Từ khóa: văn hóa; nguồn lực nội sinh; tăng trưởng hai con số; công nghiệp văn hóa; kinh tế sáng tạo; sức mạnh mềm.
Mở đầu
Khát vọng đưa Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới với tốc độ tăng trưởng cao đang đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới, đồng thời nâng cấp chất lượng của các động lực truyền thống. Sáu tháng đầu năm 2026, GDP Việt Nam tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, khu vực dịch vụ tăng 8,09%. Kết quả này cho thấy sức bật đáng ghi nhận của nền kinh tế, nhưng mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới đòi hỏi nhiều hơn một sự gia tăng về vốn, lao động hay khai thác tài nguyên. Khi dư địa của các lợi thế dựa trên chi phí thấp dần thu hẹp, năng lực cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào chất lượng con người, trình độ đổi mới sáng tạo, niềm tin xã hội, khả năng tổ chức hợp tác, sức hấp dẫn quốc gia và năng lực tạo ra những sản phẩm có hàm lượng tri thức, bản sắc và sở hữu trí tuệ cao.[1]
Trong bối cảnh đó, văn hóa cần được đặt đúng vào cấu trúc của bài toán tăng trưởng. Nếu chỉ nhìn văn hóa như một lĩnh vực tiêu dùng ngân sách hoặc một khu vực tạo ra các hoạt động nghệ thuật, lễ hội, di sản, chúng ta sẽ bỏ qua phần lớn giá trị mà văn hóa tạo ra cho nền kinh tế và xã hội. Nhà kinh tế văn hóa David Throsby sử dụng khái niệm “vốn văn hóa” để chỉ những tài sản hữu hình và vô hình chứa đựng, lưu giữ hoặc cung cấp giá trị văn hóa bên cạnh giá trị kinh tế mà chúng có thể mang lại. Cách tiếp cận này rất có ý nghĩa đối với Việt Nam, bởi kho tàng di sản, nghệ thuật, tri thức truyền thống, phong tục, ký ức, cảnh quan, ngôn ngữ, nghề thủ công, ẩm thực và các hệ giá trị cộng đồng không chỉ là đối tượng cần bảo tồn; nếu được quản trị tốt, chúng còn có thể trở thành nguồn nguyên liệu cho sáng tạo, đổi mới, thương hiệu, du lịch, công nghệ và các ngành kinh tế mới.[2]

Tương tự, lý thuyết “sức mạnh mềm” của Joseph S. Nye nhấn mạnh năng lực tạo ra sự hấp dẫn và định hình sự lựa chọn của người khác thông qua văn hóa, giá trị và tính chính danh, thay vì chủ yếu dựa vào cưỡng chế hay chi trả. Đặt trong cạnh tranh quốc gia hiện nay, sức hấp dẫn văn hóa không phải một giá trị trang trí bên ngoài nền kinh tế. Nó ảnh hưởng đến hình ảnh đất nước, quyết định du lịch, tiêu dùng, đầu tư, học tập, hợp tác và sự lan tỏa của sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế. Một bộ phim, bài hát, trò chơi điện tử, thiết kế, món ăn hay câu chuyện di sản có thể đồng thời tạo doanh thu, tạo việc làm, mở thị trường và hình thành thiện cảm đối với quốc gia.[3]
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt văn hóa trong một nhận thức phát triển rộng hơn khi xác định phát triển văn hóa, con người là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, tiếp tục tạo hành lang pháp lý và nhiều cơ chế cụ thể về nguồn lực, đầu tư, ưu đãi và thử nghiệm chính sách cho lĩnh vực văn hóa. Đây là cơ sở quan trọng để đặt câu hỏi theo một cách mới: văn hóa sẽ đóng góp như thế nào vào tăng trưởng hai con số, không chỉ ở phần có thể đo trực tiếp bằng GDP mà cả ở phần giá trị tinh thần, xã hội và thể chế tạo ra chất lượng của tăng trưởng?[4][5]
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích chính sách, tổng hợp tài liệu và so sánh kinh nghiệm quốc tế để làm rõ ba vấn đề: thứ nhất, cơ chế mà hệ giá trị, niềm tin, đoàn kết, lòng yêu nước và chất lượng con người tác động đến năng lực phát triển; thứ hai, khả năng chuyển hóa vốn văn hóa thành giá trị kinh tế trực tiếp thông qua công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo; thứ ba, những điều kiện thể chế, dữ liệu, thị trường, sở hữu trí tuệ và nhân lực cần thiết để văn hóa thực sự trở thành một động lực tăng trưởng mới của Việt Nam.
