Nghệ sĩ Nhật Linh vai Từ Đạo Hạnh và NSƯT Hồng Nhung vai Hoàng hậu Thảo.jpg
Nghệ sĩ Nhật Linh vai Từ Đạo Hạnh và NSƯT Hồng Nhung vai Hoàng hậu Thảo

Từ truyền thuyết lịch sử đến bi kịch nhân sinh giàu triết lý

Mới đây Nhà hát Cải lương Hà Nội ra mắt vở diễn Vua hóa hổ của cố tác giả Lưu Quang Vũ, chuyển thể Cải lương bởi Song Thụy. Tác phẩm dựa trên truyền thuyết về căn bệnh kỳ quái của Vua Lý Thần Tông – người được cho là bị mọc lông đầy người như hổ. Từ một giai thoại dân gian Lưu Quang Vũ đã phát triển thành một kịch bản giàu tính triết lý, đặt ra những vấn đề sâu sắc về quyền lực, đạo đức và nhân tính.

Câu chuyện xoay quanh Từ Đạo Hạnh – một tráng sĩ áo vải vì nghĩa lớn đã đứng lên dấy binh diệt trừ cái ác. Tuy nhiên khát vọng chiến thắng đã khiến ông lựa chọn con đường nguy hiểm: uống thứ nước ma quái của Bạch Hổ tinh để có được sức mạnh phi thường. Chính từ đây, bi kịch đã bắt đầu hình thành khi cái ác không chỉ tồn tại bên ngoài mà còn nhen nhóm ngay trong chính con người ông.

Trong một trận giao chiến, Đạo Hạnh bắt được mẹ của Lữ Thức và sai Minh Không – là bạn và là phó tướng treo cổ bà lên. Nhưng Minh Không nhận ra rằng dùng cái ác để chống lại cái ác sẽ không bao giờ mang lại kết quả tốt đẹp. Ông đã thả bà lão với niềm tin vào sức mạnh của lòng nhân đạo, rồi nhận lỗi, trao lại gươm áo và lui về ở ẩn. Hành động này không chỉ thể hiện tinh thần nhân đạo mà còn mở ra một hướng giải quyết mang tính đạo đức. Người mẹ trở về khuyên nhủ con, Lữ Thức đã nhận ra sai lầm và tự kết liễu đời mình.

Tuy nhiên khi chiến thắng và lên ngôi vua, Đạo Hạnh lại rơi vào vòng xoáy của quyền lực, ông dùng bạo lực để cai trị dân lành. Nhớ tới người bạn cũ, Vua sai lính vào rừng tìm Minh Không về nhưng không được. Không chấp nhận thất bại, ông ra lệnh đốt rừng, để ép bạn phải xuất hiện. Minh Không quyết lánh xa cõi đời, được người học trò là Ất giúp thoát khỏi biển lửa. Càng về sau sự tha hóa của nhà vua càng trở nên rõ nét: ông cho chặt chân tay cả những người lính đã từng vào sinh ra tử với mình chỉ vì họ đói quá mà làm liều đi ăn trộm, giết cả người già từng là giám quan trong triều trước chỉ vì họ còn vấn vương.

Đỉnh điểm của bi kịch là khi lời nguyền của hổ tinh trở thành hiện thực: nhà vua dần biến đổi, mọc lông như thú, đánh mất hình dạng con người. Đó không chỉ là sự biến đổi về thể xác mà còn là biểu hiện của sự đánh mất nhân tính.

Hoàng hậu Thảo tìm mọi cách cứu chồng. Được mẹ của Lữ Thức chỉ dẫn, nàng tha thiết mời Minh Không về triều cứu giúp. Nhà vua trở lại hình dạng con người nhờ vào tình yêu thương của người vợ đã hi sinh đến tận cùng, nhờ vào tình bạn tri kỷ của Minh Không và trên hết là nhờ sự tự đấu tranh nội tâm của chính Đạo Hạnh để loại bỏ thú tính, trở về với nhân tính. Hổ tinh và bè lũ phản nghịch bị tiêu diệt, khép lại hành trình chuộc lỗi đầy đau đớn.

Từ Đạo Hạnh hóa hổ.jpg
Từ Đạo Hạnh hóa hổ

Làm mới Cải lương qua tư duy dàn dựng hiện đại

Nếu nội dung kịch bản giàu tính triết lý thì phần dàn dựng của NSND, Đạo diễn Triệu Trung Kiên là yếu tố làm nên sức sống mới cho tác phẩm. Với tư duy sân khấu hiện đại, đạo diễn đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca - múa  - nhạc - kịch cùng kỹ thuật âm thanh, ánh sáng để tăng tính biểu cảm. Đặc biệt lớp diễn vua hóa hổ gây ấn tượng mạnh nhờ cách xử lý âm thanh. Việc sử dụng công nghệ biến đổi giọng nói (voice changer), hạ tông (pitch), tăng âm trầm (bass) và thêm hiệu quả gầm rú đã tạo nên sự chuyển đổi đầy ám ảnh từ giọng người sang giọng thú, hỗ trợ hiệu quả cho diễn xuất. Đạo diễn Triệu Trung Kiên chịu ảnh hưởng từ phong cách của đạo diễn người Đức Bertol Brecht trong việc sử  dụng dàn diễn viên tập thể linh hoạt: khi là quần chúng, khi hóa thân thành rừng cây, cỏ lá, lúc lại trở thành bè lũ ma quái hay những tên lính phản chủ đồng thời tham gia chuyển cảnh trực tiếp trên sân khấu, tạo nên sự liền mạch cho vở diễn… Đạo diễn đưa nghệ thuật múa Rối vào tạo hình nhân vật, đặc biệt là hình tượng Từ Đạo Hạnh với mô hình đầu hổ lớn.

