Từ khóa: bảo tồn; phát huy; văn hóa dân tộc thiểu số; chuyển đối số.

Abstract: The cultures of Vietnam’s 53 ethnic minority groups constitute a core component of the country’s cultural diversity and unity. In the current era of national advancement, digital transformation has been identified as a breakthrough opportunity to develop digital ecosystems and digitize ethnographic data, thereby modernizing approaches to the preservation and promotion of cultural values. This paper examines the achievements and limitations of digitalization efforts, as well as the levels of digital capacity and technological infrastructure in ethnic minority regions, particularly in relation to the preservation and development of languages, traditional costumes, festivals, arts, and community-based cultural tourism. On this basis, the study proposes a comprehensive system of solutions aimed at enhancing the effectiveness of preserving and promoting traditional cultural among ethnic minority communities, contributing to sustainable development in the new era of national transformation.

Keywords: preservation; promotion; ethnic minority culture; digital transformation.

 

_PT_3396 copy.jpg
Đồng bào dân tộc S’Tiêng tỉnh Đồng Nai tổ chức tái hiện Lễ hội cầu phúc, cầu an đầu xuân tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam- Ảnh tư liệu minh họa: Tuấn Minh

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, các dân tộc thiểu số (DTTS) ở Việt Nam đã phát huy tiềm năng, thế mạnh, tính tự lực tự cường vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc cũng như phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số cũng đã chi phối ở nhiều mức độ khác nhau đến các lĩnh vực trong đời sống của đồng bào DTTS, trong đó có vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa. Trong bối cảnh ấy, các cộng đồng tộc người, dù là chủ động hay bị động, đã có sự chuyển biến làm mới và tái cấu trúc văn hóa để thích ứng và tồn tại trong điều kiện xã hội mới. Đó là việc làm mới cách thực hành văn hóa truyền thống và tiếp biến một cách có chọn lọc văn hóa để gia tăng tính thích ứng trong đời sống đương đại nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng, vừa hướng tới mục đích phát triển sinh kế, phát triển bền vững. Quá trình đó với sự hỗ trợ các công nghệ số, phương tiện kỹ thuật số, dữ liệu số… đã tăng thêm sức sống mới cho các giá trị văn hóa, không giới hạn thời gian, không gian và đối tượng thụ hưởng văn hóa. Tuy nhiên, bên cạnh thời cơ thuận lợi cũng đặt ra nhiều vấn đề mặt hạn chế, thách thức đối với vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa các DTTS, cần được nghiên cứu và tháo gỡ trong thực tiễn.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành, giữa dân tộc học, văn hóa học và khoa học quản lý. Cách tiếp cận này cho phép xem xét vấn đề bảo tồn văn hóa các tộc người không chỉ là các thực thể “tĩnh” mà là một hệ thống đang “tái cấu trúc” để thích ứng với bối cảnh xã hội mới. Việc bảo tồn được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS.

Thông qua phương pháp phân tích tài liệu, bài viết hệ thống hóa các chủ trương cốt lõi như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị định 05/2011/NĐ-CP và đặc biệt là Quyết định 1719/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm làm rõ khuôn khổ thể chế trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển kinh tế và an ninh vùng DTTS. Các văn bản chiến lược về số hóa như Quyết định 2026/QĐ-TTg và Quyết định 1087/QĐ-TTg được làm tiền đề luận giải cho sự chuyển dịch sang hệ sinh thái số. Phương pháp nghiên cứu trường hợp được bài viết áp dụng minh chứng cho hiệu quả của truyền thông đa phương tiện (VOV, VTV5, TTXVN) và các mô hình du lịch cộng đồng thành công trong việc quảng bá bản sắc ra quốc tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu đánh giá vai trò của các KOL trẻ trên nền tảng mạng xã hội (YouTube, TikTok) trong việc lan tỏa văn hóa truyền thống, từ đó, xác lập mối liên hệ hữu cơ giữa bảo tồn di sản và phát triển sinh kế trực tuyến.

Phương pháp logic và lịch sử được sử dụng nhằm nhận diện tiến trình biến đổi văn hóa qua các thời kỳ, đặc biệt là sự chuyển dịch từ bảo tồn truyền thống sang “bảo tàng số”. Phương pháp này cũng giúp chỉ ra các thách thức phi truyền thống như rào cản ngôn ngữ, vi phạm bản quyền hay nguy cơ xuyên tạc bản sắc trên không gian mạng.

