Từ khóa: Kẻ Mọc; văn hóa dân gian; đô thị hóa; bảo tồn và phát huy.
Abstract: This article examines the folk culture of the Mọc villages (Kẻ Mọc) and its transformation under the impact of urbanization in Hanoi in recent years. Employing an interdisciplinary approach and ethnographic fieldwork, the study analyzes changes in cultural spaces, beliefs, festivals, customs, and community relations during the structural transition of the Mọc villages from peri-urban ancient villages to urban villages. The findings indicate that urbanization has not only reshaped the socio-economic structure but has also profoundly affected the transmission and practice of folk culture, placing many traditional cultural values at risk of erosion or transformation in their social functions. At the same time, this process has generated new forms of cultural adaptation, reflecting the community’s active efforts and resilience in preserving its cultural identity amid modernization. The study contributes to understanding the changing patterns of folk culture in the Mọc villages and proposes orientations and solutions for preserving and promoting traditional cultural values within the context of sustainable urban development.
Keywords: Kẻ Mọc; folklore; urbanization; preservation and promotion.

1. Đặt vấn đề
Tại Hà Nội, quá trình đô thị hóa không chỉ là sự tích tụ dân cư hay dịch chuyển địa giới hành chính, mà nó còn tác động mạnh mẽ đến cấu trúc kinh tế, xã hội, văn hóa của các làng nông nghiệp ven đô.
Các làng Mọc/ Kẻ Mọc là vùng văn hóa lâu đời, gồm năm làng Giáp Nhất, Chính Kinh, Cự Lộc, Quan Nhân và Phùng Khoang. Nơi đây còn lưu giữ các di sản phong phú, mang đậm văn hóa của cư dân nông nghiệp ven sông Tô Lịch, với hệ thống đình, chùa, sắc phong, bia ký, tục kết chạ, truyền thống hiếu học và lễ hội cộng đồng.
Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa trong những năm gần đây đã làm biến đổi sâu sắc không gian và đời sống văn hóa của cư dân Kẻ Mọc. Không gian văn hóa bị thu hẹp, nhiều nghi lễ bị giản lược, lối sống đô thị làm suy giảm tính liên kết cộng đồng. Vì vậy, việc nhận diện các xu hướng biến đổi và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Kẻ Mọc là yêu cầu cấp thiết, góp phần xây dựng Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết tiếp cận theo hướng liên ngành (Văn hóa học - Nhân học - Xã hội học đô thị) nhằm nhận diện những biến đổi của văn hóa dân gian các làng Mọc, cơ chế chuyển đổi cấu trúc không gian văn hóa - xã hội truyền thống và sự thích ứng của cộng đồng trong nỗ lực bảo tồn di sản. Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu để lựa chọn vấn đề nghiên cứu và thu thập dữ liệu thứ cấp. Đồng thời tiến hành điền dã dân tộc học nhằm thu thập dữ liệu sơ cấp. Quá trình khảo sát thực địa được thực hiện vào ngày thường và dịp lễ hội để quan sát sự biến đổi không gian làng và thực hành văn hóa dân gian của cộng đồng. Tác giả tiến hành phỏng vấn 30 người dân tại các làng Quan Nhân, Giáp Nhất, Cự Chính gồm: thủ từ, thành viên ban tế lễ, trưởng họ, khởi chỉ và người dân địa phương để thấy được tâm tư cũng như sự thích ứng của cộng đồng trước tác động của đô thị hóa; khảo sát giới trẻ về ý thức giữ gìn di sản; tham vấn cán bộ văn hóa phường Thanh Xuân để tìm hiểu các chủ trương, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian tại năm làng Mọc trong bối cảnh phát triển đô thị hiện nay.
