình thức du lịch và các hoạt động trải nghiệm dựa trên nhu cầu, sở thích, khả năng tài chính và các yếu tố xã hội - văn hóa (Kotler & Keller, 2016). Hành vi du lịch của giới trẻ chịu tác động từ nhiều yếu tố: yếu tố cá nhân (độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, sở thích và nhu cầu trải nghiệm); yếu tố xã hội (ảnh hưởng của bạn bè, gia đình, mạng xã hội và xu hướng cộng đồng); yếu tố văn hóa (quan tâm đến giá trị văn hóa, lịch sử và trải nghiệm văn hóa đặc thù của điểm đến). Ở Hà Nội, giới trẻ có xu hướng du lịch mang tính trải nghiệm, khám phá, kết hợp học hỏi và giải trí. Họ quan tâm đến các sản phẩm du lịch mang tính văn hóa, sáng tạo, độc đáo, đồng thời có thể chia sẻ trên mạng xã hội, hình thành xu hướng “du lịch trải nghiệm và chia sẻ”.
Nghiên cứu cho thấy sức hút của sản phẩm CNVH có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đi du lịch của giới trẻ. Các sản phẩm văn hóa độc đáo và giàu trải nghiệm tạo động lực khám phá, hình thành kỳ vọng trải nghiệm cụ thể và tác động đến lựa chọn điểm đến, thời gian, loại hình và hình thức du lịch (Richards, 2018), các sản phẩm này tạo động lực, hình ảnh và trải nghiệm hấp dẫn làm tăng ý định và hành vi du lịch. Ngược lại, du lịch cũng trở thành thị trường tiêu thụ và lan tỏa các sản phẩm CNVH.
Thực trạng hành vi lựa chọn điểm đến của giới trẻ tại Hà Nội
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và mạng xã hội, giới trẻ Hà Nội (18-30 tuổi) - nhóm năng động, sáng tạo và thích khám phá ngày càng tiếp cận nhiều hơn với các sản phẩm CNVH như phim ảnh, âm nhạc, gameshow hay thời trang. Kết quả khảo sát 200 người cho thấy khoảng 56% là sinh viên, 28,5% người lao động và 21,5% khác. Tần suất du lịch trung bình 2-4 lần/ năm chiếm 28%, cho thấy nhu cầu đi du lịch của giới trẻ khá cao.
Về mức độ tiếp xúc với sản phẩm CNVH, hầu hết người được hỏi đã biết hoặc từng tiếp cận CNVH, chỉ 4,5% chưa nghe qua. Họ hiểu CNVH chủ yếu theo hướng hiện đại: 56% cho rằng đó là “các ngành sáng tạo sản phẩm văn hóa - giải trí (phim, nhạc, gameshow, thời trang...) mang bản sắc và giá trị kinh tế”. Các kênh tiếp cận chính: mạng xã hội (76,5%), nền tảng phim/ nhạc trực tuyến (46%), truyền hình (34,5%). Loại hình được theo dõi nhiều nhất là phim ảnh (61%), âm nhạc (55%), gameshow (41,5%). Các chương trình như Gia đình Haha, 2 ngày 1 đêm là ví dụ điển hình: vừa mang tính giải trí, vừa quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam. CNVH tác động mạnh đến thị hiếu giới trẻ nhưng chủ yếu thiên về sản phẩm hiện đại, ít gắn với giá trị văn hóa truyền thống.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy CNVH có tác động đến quyết định du lịch. Khoảng 79% người khảo sát thừa nhận CNVH có ảnh hưởng đến quyết định đi du lịch (11,5% rất lớn; 30% khá lớn; 37,5% ảnh hưởng một phần). Các loại hình ảnh hưởng mạnh gồm gameshow, concert, phim ảnh và MV ca nhạc.
Động cơ du lịch phổ biến: check-in, bắt trend (63,5%), muốn trải nghiệm như trong phim/ MV (48%), khám phá văn hóa địa phương (40,5%). Yếu tố khiến địa điểm hấp dẫn gồm: câu chuyện, cảm xúc (25,5%), hình ảnh đẹp (21%), người nổi tiếng (20,5%), nét văn hóa đặc trưng (13%). Hành vi du lịch chịu tác động mạnh từ cảm xúc và hình ảnh hơn là giá trị văn hóa chiều sâu.