3. Kết quả và thảo luận

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa DTTS trong bối cảnh chuyển đổi số nhìn từ phương diện chính sách

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc nên trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, các dân tộc đã tạo nên một nền văn hóa Việt Nam đa dạng trong thống nhất. Với 53 DTTS anh em, mỗi dân tộc đều có những sắc thái văn hóa riêng, tạo nên “cốt cách” của từng tộc người. Tuy nhiên, hiện nay “Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2003, tr.32), do đó phải “Quan tâm, tạo điều kiện phát triển văn hóa, văn nghệ của các dân tộc thiểu số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.144-145).

Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng, Chính phủ cùng các bộ, ngành và địa phương đã ban hành nhiều chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các DTTS. Đồng thời, phát huy tính “tích cực, ý chí tự cường” cũng như “tính đặc thù” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.170-171) trong bối cảnh chuyển đổi số để phát triển sinh kế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần cho đồng bào DTTS. Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 về Công tác dân tộc (Chính phủ, 2024) là cơ sở để các bộ, ngành và địa phương xây dựng và thực hiện các chính sách liên quan đến vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của các DTTS. Chẳng hạn như Quyết định số 1558/QĐ-TTg, ngày 5/8/2016 về phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam”; Quyết định số 209/QĐ-BVHTTDL, ngày 18/1/2019 về phê duyệt Đề án “Bảo tồn trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”; Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022 phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021-2030…  Đặc biệt, một trong những chính sách dân tộc lớn hiện nay là Quyết định 1719/QĐ-TTg, ngày 14/10/2021 của Thủ tướng về phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030”. Trong đó, Dự án 6 của Chương trình là gắn việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS với phát triển du lịch. Mới đây nhất, Nghị quyết số 424/NQ-CP của Chính phủ ngày 30/12/2025 đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình tích hợp từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (Chính phủ, 2025). Đây là cơ hội gia tăng nguồn lực, hiện đại hóa về phương tiện vật chất kỹ thuật số đối với vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các DTTS.

Đối với vấn đề bảo tồn văn hóa và phát huy giá trị văn hóa các DTTS gắn liền với chuyển đổi số, Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 2/12/2021 phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030. Chương trình đặt mục tiêu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa trên nền tảng công nghệ số thống nhất, phục vụ công tác lưu trữ, quản lý, nghiên cứu, bảo tồn, khai thác, quảng bá di sản nói chung và của đồng bào DTTS nói riêng, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững; bảo đảm tích hợp được vào khung kiến trúc Chính phủ điện tử và Hệ tri thức Việt số hóa… Dự án 10 của Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế, xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030 là về truyền thông, tuyên truyền, vận động trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, trong đó, có Tiểu dự án 2 hướng tới việc Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS và miền núi. Và gần đây nhất là Quyết định số 1087/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 1/10/2024 về việc Phê duyệt Đề án “Tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc đến năm 2030”…

Bên cạnh đó, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 về phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Quyết định số 942/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/6/2021 về phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 6/1/2022 về phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030…

Như vậy, nhóm những chính sách về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc gắn liền với các chính sách ứng dụng công nghệ số đã tạo điều kiện thuận lợi, gia tăng cơ hội như phát triển hạ tầng số; chuyển đổi nhận thức cho cả cán bộ, cho đồng bào DTTS về tầm quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; phát triển dữ liệu số - cập nhật thông tin, dữ liệu trên kho dữ liệu công tác dân tộc và kho dữ liệu thống kê 53 DTTS; kết nối, chia sẻ thông tin nhằm quảng bá các mô hình phát triển du lịch văn hóa cộng đồng; cập nhật các thông tin, dữ liệu về kết quả thực hiện bảo tồn tiếng nói, chữ viết, trang phục, nghệ thuật các DTTS Việt Nam; xây dựng, cập nhật thông tin, dữ liệu về lịch sử, văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán, các sản phẩm truyền thống và các thông tin, dữ liệu khác có liên quan lĩnh vực công tác dân tộc…