3. Kết quả và thảo luận
Kẻ Mọc là tên cổ của vùng đất phía Tây Nam Kinh thành Thăng Long xưa. Từ thế kỷ XIII, nơi này đã hình thành tám cụm dân cư, sau đó làng Hòa Mục tách thành xã riêng. Đến thế kỷ XVII, bảy làng còn lại hợp thành hai xã Nhân Mục Cựu (gồm Thượng Đình và Hạ Đình) và Nhân Mục Môn (gồm Giáp Nhất, Quan Nhân, Hoa Linh (Chính Kinh), Cự Lộc và Phùng Khoang), lấy đường Lai Kinh làm ranh giới (Nguyễn Thị Thanh Hòa, 2025, tr.221). Năm 1723, Phùng Khoang tách thành xã riêng nhưng vẫn duy trì quan hệ giao hảo và sinh hoạt lễ hội với các làng Mọc. Về sau, Cự Lộc và Chính Kinh sáp nhập thành Cự Chính, nhưng dân gian vẫn quen gọi là: “năm làng Mọc”. Bài viết nghiên cứu văn hóa dân gian các làng Mọc thuộc xã Nhân Mục Môn xưa, gồm các làng: Giáp Nhất, Quan Nhân, Chính Kinh, Cự Chính, Phùng Khoang.
Di sản văn hóa dân gian các làng Mọc
Các di tích lịch sử - văn hóa
Các cụm di tích lịch sử - văn hóa của các làng Mọc đều được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật và gắn biển di tích cách mạng, kháng chiến. Trong đó, làng Giáp Nhất có đình thờ Thành hoàng Phùng Luông, bà Phạm Thị Uyển cùng hai em trai có công đánh giặc; chùa Giáp Nhất xây từ thời Hậu Lê, được phục dựng vào đầu thế kỷ XXI và còn lưu giữ bia cổ năm 1892, hệ thống tượng Phật tạo tác năm 1941. Làng Quan Nhân nổi bật với đình thờ Thành hoàng Hùng Lãng công mang kiến trúc thời Nguyễn, gắn liền với sự kiện Cách mạng tháng Tám (1945); khu văn chỉ thờ Khổng Tử; và chùa Sùng Phúc lưu giữ nhiều hiện vật quý. Làng Cự Chính có đình Cóc thờ danh tướng Lã Đại Liệu gắn với khởi nghĩa Lam Sơn; cụm di tích này kết hợp với chùa Bồ Đề (nơi trú quân của nghĩa quân Tây Sơn) và gò Đống Thây tạo thành quần thể lịch sử đặc sắc. Làng Phùng Khoang có đình thờ danh tướng Đoàn Thượng (đời Lý) với kiến trúc chồng diêm 8 mái độc đáo cùng nhiều sắc phong quý và chùa Thanh Xuân do công chúa Nguyễn Ngọc Nha tạo dựng, còn lưu giữ nhiều tượng Phật và di vật thời Nguyễn.
Các phong tục tập quán tiêu biểu
Tục kết chạ: Kết chạ là phong tục đẹp ở các làng quê Bắc Bộ, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương trợ cộng đồng. Năm làng Mọc cũng có lệ này. Tương truyền, ngày xưa do thiên tai mà dân chúng lâm vào cảnh đói khát, dịch bệnh. Dân làng Phùng Khoang được vua ban cháo và cơm nắm để cứu đói. Một cậu bé khi nhận được nắm cơm đã chia cho bốn cậu bé khác cùng ăn. Sau này lớn lên, năm người kết nghĩa anh em, tạo dựng nên năm làng Mọc trù phú, cam kết hỗ trợ và bảo vệ lẫn nhau. Theo thứ tự Giáp Nhất là anh cả, tiếp đến là Chính Kinh, Cự Lộc, Quan Nhân và Phùng Khoang là em út. Đây cũng là thứ tự các đoàn rước trong lễ hội năm làng Mọc. Khi mỗi làng có hội, lệ đều mời đại diện chính quyền, ban tế lễ và người dân các làng anh em đến dự. Đây là phong tục đẹp của năm làng Mọc cần được giữ gìn và phát huy.
Truyền thống hiếu học: “Lắm lúa Kẻ Giàn, lắm quan Kẻ Mọc” là câu nói dân gian về truyền thống hiếu học và khoa bảng của các làng Mọc. Sử sách và văn bia ghi lại, thời phong kiến các làng Mọc có khoảng 30 người đỗ tiễn sĩ. Hầu hết các làng Mọc đều có văn chỉ nhằm tôn vinh đạo học nhưng hiện chỉ còn văn chỉ làng Quan Nhân. Lấy gương người xưa để dạy dỗ con cháu là phương pháp hữu hiệu để các dòng họ ở Kẻ Mọc tiếp nối truyền thống hiếu học của cha ông.