1. Văn hóa như nguồn lực nội sinh: từ hệ giá trị, niềm tin xã hội đến chất lượng tăng trưởng
Đóng góp đầu tiên và sâu xa nhất của văn hóa đối với tăng trưởng nằm ở việc văn hóa hình thành con người và các quy tắc ứng xử xã hội. Mọi nền kinh tế đều vận hành thông qua con người, nhưng con người không hành động chỉ bằng động cơ lợi ích vật chất. Những giá trị như trung thực, trách nhiệm, kỷ luật, tôn trọng pháp luật, hợp tác, tôn trọng cam kết, ham học hỏi, tinh thần sáng tạo và ý thức cộng đồng tác động trực tiếp đến cách người lao động làm việc, doanh nghiệp kinh doanh, công chức phục vụ, nhà khoa học nghiên cứu và xã hội phối hợp để giải quyết các vấn đề chung. Vì thế, văn hóa có thể được xem như một dạng “hạ tầng mềm” của phát triển: khó nhìn thấy như đường sá hay nhà máy, nhưng chi phối hiệu quả vận hành của các thiết chế hữu hình.
Nghiên cứu của OECD về niềm tin và vốn xã hội cho thấy niềm tin giữa người với người và niềm tin vào thể chế có quan hệ chặt với tăng trưởng kinh tế, gắn kết xã hội và phúc lợi; niềm tin giúp giảm chi phí giao dịch, hỗ trợ hợp tác, đầu tư và đổi mới trong bối cảnh hợp đồng luôn không hoàn hảo và thông tin luôn có giới hạn. Với một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh, điều này đặc biệt quan trọng. Tăng trưởng hai con số sẽ làm tăng tốc độ lưu chuyển vốn, lao động, thông tin, dữ liệu và cơ hội kinh doanh; nếu thiếu một nền văn hóa tin cậy, thượng tôn pháp luật và giữ chữ tín, tốc độ cao có thể kéo theo chi phí kiểm soát lớn hơn, tranh chấp nhiều hơn và sự suy giảm hiệu quả. Ngược lại, một môi trường xã hội có mức độ tin cậy cao giúp các chủ thể mạnh dạn hợp tác, chia sẻ tri thức, chấp nhận rủi ro sáng tạo và hình thành những mạng lưới kinh doanh có quy mô lớn hơn.[6]
Ở bình diện quốc gia, hệ giá trị còn cung cấp nền tảng tinh thần cho những mục tiêu phát triển dài hạn. Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh việc phát triển toàn diện văn hóa, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; trong đó chuẩn mực con người được xác định với các phẩm chất yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Đây không phải là một tập hợp khái niệm đứng ngoài kinh tế. Yêu nước có thể chuyển hóa thành trách nhiệm với chất lượng hàng hóa Việt Nam, với uy tín thương hiệu Việt Nam và khát vọng chinh phục thị trường quốc tế. Đoàn kết tạo năng lực hành động tập thể. Tự cường nuôi dưỡng ý chí làm chủ công nghệ và không cam chịu vị trí thấp trong chuỗi giá trị. Trung thực và trách nhiệm giảm chi phí của sự thiếu tin cậy. Kỷ cương tạo môi trường ổn định cho đầu tư. Sáng tạo là điều kiện cốt lõi của nền kinh tế tri thức.[7]
Tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước còn có ý nghĩa như một nguồn lực chống chịu. Lịch sử Việt Nam cho thấy trong những thời điểm khó khăn, năng lực quy tụ cộng đồng, chia sẻ trách nhiệm và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cục bộ đã tạo ra sức mạnh vượt quá nguồn lực vật chất có thể đo đếm. Trong điều kiện hiện nay, tinh thần ấy cần được chuyển hóa từ động viên trong những tình huống đặc biệt thành năng lực hợp tác thường ngày: hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giữa các ngành, giữa trung ương và địa phương, giữa nhà khoa học và thị trường, giữa nghệ sĩ và công nghệ, giữa cộng đồng nắm giữ di sản và nhà đầu tư. Chính khả năng vượt qua “ốc đảo” lợi ích và phối hợp trên mục tiêu chung sẽ quyết định tốc độ chuyển hóa chính sách thành kết quả.
Ở góc độ này, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026 gợi mở một nhận thức rất căn bản: “Chính sức sống bền bỉ của văn hóa đã gìn giữ sức sống của dân tộc.” Câu nói này trước hết nhắc tới sức mạnh bảo tồn bản sắc qua lịch sử, nhưng trong bối cảnh phát triển mới còn cho thấy một chiều kích khác: sức bền của nền kinh tế không thể tách rời sức bền của các giá trị làm nên cộng đồng. Tăng trưởng nhanh nhưng làm suy giảm niềm tin, làm đứt gãy quan hệ cộng đồng, làm nghèo đời sống tinh thần hoặc làm tổn thương bản sắc thì về dài hạn sẽ tự làm yếu nền tảng của chính tăng trưởng.[8]
Vì vậy, khi nói văn hóa đóng góp vào tăng trưởng hai con số, cần tránh hai cực đoan. Một cực đoan là chỉ nhìn văn hóa như lĩnh vực tinh thần, từ đó tách văn hóa khỏi logic phát triển kinh tế. Cực đoan còn lại là chỉ chứng minh giá trị văn hóa bằng doanh thu, lượng vé bán ra hay phần trăm GDP. Văn hóa có giá trị tự thân và giá trị xã hội không thể quy đổi đầy đủ thành tiền; đồng thời chính những giá trị tưởng như “không kinh tế” ấy lại tạo ra điều kiện để kinh tế vận hành tốt hơn. Một xã hội trọng học, trọng tài năng, giữ chữ tín, tôn trọng sáng tạo, đề cao trách nhiệm và nuôi dưỡng khát vọng cống hiến sẽ có nền tảng tốt hơn cho năng suất, đổi mới và tăng trưởng. Xét đến cùng, tăng trưởng hai con số không chỉ cần thêm vốn vật chất; nó cần một “vốn tinh thần” đủ mạnh để biến nguồn lực thành kết quả và biến kết quả thành phát triển bền vững.
