Mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và công nhân nhập cư trong không gian lễ hội
Lễ hội truyền thống ở Bắc Bộ vốn mang tính đóng, gắn chặt với cấu trúc cộng đồng làng xã cổ truyền: Trống làng nào làng ấy đánh, Thành hoàng làng nào làng ấy thờ. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay các lễ hội ở Mỹ Hào đang thể hiện trạng thái lưỡng phân: vừa mở toang cửa, vừa khép hờ.
Về phương diện hình thức và kinh tế, các lễ hội ở Mỹ Hào hiện nay có độ mở rất cao. Bước vào không gian lễ hội làng Bần hay lễ hội Yên Xá dễ dàng bắt gặp sự hiện diện đông đảo của công nhân nhập cư - những cư dân mới của vùng đất công nghiệp. Họ được nhận diện qua giọng nói khác biệt, trang phục trẻ trung, đôi khi còn mặc nguyên bộ đồng phục công nhân tranh thủ giờ tan ca ghé hội.
Sự xuất hiện của công nhân nhập cư tạo nên một biến đổi đáng chú ý trong cấu trúc xã hội của lễ hội tại Mỹ Hào. Việc lễ hội “mở cửa” đón nhận họ, xuất phát từ thực tế: họ là nguồn lợi kinh tế quan trọng. Với người dân địa phương đang chuyển đổi sinh kế sang làm dịch vụ, lực lượng lao động nhập cư trở thành nhóm khách hàng tiềm năng nhất. Họ đến lễ hội để mua sắm quần áo giá rẻ, ăn uống, tham gia các trò chơi có thưởng và các hoạt động giải trí cộng đồng. Sự hiện diện của dòng người này không chỉ làm cho không khí lễ hội trở nên đông đúc, náo nhiệt hơn mà còn mang lại nguồn thu đáng kể cho các quầy hàng của dân làng. Chị Thủy bán hàng ăn tại lễ hội Lỗ Xá chia sẻ: “Đông khách vãng lai mới vui. Chứ dân làng mình thì ai ăn ai mua làm gì, họ về nhà ăn cơm hết. Chỉ có công nhân, sinh viên thuê trọ mới ra đây tiêu tiền, mình mới bán được hàng” (Tư liệu điền dã, phỏng vấn ngày 3/2/2023).
Như vậy, ở lớp vỏ bề mặt, lễ hội chào đón công nhân nhập cư như những “người tiêu dùng văn hóa”, những du khách góp phần làm sôi động không khí hội hè. Tuy nhiên, càng đi sâu vào phần lõi mang tính thiêng và biểu tượng quyền lực của lễ hội như các nghi thức tế lễ, rước kiệu hay dâng hương trong hậu cung, người nhập cư hoàn toàn vắng bóng. Đó là một bức tường vô hình nhưng kiên cố ngăn cách tuyệt đối giữa dân gốc và dân ngụ cư. Người nhập cư chủ yếu đứng ở vị trí quan sát bên lề, dõi theo lễ hội từ phía ngoài hàng rào.
Tại lễ hội làng Yên Xá, khi đoàn rước kiệu Thánh đi qua, quan sát thấy hai thái cực cảm xúc đối lập. Ở giữa đường là những người dân gốc của làng trong những bộ trang phục lễ hội rực rỡ, gương mặt đầy háo hức. Họ hò reo, chen lấn để được chui qua kiệu cầu may. Ở hai bên vỉa hè là những nhóm công nhân đứng xem với ánh mắt tò mò, xa lạ và có phần rụt rè. Họ giơ điện thoại lên quay phim, chụp ảnh như du khách theo dõi một sự kiện văn hóa thú vị, hơn là tham dự nghi lễ của chính cộng đồng mình.
Một nhóm nữ công nhân người Nghệ An đang đứng nép vào tường rào xem hội. Khi hỏi: “Các em có vào trong đình thắp hương không?”, một cô gái trẻ rụt rè đáp: “Nhìn các cụ nghiêm quá, với lại đông người làng họ chen chúc, người lạ vào sợ bị mắng, sợ phạm húy, bọn em đứng ngoài xem tí rồi về đi làm ca” (Tư liệu điền dã, phỏng vấn ngày 3/2/2023).