Di sản văn hóa phi vật thể
Lễ hội năm làng Mọc
Cứ 5 năm một lần, từ ngày 10 đến 12/2 âm lịch, năm làng Mọc cùng tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân, cầu mưa thuận gió hòa và củng cố tinh thần đoàn kết trong cộng đồng. Lễ hội bắt nguồn từ tục kết chạ giữa năm làng Mọc, xưa kia chỉ được tổ chức vào những năm được mùa. Từ năm 1992, lễ hội được khôi phục và các làng thống nhất định kỳ tổ chức 5 năm/ lần theo hình thức luân phiên giữa các làng.
Từ trước Tết Nguyên Đán, các làng đã chọn những người đảm nhiệm vai trò quan trọng như: Bầu hậu (1), Khởi chỉ, Tổng cờ, đội tế, đội múa lễ, đội rước kiệu. Sáng mồng 9 làm lễ trình Thánh tại đình làng. Ngày mồng 10, các dòng họ trong làng lễ tế Thánh, buổi chiều làm lễ Tiên thường. Tùy từng làng đăng cai mà lễ rước được tổ chức vào ngày 11 (Quan Nhân, Phùng Khoang) hoặc 12 (Giáp Nhất, Cự Chính). Riêng làng Quan Nhân, vào ngày hôm trước, dân làng rước Đức Thánh Ông và Đức Thánh Bà ra “Nhà mộc dục” để bao sái, tuần du quanh làng rồi về đình Trong dự hội.
Sáng ngày 12, các đoàn rước tập trung tại địa điểm đón tiếp của làng đăng cai: Giáp Nhất đón tại ao Nghè, Cự Chính đón tại cầu Cống Lim, Quan Nhân đón tại đình Hội Xuân, Phùng Khoang đón tại cổng làng. Sau khi tề tựu đông đủ, các đoàn kiệu theo thứ tự tiến về trung tâm lễ hội. Tại đình, đội tế của năm làng tiến hành ba tuần tế hội đồng, rồi từng làng vào tế Thánh, sau đó, đến nhân dân và khách thập phương. Buổi trưa làng đăng cai tổ chức tiệc chiêu đãi các làng. Đến chiều là lễ rước Thánh hồi cung. Khi qua cổng làng, các kiệu Thánh thực hiện nghi thức chào nhau thể hiện tình gắn bó giữa các làng Mọc. Trong thời gian diễn ra lễ hội, nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như: đánh cờ, đá cầu, chọi gà, tổ tôm, bắt vịt... thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia.
Lễ hội năm làng Mọc mang giá trị lịch sử, văn hóa sâu sắc, phản ánh quá trình hình thành, phát triển vùng Kẻ Mọc, thể hiện khát vọng của nhân dân về cuộc sống bình yên, no đủ, tinh thần tương trợ cộng đồng. Lễ hội còn là môi trường lưu giữ và trao truyền các nghi lễ, nghệ thuật trình diễn dân gian và phong tục truyền thống cho thế hệ mai sau. Năm 2021, lễ hội năm làng Mọc được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Chợ phiên ngày 27 Tết
Ở vùng Kẻ Mọc có một phiên chợ chỉ họp một lần/ năm vào ngày 27 tháng Chạp. Truyền thuyết kể lại rằng, sau ngày 23 tháng Chạp, các chợ trong thành đều đóng cửa trong khi nông sản của bà con vẫn còn nhiều. Vì thế, Đoàn Thượng tướng quân cho phép mở chợ vào ngày này để bà con bán nốt nông sản và sắm Tết. Xưa chợ chủ yếu bán nông sản của bà con trong vùng, như: bánh kẹo của làng Lủ, gạo tám, ớt, ổi làng Định Công, rau củ của làng Láng, cá làng Sét (Thịnh Liệt)... Chợ được họp ở khu vực quanh hồ trước đình Quan Nhân. Trong chợ, ngoài hoạt động buôn bán còn có các sinh hoạt văn hóa dân gian, như: xin chữ ông đồ, hát xẩm. Phiên chợ này vẫn được duy trì đến ngày nay.
Chợ phiên làng Mọc còn gắn với sự kiện ngày 27 tháng Chạp năm 1788 trong chuỗi sự kiện Vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Do đó, phiên chợ còn mang ý nghĩa kỷ niệm chiến thắng Đống Đa, góp phần giáo dục lòng biết ơn, tinh thần yêu nước cho các thế hệ dân làng.