Đại sứ Thuỵ Sỹ tại Việt Nam thăm làng văn hóa Lô Lô Chải ở Tuyên Quang
Đại sứ Thuỵ Sỹ tại Việt Nam thăm làng văn hóa Lô Lô Chải ở Tuyên Quang

Tuyên Quang là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, nơi sinh sống của hơn 30 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên một nửa dân số toàn tỉnh. Qua nhiều thế hệ, các cộng đồng dân tộc đã sáng tạo, lưu giữ và trao truyền kho tàng di sản văn hóa đặc sắc, tạo nên diện mạo văn hóa đa dạng, phong phú của địa phương. Theo kết quả kiểm kê di sản, Tuyên Quang sở hữu hệ thống di sản văn hóa phong phú với 663 di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê, trong đó có 53 di sản được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Những giá trị văn hóa truyền thống như tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ, lễ hội, nghề thủ công, tri thức dân gian, kiến trúc nhà ở và văn hóa ẩm thực không chỉ là tài sản tinh thần quý báu mà còn là nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Giữ hồn cốt văn hóa trong đời sống đương đại

Trên khắp các vùng quê của Tuyên Quang, tiếng hát Then của người Tày, điệu Páo dung của người Dao, Sình ca của người Cao Lan hay Soọng cô của người Sán Dìu vẫn vang lên trong các lễ hội, sinh hoạt cộng đồng và đời sống thường nhật. Những làn điệu dân ca, điệu múa truyền thống, cùng hệ thống nghi lễ, tập quán và tín ngưỡng dân gian tiếp tục được bảo tồn như những “bảo tàng sống” của văn hóa dân tộc.

Không gian văn hóa truyền thống cũng được gìn giữ thông qua các ngôi nhà sàn, nhà trình tường, các làng bản đặc trưng và những nghề thủ công truyền thống đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Trang phục dân tộc vẫn hiện diện trong các ngày lễ, ngày hội và được nhiều trường học khuyến khích học sinh mặc theo định kỳ nhằm giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa từ sớm.

Nhận thức rõ vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững, những năm qua, tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc. Công tác kiểm kê, sưu tầm, tư liệu hóa, phục dựng và truyền dạy di sản được quan tâm thực hiện thường xuyên. Nhiều lớp dạy tiếng dân tộc, các chương trình ngoại khóa về văn hóa truyền thống được tổ chức tại trường học và cộng đồng.

Đặc biệt, hệ thống các câu lạc bộ dân ca, đội văn nghệ quần chúng cùng đội ngũ nghệ nhân đang đóng vai trò nòng cốt trong việc trao truyền các giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ. Đây là lực lượng quan trọng góp phần giữ cho di sản tiếp tục sống trong cộng đồng thay vì chỉ tồn tại trong các tài liệu lưu trữ.

Lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang nhận giải thưởng Điểm đến hàng đầu châu Á năm 2025
Lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang nhận giải thưởng Điểm đến hàng đầu châu Á năm 2025

Chuyển hóa di sản thành sản phẩm du lịch

Điểm nổi bật trong công tác bảo tồn văn hóa của Tuyên Quang là gắn bảo tồn với khai thác, phát huy giá trị phục vụ phát triển du lịch. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống đã trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho địa phương. Tại các làng văn hóa du lịch cộng đồng, du khách có cơ hội trải nghiệm không gian sống của đồng bào dân tộc, thưởng thức dân ca, dân vũ, ẩm thực truyền thống, tham gia các lễ hội và tìm hiểu nghề thủ công đặc sắc.

Các sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn được tổ chức thường xuyên đã góp phần quảng bá hình ảnh vùng đất và con người Tuyên Quang đến với du khách trong nước và quốc tế. Thông qua đó, văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn lan tỏa, trở thành cầu nối thúc đẩy giao lưu, hợp tác và phát triển.

Sự phát triển của các mô hình homestay, du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương, nhất là ở vùng đồng bào DTTS. Đây là minh chứng sinh động cho việc biến di sản văn hóa thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế.

Các em bé Tày, Nùng ở bản Khun, xã Bằng Lang, tỉnh Tuyên Quang
Các em bé Tày, Nùng ở bản Khun, xã Bằng Lang, tỉnh Tuyên Quang

Văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế

Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực du lịch, việc bảo tồn văn hóa còn mở ra cơ hội phát triển kinh tế thông qua các sản phẩm truyền thống và sản phẩm OCOP. Nhiều nghề thủ công như dệt thổ cẩm, dệt lanh, thêu truyền thống, chế tác đồ lưu niệm đang được duy trì và phát triển. Các sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn từng bước tiếp cận thị trường quốc tế.

Thông qua các hợp tác xã, tổ hợp tác và làng nghề truyền thống, nhiều lao động địa phương có việc làm ổn định, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Đặc biệt, phụ nữ DTTS có thêm cơ hội tham gia phát triển kinh tế, khẳng định vai trò trong gia đình và xã hội.

Việc kết hợp giữa bảo tồn nghề truyền thống với phát triển du lịch trải nghiệm đã tạo nên chuỗi giá trị mới, giúp các giá trị văn hóa được bảo tồn một cách bền vững thông qua chính lợi ích kinh tế mà chúng mang lại.

Gìn giữ bản sắc để phát triển bền vững

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo tồn văn hóa vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Một số giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một; việc sử dụng tiếng nói, chữ viết dân tộc và thực hành các phong tục truyền thống đang giảm dần trong một bộ phận giới trẻ. Nguồn lực đầu tư cho bảo tồn văn hóa còn hạn chế; công tác số hóa, quảng bá trên môi trường số chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, bảo tồn văn hóa không thể chỉ dừng ở việc lưu giữ mà cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa với phát triển. Văn hóa phải được sống trong cộng đồng, được trao truyền cho thế hệ trẻ và được khai thác hợp lý để tạo ra giá trị kinh tế.

Tuyên Quang luôn xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển. Bảo tồn văn hóa không chỉ để gìn giữ ký ức của quá khứ mà còn để tạo dựng tương lai, góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp, bản sắc và phát triển bền vững.

Khi những giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục được gìn giữ, phát huy và lan tỏa, đó không chỉ là niềm tự hào của các dân tộc anh em trên địa bàn tỉnh mà còn là sức mạnh để Tuyên Quang khẳng định vị thế trên bản đồ văn hóa và du lịch Việt Nam.

NGUYỄN HOÀI

Nguồn: Tạp chí VHNT số 649, tháng 7-2026