Chi tiết này cho thấy dù cùng sinh sống trên một không gian địa lý, cùng chia sẻ môi trường lao động và nhịp sống thường nhật, người nhập cư vẫn khó tiếp cận không gian thiêng cốt lõi của cộng đồng làng xã. Đình làng với tư cách là biểu tượng của quyền lực, ký ức lịch sử và tính cố kết cộng đồng vẫn là “thánh địa” bất khả xâm phạm của cư dân bản địa.
Thậm chí, trong một số trường hợp, sự đông đúc và hỗn loạn do người lạ mang lại còn khiến người dân gốc cảm thấy bất an. Họ phải bố trí lực lượng an ninh, dân phòng canh gác cẩn mật các hòm công đức và đồ thờ tự quý giá, tạo nên bầu không khí đề phòng ngay trong chính ngày hội.
Việc cự tuyệt tham gia sâu của người ngoài còn là cách cộng đồng bản địa tái khẳng định chủ quyền văn hóa, vị thế chủ thể và quyền kiểm soát không gian thiêng trước sự gia tăng nhanh chóng của dòng người nhập cư trong bối cảnh đô thị hóa và công nghiệp hóa hiện nay.
Bị loại trừ khỏi các nghi lễ cộng đồng của làng, nhưng nhu cầu tâm linh của công nhân nhập cư tại Mỹ Hào rất lớn, thậm chí còn cấp thiết hơn cả dân địa phương. Cuộc sống xa nhà, áp lực công việc dây chuyền nặng nhọc, nỗi cô đơn, rủi ro tai nạn lao động và gánh nặng cơm áo gạo tiền luôn đè nặng lên vai. Họ cần một nơi để bấu víu và cầu nguyện. Và họ đã tìm thấy lối thoát tâm linh riêng, đó là chùa và các không gian tín ngưỡng phi cộng đồng như đền Mẫu, phủ, miếu cô.
Khác với đình là thờ Thành hoàng của làng, chùa là nơi thờ Phật - tôn giáo mang tính phổ quát, cứu khổ cứu nạn cho mọi chúng sinh không phân biệt thân sơ, gốc gác. Vì thế, chùa trở thành điểm đến tâm linh số một của công nhân nhập cư tại Mỹ Hào. Vào các ngày Rằm, mồng 1 hằng tháng các ngôi chùa lớn tại Bần Yên Nhân hay Phan Đình Phùng luôn tấp nập.
Chị Linh (22 tuổi, quê Tuyên Quang) tâm sự: “Mẹ ở quê đang ốm nặng mà em chưa xin nghỉ phép về được vì đang chạy đơn hàng gấp. Em ra đây thắp nén hương cầu cho mẹ bình an, cầu cho mình có sức khỏe để làm thêm gửi tiền về. Ở trong phòng trọ bức bối lắm, ra đây nghe tiếng chuông chùa thấy lòng nhẹ nhõm hơn, đỡ tủi thân” (Tư liệu điền dã, phỏng vấn ngày 5/2/2023).
Với những người như Linh, ngôi chùa không chỉ là nơi thờ cúng mà là một nơi lưu trú và chữa lành tinh thần. Ở đó, họ không bị phân biệt là dân ngụ cư hay người lạ. Trước đài sen, mọi nỗi khổ đều bình đẳng. Không gian chùa chiền tại Mỹ Hào, nhờ sự hiện diện của công nhân đã trở nên sống động và mang sắc thái nhân văn mới mẻ: nơi xoa dịu những vết thương tâm lý của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa.
Dân Mỹ Hào giữ chặt đình làng, nhưng họ lại khá cởi mở chia sẻ không gian chùa và đền với người nhập cư. Nhiều thủ nhang, sư trụ trì còn chủ động tổ chức các khóa lễ cầu an dành riêng cho công nhân hay tổ chức phát cơm chay miễn phí. Đây là những điểm sáng về sự hòa nhập cộng đồng, nơi tôn giáo đóng vai trò là chất keo gắn kết những mảnh vỡ xã hội.