Hành vi du lịch thực tế của giới trẻ: khi lập kế hoạch du lịch, giới trẻ ưu tiên nền tảng trực tuyến: mạng xã hội (60,5%), ứng dụng du lịch (43,5%), blog review (35%), phim ảnh/ MV (34%). Các hoạt động phổ biến: chụp ảnh “check-in” (70%), tham quan địa điểm xuất hiện trong phim/ MV (67,5%), thử món ăn “hot trend” (60%). Ngược lại, các hoạt động giàu giá trị văn hóa như workshop, lễ hội, mua sản phẩm thủ công ít được quan tâm. Hiệu ứng “viral” từ CNVH thường ngắn hạn, dễ gây quá tải và thương mại hóa văn hóa địa phương. Giới trẻ yêu thích sự mới mẻ và sáng tạo, nhưng vòng đời sản phẩm chỉ kéo dài 2-3 năm. Để giữ sức hút lâu dài, cần đảm bảo chất lượng nội dung, cảm xúc chân thực và khác biệt.
Như vậy, CNVH là yếu tố có ảnh hưởng rõ rệt đến hành vi du lịch của giới trẻ, đặc biệt qua phim ảnh, gameshow, âm nhạc và không gian sáng tạo. Tuy nhiên, nhận thức về CNVH còn lệch, thiếu gắn kết với văn hóa truyền thống. Hành vi du lịch mang tính “theo trend”, ngắn hạn và cảm tính. Để phát huy hiệu quả, cần khai thác CNVH như nguồn lực chiến lược trong phát triển du lịch bền vững; tăng cường liên kết giữa nhà quản lý - doanh nghiệp - cộng đồng sáng tạo; kết hợp yếu tố hiện đại và giá trị văn hóa. Chỉ khi đạt được sự cân bằng giữa xu hướng và bản sắc, du lịch mới tận dụng tối đa tiềm năng của CNVH để phát triển bền vững.
Tóm lại, CNVH đang trở thành động lực mới định hình hành vi du lịch của giới trẻ Hà Nội. Tuy nhiên, để sức hút này trở nên bền vững, cần chuyển từ “du lịch theo trend” sang “du lịch theo giá trị” - nơi văn hóa không chỉ là phông nền cho giải trí, mà là linh hồn của điểm đến.
Giải pháp phát huy giá trị của các sản phẩm CNVH để thu hút giới trẻ lựa chọn các điểm đến du lịch
Định hướng phát triển sản phẩm du lịch gắn với CNVH
Việc xây dựng các sản phẩm du lịch mới mẻ, sáng tạo là hướng đi tất yếu để thu hút đông đảo khách du lịch đến với điểm đến, đặc biệt là một bộ phận giới trẻ luôn thích khám phá, tìm hiểu những điểm du lịch “độc và mới”. Một số định hướng có thể triển khai:
Thứ nhất, đa dạng hóa, nhân rộng mô hình các tour du lịch mới như: du lịch theo phim ảnh, tour lễ hội - sự kiện, tour du lịch kết hợp với thời trang. Hiện nay, mỗi vùng miền đều sở hữu nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn đa dạng, giàu giá trị. Do đó, các địa phương nên sắp xếp, xem xét các giá trị đặc trưng của riêng mình để xây dựng các hướng khai thác phát triển các sản phẩm mới cho phù hợp.
Thứ hai, khuyến khích tổ chức các workshop - nghệ thuật tương tác để du khách có cơ hội trực tiếp tham quan sáng tạo. Đây là một cách vừa nâng cao giá trị trải nghiệm, vừa góp phần giữ gìn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống.
Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong xây dựng sản phẩm du lịch như ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), để tăng trải nghiệm tham quan của du khách, cũng như giúp giới trẻ tiếp cận và tương tác với di sản văn hóa theo cách hấp dẫn.
Thứ tư, phát triển các show diễn nghệ thuật cố định như: trình diễn thực cảnh, âm nhạc truyền thống kết hợp với hiện đại... Sự phát triển của các show diễn nghệ thuật hiện đại đã trở thành một chiến lược trọng tâm nhằm phát huy vai trò của CNVH trong việc thu hút giới trẻ đến các điểm du lịch.
Thứ năm, chú trọng xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa không gian sáng tạo - nghệ sĩ trẻ - doanh nghiệp du lịch. Hệ sinh thái này đóng vai trò như một đòn bẩy, thúc đẩy sự hợp tác và phát triển bền vững của ngành CNVH.
