Từ khóa: lễ hội cổ truyền; biến đổi; công nghiệp hóa; đô thị hóa; phường Mỹ Hào.

Abstract: This article examines the transformation of traditional festivals in Mỹ Hào (Hưng Yên) ward under industrialization and urbanization. Based on ethnographic fieldwork, in-depth interviews, and document analysis, the study shows that festivals are not only changing in scale and form but also being restructured in social meaning and actor roles. Economic growth and labor migration generate diversity while also creating stratification in festival practices. While spectacle and cultural consumption expand, communal cohesion and sacred depth tend to decline. Festivals become arenas of negotiation among social groups with unequal access to sacred spaces. Rather than disappearing, they are reconfigured as hybrid cultural-economic institutions. This reflects the adaptive capacity of traditional culture in contemporary contexts.

Keywords: traditional festival; transformation; industrialization; urbanization; Mỹ Hào Ward.

 

nhan_dan_dia phuong du_khach_thap_phuong_tham_gia_le_ruoc_trong_le_hoi_den_hung_long.jpg
Nhân dân địa phương, du khách thập phương tham gia lễ rước trong lễ hội đền Hưng Long - Ảnh: baohungyen.vn

 

1. Đặt vấn đề

Thời gian diễn ra lễ hội cổ truyền ở Việt Nam thường vào mùa Xuân và mùa Thu. Các lễ hội ở Mỹ Hào cũng thường diễn ra vào mùa Xuân từ tháng Giêng đến tháng tư và mùa Thu từ tháng 9 đến tháng 11 (cuối Thu đầu Đông). Phần lớn lễ hội có thời gian tổ chức từ 1-2 ngày; dài nhất kéo dài từ 9-10 ngày như Lễ hội đình tổ dân phố Bạch Sam (từ mùng 6 đến 15 tháng Giêng), Lễ hội đình tổ dân phố Tiên Xá III (từ mùng 5 đến 15 tháng Giêng). Nhiều lễ hội diễn ra từ 4-5 ngày như Lễ hội cụm di tích đình, đền, chùa, miếu làng Vân Dương, Hòa Phong (từ mùng 3 đến mùng 7 tháng Giêng); Lễ hội đình Thuần Xuyên, Hưng Long (từ mùng 10 đến 15 tháng Giêng) (Hoàng Mạnh Thắng, 2009).

Nằm gần vùng văn hóa Luy Lâu xưa, trước đây trong huyện Mỹ Hào có một số lễ hội cầu mưa, thời gian tổ chức phụ thuộc vào thời tiết khi trời nắng hạn như Lễ hội chùa Thứa (Dị Sử), Lễ hội chùa Bà Gia và Lễ hội chùa Khuốc (phường Phan Đình Phùng cũ). Trong đó, Lễ hội chùa Thứa được khôi phục vào năm 1995 và nay vẫn duy trì. Các lễ hội ở phường Mỹ Hào được tổ chức ở đình, chùa, miếu gắn với di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo. Hiện, phường có 41 lễ hội tổ chức ở đình; 7 lễ hội tổ chức trong quần thể di tích đình, chùa, miếu; 4 lễ hội tổ chức tại chùa (Phòng Văn hóa thị xã Mỹ Hào, 2018).

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa ở phường Mỹ Hào, các lễ hội có xu hướng biến đổi mạnh mẽ về thời gian, không gian tổ chức và cả đội ngũ nhân lực tham gia. Quá trình biến đổi đó được nhận diện rõ nét hơn qua khảo sát nghiên cứu những trường hợp cụ thể của các địa phương tại phường Mỹ Hào.

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận liên ngành giữa nhân học văn hóa, xã hội học và nghiên cứu du lịch nhằm phân tích sự biến đổi của lễ hội tại phường Mỹ Hào. Phương pháp điền dã dân tộc học được sử dụng thông qua quan sát tham dự tại các lễ hội tiêu biểu giai đoạn 2022-2025, tập trung vào không gian, nghi thức và các tương tác xã hội. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu nhiều nhóm đối tượng (cư dân địa phương, ban khánh tiết, doanh nghiệp, công nhân nhập cư) nhằm phản ánh đa chiều trải nghiệm.

Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp thông qua các nguồn như địa chí, báo cáo quản lý văn hóa địa phương, thống kê lễ hội, luận án, công trình nghiên cứu liên quan đến lễ hội truyền thống và biến đổi văn hóa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Việc đối chiếu giữa tư liệu điền dã và tài liệu thứ cấp giúp tăng độ tin cậy và tính hệ thống của kết quả nghiên cứu.

Đồng thời, nghiên cứu vận dụng phương pháp so sánh để đối chiếu sự biến đổi của lễ hội Mỹ Hào qua các giai đoạn (trước và sau công nghiệp hóa), giữa các nhóm xã hội khác nhau (cư dân bản địa và người nhập cư), từ đó làm nổi bật các xu hướng tái cấu trúc về không gian, chủ thể và ý nghĩa của lễ hội.

Cuối cùng nghiên cứu tiếp cận lễ hội như một “thiết chế xã hội - văn hóa động”, qua đó phân tích lễ hội như một thực hành văn hóa truyền thống, một không gian thương thảo, nơi các lực lượng kinh tế, xã hội và biểu tượng tương tác, định hình lẫn nhau trong bối cảnh hiện đại.

3. Kết quả và thảo luận

Sự thay đổi quy mô, nội dung và kinh phí tổ chức lễ hội

Sự phát triển kinh tế nhanh chóng tại Mỹ Hào trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là quá trình chuyển đổi hàng trăm ha đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đô thị, đã tạo ra một lượng tiền khổng lồ lưu thông trong dân chúng. Những người nông dân chân lấm tay bùn ở Nhân Hòa, Phan Đình Phùng sau một đêm nhận tiền đền bù giải phóng mặt bằng cho khu công nghiệp Thăng Long II hay bán đất mặt đường Quốc lộ 5 với giá “tấc đất tấc vàng” bỗng chốc trở thành tỷ phú. Bên cạnh đó, tầng lớp thương nhân, hộ kinh doanh dịch vụ tại Bần Yên Nhân cũng phất lên nhanh chóng nhờ “ăn theo” sự phát triển của công nghiệp.

Dòng tiền dồi dào và đột ngột này cần một nơi để tiêu thụ và giải tỏa về mặt tinh thần. Và không gian tâm linh như đình, chùa, miếu, lễ hội trở thành địa chỉ ưu tiên hàng đầu để dòng tiền đó chảy vào. Có một tâm lý chung thú vị và phức tạp là người dân Mỹ Hào, đặc biệt là những người giàu lên nhờ bán đất cha ông để lại, dường như mang một nỗi niềm mặc cảm vô thức. Họ cảm thấy việc mất đất, bê tông hóa ruộng đồng là một sự đứt gãy với truyền thống, có lỗi với tiền nhân. Để bù đắp và mua sự yên tâm, họ sẵn sàng cung tiến những số tiền lớn để tu bổ đình chùa, tổ chức lễ hội thật to. Họ tin rằng, càng cúng nhiều tiền, thánh thần càng chứng giám và xá tội, càng phù hộ cho làm ăn phát đạt.

Nếu trước đây, kinh phí tổ chức lễ hội làng chủ yếu dựa vào hoa lợi ít ỏi của vài sào ruộng công (ruộng đình) hoặc đóng góp theo kiểu “hạt gạo cắn đôi, bát cơm phiếu mẫu” của dân làng, thì nay nguồn kinh phí này được xã hội hóa mạnh mẽ và thậm chí là dư thừa.

Tại lễ hội làng Bần (phường Bần Yên Nhân cũ) và lễ hội làng Lỗ Xá (xã Nhân Hòa cũ), hiện tượng công khai hóa hoạt động công đức thông qua các bảng vàng in bạt khổ lớn hoặc bia đá đặt trước cổng đình cho thấy sự biến đổi đáng kể trong cơ chế huy động nguồn lực cộng đồng của lễ hội truyền thống. Nếu trước đây, các khoản đóng góp chủ yếu mang tính tượng trưng với giá trị nhỏ lẻ, thì hiện nay quy mô công đức đã gia tăng mạnh mẽ, xuất hiện nhiều khoản tài trợ từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng từ cá nhân, doanh nghiệp và con em địa phương đang sinh sống, kinh doanh ở nhiều nơi.