Một điểm thú vị khác là cách người nhập cư mang theo những thực hành tín ngưỡng từ quê hương đến Mỹ Hào, qua đó tạo nên sự đa dạng trong đời sống tâm linh tại đây. Bên cạnh việc tham gia vào các cơ sở thờ tự sẵn có, nhiều công nhân tại các khu trọ còn lập bàn thờ vọng hướng về quê nhà hoặc thờ các vị thần bản địa gắn với vùng quê xuất thân của mình. Các hội đồng hương không chỉ tổ chức đá bóng hay ăn uống, mà còn đi lễ đầu năm cầu tài lộc và sức khỏe, thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ hoặc cùng nhau đóng góp kinh phí tu sửa một ngôi miếu nhỏ bị bỏ hoang gần khu công nghiệp để làm nơi thờ tự chung (Tư liệu điền dã ngày 5/2/2023).
Những hành động này mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, cho thấy người nhập cư không còn chấp nhận thân phận khách trọ tạm bợ. Họ đang bắt đầu cắm rễ vào mảnh đất này, kiến tạo nên những không gian thiêng liêng của riêng mình, đánh dấu sự hiện diện của mình không chỉ về mặt kinh tế mà cả mặt tinh thần trên bản đồ văn hóa Mỹ Hào.
Nhìn chung, mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và công nhân nhập cư trong không gian lễ hội và tâm linh tại Mỹ Hào là một bức tranh phức tạp, đan xen giữa đóng và mở, giữa loại trừ và bao dung.
4. Kết luận
Từ trường hợp Mỹ Hào có thể khẳng định rằng, lễ hội cổ truyền trong bối cảnh công nghiệp hóa và đô thị hóa không đơn thuần biến đổi về hình thức, mà đang trải qua quá trình tái cấu trúc toàn diện về chức năng, ý nghĩa và cấu trúc xã hội. Lễ hội ngày càng trở thành một thiết chế đa tầng, nơi các yếu tố văn hóa, kinh tế và quyền lực biểu tượng đan xen và tương tác. Sự gia tăng nguồn lực kinh tế và quá trình đô thị hóa đã thúc đẩy mở rộng quy mô lễ hội, đồng thời gia tăng tính trình diễn và thương mại hóa. Tuy nhiên, quá trình này làm xuất hiện những nghịch lý nội tại: sự phình to về hình thức đi kèm với sự suy giảm về chiều sâu cộng cảm; sự mở rộng về không gian xã hội lại song hành với các cơ chế phân tầng và loại trừ, đặc biệt giữa cư dân bản địa và lao động nhập cư. Trong bối cảnh đó, lễ hội không còn là một thực hành văn hóa thuần nhất, mà trở thành một “không gian thương thảo” nơi các nhóm xã hội liên tục tái định nghĩa bản sắc, vị thế và quyền tiếp cận của mình. Sự tái cấu hình này cho thấy, tính linh hoạt và khả năng thích ứng mạnh mẽ của văn hóa truyền thống, đồng thời đặt ra yêu cầu mới trong nghiên cứu và quản lý: cần nhìn nhận lễ hội như một thực thể sống động, biến đổi, thay vì một di sản tĩnh cần bảo tồn nguyên trạng.
______________________
Tài liệu tham khảo
1. Dương Thị Cẩm. (2012). Tuyển tập địa chí Hưng Yên. Sở Thông tin và Truyền thông Hưng Yên.
2. Hoàng Mạnh Thắng. (2009). Lễ hội cổ truyền ở Hưng Yên - sự biến đổi hiện nay. Luận án tiến sĩ Văn hóa học. Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.
3. Phòng Văn hóa thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. (2018). Thống kê các lễ hội cổ truyền trên địa bàn thị xã Mỹ Hào.
4. Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên. (2018). Đề án thành lập thị xã Mỹ Hào và 07 phường nội thị thuộc thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
5. Ủy ban nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. (2020). Báo cáo chương trình phát triển đô thị giai đoạn 2016-2020.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 30/5/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 12/6/2026; Ngày duyệt đăng: 30/6/2026.
Ths VŨ THỊ SOI NGẦN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 648, tháng 7/2026