Tăng cường hoạt động truyền thông, quảng bá
Truyền thông và quảng bá đóng vai trò cầu nối quan trọng để đưa các sản phẩm CNVH đến gần hơn với du khách. Việc kết hợp đa dạng các phương thức, từ mời influencer trải nghiệm, xây dựng thương hiệu du lịch gắn với văn hóa địa phương cho đến việc ứng dụng mạnh mẽ các nền tảng truyền thông hiện đại, công nghệ số và mạng xã hội, sẽ giúp nâng cao hiệu quả quảng bá cũng như gia tăng sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Đây chính là nền tảng vững chắc để phát huy giá trị đặc sắc của văn hóa bản địa, đồng thời, khẳng định vị thế của các sản phẩm du lịch gắn với CNVH trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Trong bối cảnh hiện nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu đối với đời sống của giới trẻ. Những nền tảng như TikTok, Instagram, YouTube, Facebook... không chỉ là nơi giải trí, chia sẻ khoảnh khắc, mà còn là “cánh cửa” giúp lan tỏa mạnh mẽ các xu hướng, lối sống và trải nghiệm mới. Chính vì vậy, việc tận dụng các nền tảng này để quảng bá du lịch và sản phẩm CNVH là một hướng đi đầy tiềm năng, phù hợp với thói quen tiếp nhận thông tin của khách du lịch hiện đại.
Duy trì và phát huy hiệu quả của các sản phẩm CNVH gắn với hoạt động du lịch
Thứ nhất, có sự kết nối nhà nước - doanh nghiệp - cộng đồng sáng tạo trong phát triển sản phẩm CNVH phục vụ du lịch. Nhà nước là đại diện cơ quan quản lý, đưa ra khung pháp lý, chinh sách; doanh nghiệp có vai trò xây dựng, phát triển các sản phẩm mới, độc đáo; cộng đồng sáng tạo là những nhà sản xuất phim, biên kịch, đạo diễn, diễn viên… là những chủ thể mang đến góc nhìn mới mẻ về điểm đến du lịch.
Thứ hai, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa sáng tạo, khuyến khích đầu tư tư nhân, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật, giải trí, công nghệ truyền thông…
Thứ ba, hợp tác quốc tế để học hỏi mô hình phát triển CNVH - du lịch của các thành phố sáng tạo như Seoul, Tokyo, Paris… Để áp dụng những bài học này một cách hiệu quả, Việt Nam cần chủ động tăng cường hợp tác ở nhiều cấp độ. Về mặt chính sách, cần thiết lập các diễn đàn song phương để trao đổi kinh nghiệm hoạch định chính sách, tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và cơ chế hỗ trợ tài chính hấp dẫn. Về mặt doanh nghiệp, cần khuyến khích các công ty trong nước hợp tác, liên doanh với các tập đoàn CNVH lớn trên thế giới để tiếp cận công nghệ, quy trình sản xuất và marketing chuyên nghiệp. Về mặt con người, cần đầu tư vào các chương trình đào tạo, trao đổi sinh viên, thực tập sinh để xây dựng một đội ngũ nhân lực có tư duy toàn cầu.
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các sản phẩm CNVH có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến quyết định đi du lịch của giới trẻ tại Hà Nội, đặc biệt thông qua yếu tố cảm xúc, bản sắc và trải nghiệm sáng tạo. Giới trẻ không chỉ tìm kiếm điểm đến mà còn mong muốn hòa mình vào không gian văn hóa đương đại mang tính biểu tượng. Điều này khẳng định vai trò của CNVH như một động lực mới trong phát triển du lịch. Vì vậy, các nhà quản lý du lịch cần chú trọng đầu tư, kết nối và quảng bá sản phẩm văn hóa sáng tạo để thu hút thế hệ trẻ. Nghiên cứu góp phần gợi mở hướng đi mới cho chiến lược phát triển bền vững gắn với CNVH ở Việt Nam.
____________________
Tài liệu tham khảo
1. Florida, R. (2014). The rise of the creative class - Revisited (Sự trỗi dậy của tầng lớp sáng tạo - Nhìn lại). New York: Basic Books.
2. Phúc Minh. (2024, 6 tháng 6). Công nghiệp văn hóa phấn đấu đạt 7% GDP. Tạp chí Kinh tế Việt Nam. https://vneconomy.vn/bo-truong-bo-van-hoa-the-thao-va-dulich-cong-nghiep-van-hoa-phan-dau-dat-7-gdp.htm
3. Richards, G. (2019). Creative tourism: Opportunities for smaller places? (Du lịch sáng tạo: Cơ hội cho nhữngđiểm đến nhỏ). Tourism Recreation Research. 44(1).
4. Thủ tướng Chính phủ. (2016). Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
5. UNCTAD. (2022). Creative economy outlook 2022: The international year of creative economy for sustainabledevelopment (Triển vọng kinh tế sáng tạo 2022: Năm quốc tế của kinh tế sáng tạo vì sự phát triển bền vững). Geneva:United Nations.
Ngày Tòa soạn nhận bài:15/4/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 3/5/2026; Ngày duyệt bài: 15/5/2026.
TS PHẠM THỊ HẢI YẾN – TS PHẠM LÊ TRUNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 645, tháng 6-2026