Theo lời kể của Trưởng ban khánh tiết (hơn 60 tuổi) đình làng Bần, ngày xưa tổ chức lễ hội các làng xã thường thiếu hụt kinh phí, phải xoay xở từng khoản chi cho lễ vật cúng Thành hoàng, đội nhạc hay các nghi thức tế lễ cơ bản. Năm gần đây nhất, chỉ riêng tiền công đức thu được trong ba ngày chính hội đã gần 2 tỷ đồng, chưa kể hiện vật. Cái khó bây giờ của ban tổ chức lễ hội là tiêu tiền thế nào cho xứng tầm, tổ chức ra sao để dân làng và khách thập phương hài lòng (Tư liệu phỏng vấn ngày 2/2/2023).

Sự dồi dào về tài chính đã tạo điều kiện để các làng xã mở rộng quy mô tổ chức lễ hội đến mức tối đa. Các tiêu chí “to hơn, đẹp hơn, đông hơn” trở thành những từ khóa chủ đạo, những nỗi ám ảnh trong tư duy tổ chức lễ hội của người Mỹ Hào hiện nay. Có thể thấy, lễ hội không chỉ là không gian sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa truyền thống mà còn trở thành nơi thể hiện tiềm lực kinh tế, khả năng huy động nguồn lực xã hội và vị thế biểu tượng của cộng đồng địa phương.

Một xu hướng rõ rệt không thể đảo ngược ở Mỹ Hào là các lễ hội đang được mở rộng không ngừng về không gian vật lý và thời gian tổ chức, vượt xa khuôn khổ khiêm tốn của một hội làng truyền thống. Trước mỗi mùa lễ hội, các di tích đình, chùa thường được đại trùng tu với kinh phí lớn. Những ngôi đình cổ kính rêu phong, cột gỗ lim nhỏ bé, mái ngói thâm nâu ngày xưa - những chứng nhân của lịch sử đang dần được thay thế, làm mới hoặc cơi nới bằng những công trình bê tông cốt thép giả gỗ, ốp đá xanh, sơn son thếp vàng rực rỡ, bóng lộn. Cổng làng, sân hội được mở rộng thênh thang, lát gạch phẳng lì. Tại một ngôi đình ở Phan Đình Phùng, dân làng quyên góp đúc một quả chuông đồng nặng cả tấn và đôi rồng đá khổng lồ đặt chễm chệ trước sân đình, che khuất tầm nhìn vào hậu cung.

Rõ ràng, quy mô lễ hội và kiến trúc tâm linh đã trở thành một công cụ, một “vũ khí” biểu tượng để khẳng định vị thế giữa các cộng đồng làng xã. Làng nào có hội to hơn, rước kiệu đông hơn, đình đẹp hơn, tượng to hơn thì được coi là mạnh hơn, có phúc hơn, làm ăn phát đạt hơn. Đây là sự chuyển hóa từ vốn kinh tế sang vốn tượng trưng ở cấp độ cộng đồng, một cuộc đua tranh “con gà tức nhau tiếng gáy” tốn kém nhưng đầy hào hứng.

Phần lễ rước là linh hồn của lễ hội, nơi tái hiện lịch sử cộng đồng cũng trở nên hoành tráng đến mức choáng ngợp và đôi khi gây phiền toái. Nếu ngày xưa đoàn rước chỉ có vài chục người, trang phục đơn sơ tự may, thì nay đoàn rước kéo dài cả cây số, với sự tham gia của hàng nghìn người, làm tắc nghẽn cả một đoạn Quốc lộ 5 hay đường trục chính của phường trong nhiều giờ liền.