Nghệ thuật hình thể được đưa vào nhằm tái hiện không gian rừng núi, chiến trận. Những động tác vén cây, rẽ lá, vít dây rừng của các nhân vật giúp khán giả hình dung rõ bối cảnh mà không cần đến cảnh trí cầu kỳ. Thủ pháp tả ý được đạo diễn Trung Kiên khai thác triệt để trong cách dàn dựng: ông đã cho sử dụng các dải lụa mang tính chất tượng trưng, ước lệ cho sự việc. Lụa xanh tượng trưng cho mặt nước, lụa trắng cho màn trướng cung đình, lụa đỏ biểu đạt dòng máu, lụa vàng tượng trưng cho tấm lưới vây bắt, không chỉ tạo hiệu ứng thị giác mà còn tăng chiều sâu biểu tượng cho tác phẩm.

Diễn xuất của nghệ sĩ và hiệu quả biểu đạt nhân vật

 Bên cạnh dàn dựng, thành công của vở diễn còn đến từ sự thể hiện của dàn diễn viên. Nghệ sĩ Nhật Linh trong vai Từ Đạo Hạnh đã xây dựng hình tượng nhân vật với hai mặt đối lập: một tráng sĩ dũng mãnh và một vị vua đầy tham vọng. Anh thể hiện tốt các lớp võ thuật cũng như diễn xuất chuyển biến tâm lý phức tạp, đặc biệt là quá trình biến đổi thành hổ.

NSƯT Hồng Nhung trong vai Thảo đã mang đến hình ảnh người phụ nữ giàu đức hi sinh. Lối diễn chân phương, giàu cảm xúc cùng giọng ca ngọt ngào, truyền cảm đã giúp nhân vật trở nên gần gũi và lay động lòng người, nhất là lớp diễn tự hiến máu cứu chồng. Câu hát run rẩy, lời thoại đứt quãng, nét mặt co thắt, hình thể quằn quại vì đau đớn, Hồng Nhung đã để lại khoảng lặng và nỗi xót thương trong lòng khán giả.

NSƯT Hoàng Viện với giọng ca trầm ấm, mùi mẫn, nhịp điệu vững vàng đã xây dựng thành công hình tượng Minh Không – một nhân vật ôn hòa, giàu nghĩa nhân. Hoàng Viện có lối diễn xuất điềm đạm từ trong cách thoại, cách ca và động tác hình thể đã làm nổi bật đức tính từ bi của nhân vật. Ca trong diễn, diễn trong ca, Hoàng Viện không chỉ ca hay các bản Vọng cổ, Phi vân điệp khúc, Tứ đại oán, Lý Giao duyên, Lý con sáo mà ca bằng tâm trạng của nhân vật khiến khán giả nghe mà thấm vào lòng. NSND Thanh Hương trong vai mẹ Lữ Thức mang đến hình tượng một bà lão đẹp, nhân hậu và bao dung. Nghệ sĩ Thanh Hương có giọng ca ngọt ngào truyền cảm, cứ cất giọng ca lên là cuốn hút người xem. Ở tuyến phản diện, NSƯT Quang Tuấn đã gây được ấn tượng với vai Hoàng Địch – Bạch Hổ tinh hóa hình, qua lối diễn lạnh lùng, ánh mắt sắc lạnh và chất giọng vang, góp phần làm nổi bật sự thâm độc, thú tính của nhân vật.

Một thành phần sân khấu không thể thiếu là trang trí sân khấu. Thiết kế của NSND Doãn Bằng giản dị nhưng giàu ý nghĩa biểu đạt, góp phần chuyển tải chiều sâu tư tưởng của tác giả và ý đồ dàn dựng của đạo diễn. Không gian sân khấu được tổ chức hợp lý, cảnh trí, màu sắc kết hợp với ánh sáng và đạo cụ mang lại hiệu quả cho cả vở diễn và diễn xuất.

Các lớp múa do nghệ sĩ Nông Lê Phương biên đạo vừa uyển chuyển, giàu chất thơ của múa tạo hình, vừa có những lớp múa quằn quại, co rút, mang màu sắc ma mị của múa Đương đại. Phục trang của NSƯT Minh Hùng được xây dựng trên cơ sở lịch sử, có sự sáng tạo phù hợp, vừa làm nổi bật đặc điểm nhân vật, vừa giữ được “hồn Việt”. Âm nhạc của NSND Hoàng Anh Tú sống động, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, tạo nên sức cuốn hút cho vở diễn. Tổng thể sự sáng tạo phối hợp của toàn bộ ê kip đã xây dựng nên một tác phẩm vở diễn giàu giá trị nghệ thuật, phát huy hiệu quả tính ước lệ của sân khấu truyền thống đồng thời đáp ứng nhu cầu thưởng thức ngày càng đa dạng của công chúng.

Dù ra đời từ những năm 80 của thế kỷ trước, Vua hóa hổ vẫn giữ nguyên giá trị thời sự. Việc tái dựng vở diễn không chỉ là sự tri ân với Lưu Quang Vũ mà còn là lời nhắc nhở về những nguy cơ luôn hiện hữu trong xã hội: tham vọng quyền lực, sự suy thoái đạo đức và quá trình tự đánh mất bản thân. Vua hóa hổ vì thế không chỉ là một tác phẩm sân khấu mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh, nhắc con người giữ vững bản ngã, hướng tới những giá trị nhân văn. Chính điều đó làm nên sức sống lâu bền cho các tác phẩm của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đến ngày hôm nay.

Cảnh trong vở Vua hóa hổ.jpg
Cảnh trong vở Vua hóa hổ

ĐẶNG MINH NGUYỆT

Nguồn: Tạp chí VHNT số 644, tháng 5-2026