Sự đồng phục hóa và lộng lẫy hóa trang phục là nét mới đáng chú ý. Các hội đoàn (Hội Người cao tuổi, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, dòng họ, câu lạc bộ dưỡng sinh) đều sắm sửa những bộ trang phục tế lễ lộng lẫy, đắt tiền, may đo theo mẫu mã cung đình. Các bà xúng xính trong bộ áo dài nhung, khăn đóng, hài thêu, trang điểm đậm; các ông uy nghi trong trang phục quan văn, quan võ, cầm cờ lọng rợp trời. Nhìn vào đoàn rước có cảm giác như đang xem phim cổ trang được đầu tư kỹ lưỡng về phục trang (Tư liệu điền dã ngày 10/3/2023).

Tuy nhiên, đằng sau không khí náo nhiệt ấy, một số người không khỏi cảm thấy chạnh lòng, hụt hẫng trước sự biến đổi về chất của lễ hội. Sự linh thiêng, tính cộng cảm hồn nhiên và sự tham gia tự nguyện đang dần bị thay thế bởi xu hướng sân khấu hóa và sự xâm lấn của thương mại.

Trước đây, chủ thể của lễ hội đích thực là người dân. Họ tự biên tự diễn, tự hát chèo, tự đánh trống, tự đấu vật, tự nấu cỗ. Dù giọng hát có thể chênh phô, động tác múa vụng về, không đều nhưng đó là sự dâng hiến thành tâm lên Thành hoàng và là niềm vui tự thân, hồn nhiên của cộng đồng. Nhưng ngày nay với nguồn kinh phí dồi dào, ban tổ chức lễ hội tại Mỹ Hào có xu hướng thuê mướn các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, các công ty tổ chức sự kiện về làm lễ hội, thậm chí mời cả ca sĩ nổi tiếng, danh hài về biểu diễn với cát-xê hàng chục triệu đồng. Tại lễ hội làng Bần, thay vì xem các cụ trong đội văn nghệ thôn biểu diễn những làn điệu cổ, dân làng được thưởng thức các tiết mục quan họ Bắc Ninh, ca nhạc tạp kỹ, xiếc, ảo thuật... chuyên nghiệp. Các nghi thức tế lễ cũng được đạo diễn hóa, sắp đặt lại đội hình, ánh sáng để đẹp mắt hơn, ăn ảnh hơn, phục vụ cho việc quay phim, chụp ảnh đăng lên Facebook, YouTube (Tư liệu điền dã ngày 10/3/2023).

Hệ quả là, người dân địa phương từ vị thế chủ thể sáng tạo trở thành khán giả thụ động. Tính thiêng của nghi lễ bị giảm sút, nhường chỗ cho tính trình diễn và giải trí. Lễ hội thiếu đi sự rung cảm sâu xa từ bên trong, thiếu đi sự kết nối tâm linh giữa con người và thần thánh.

Sự biến đổi trong lễ hội tại Mỹ Hào như là một bức tranh tương phản, đa chiều. Một mặt cho thấy sức sống mãnh liệt, sự hồi sinh của văn hóa truyền thống và nhu cầu tâm linh lớn lao của người dân sau thời kỳ dài bị kìm hãm bởi khó khăn kinh tế. Người dân có ý thức tìm về cội nguồn, có điều kiện vật chất để chăm lo cho đời sống tinh thần. Nhưng mặt khác cũng phơi bày những mặt trái của sự phát triển nóng. Lễ hội đang bị vật chất hóa, sân khấu hóa và thương mại hóa. Quy mô càng to thì hồn cốt càng loãng. Sự linh thiêng là cái vốn dĩ vô hình, tinh tế và cần tĩnh lặng đang bị đè bẹp bởi những hình thức phô trương hữu hình, ồn ào. Người dân Mỹ Hào trong cơn say của sự thịnh vượng kinh tế mới, dường như đang loay hoay tìm cách định vị lại giá trị tinh thần của mình, nhưng đôi khi họ lại lạc lối, biến đình chùa thành nơi phô diễn cái tôi, thay vì là nơi hòa tan cái tôi vào cộng đồng.