2. Từ vốn văn hóa đến sức sản xuất mới: công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và đóng góp vật chất
Nếu đóng góp tinh thần của văn hóa thường mang tính gián tiếp và lan tỏa, thì công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo cho thấy một mặt khác: văn hóa có thể trực tiếp trở thành sức sản xuất, hàng hóa, dịch vụ, tài sản trí tuệ và thị trường. Trong nền kinh tế số, giá trị ngày càng ít phụ thuộc vào khối lượng vật chất của sản phẩm và ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào ý tưởng, câu chuyện, thiết kế, thương hiệu, trải nghiệm và quyền sở hữu trí tuệ. Một tập tin âm nhạc có thể được phân phối tới hàng triệu người với chi phí biên rất thấp; một nhân vật hư cấu có thể sống đồng thời trong phim, trò chơi, đồ chơi, thời trang và quảng cáo; một di sản có thể tạo ra chuỗi giá trị từ bảo tàng, giáo dục, trình diễn, thiết kế, du lịch, ẩm thực đến nội dung thực tế ảo. Đây chính là không gian để văn hóa tham gia sâu hơn vào tăng trưởng.
Quy mô kinh tế sáng tạo trên thế giới cho thấy xu thế này. Báo cáo Creative Economy Outlook 2024 của UNCTAD, dựa trên khảo sát 36 nền kinh tế chủ yếu là các nước đang phát triển, ghi nhận kinh tế sáng tạo đóng góp từ 0,5% đến 7,3% GDP và từ 0,5% đến 12,5% việc làm, dù UNCTAD lưu ý số liệu giữa các nước chưa hoàn toàn so sánh được do khác nhau về khái niệm và phương pháp đo lường. Xuất khẩu dịch vụ sáng tạo toàn cầu đạt khoảng 1,4 nghìn tỷ USD năm 2022, tăng 29% so với năm 2017; xuất khẩu hàng hóa sáng tạo đạt 713 tỷ USD. Những con số này cho thấy sáng tạo không còn là phần phụ của nền kinh tế mà đã trở thành một khu vực có khả năng tăng trưởng, xuất khẩu và tạo việc làm ở quy mô lớn.[9]
Với Việt Nam, số liệu tổng hợp được công bố rộng rãi gần nhất cho thấy công nghiệp văn hóa đóng góp 3,92% GDP năm 2021 và 4,04% GDP năm 2022; giai đoạn 2018-2022, số cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa tăng bình quân khoảng 7,2%/năm, đạt trên 70.000 cơ sở; lực lượng lao động liên quan được công bố ở mức khoảng 2,3 triệu người, tương đương 4,42% lực lượng lao động của nền kinh tế. Cần nhấn mạnh đây là mốc thống kê năm 2022, không phải con số hiện tại của năm 2026. Chính khoảng trống dữ liệu cập nhật này cho thấy yêu cầu phải sớm hình thành hệ thống thống kê thống nhất, bởi nếu không đo được doanh thu, giá trị gia tăng, xuất khẩu, việc làm, bản quyền và mức độ tham gia chuỗi giá trị của từng ngành, chúng ta khó có thể quản trị mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa bằng bằng chứng.[10]
Dù chưa có bộ số liệu đầy đủ hơn cho toàn bộ công nghiệp văn hóa, các chỉ báo thị trường gần đây cho thấy sức cầu lớn đối với những trải nghiệm gắn với văn hóa. Tám tháng năm 2026, Việt Nam đón 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước và đạt mức cao nhất của tám tháng trong nhiều năm; cơ quan thống kê nêu rõ một trong những lợi thế thu hút du khách là sự đa dạng của sản phẩm cùng cảnh quan, văn hóa và ẩm thực. Không thể đồng nhất toàn bộ doanh thu du lịch với đóng góp của văn hóa, nhưng số liệu này cho thấy một điều rõ ràng: văn hóa, di sản và ẩm thực có khả năng tạo dòng khách, kéo dài thời gian lưu trú, nâng chi tiêu và làm gia tăng giá trị của các dịch vụ liên quan khi chúng được tổ chức thành sản phẩm hấp dẫn.[11]
Quan trọng hơn, tiềm năng của công nghiệp văn hóa không nằm ở từng ngành riêng lẻ mà ở khả năng tạo “hiệu ứng nhân” của tài sản trí tuệ. Một câu chuyện lịch sử có thể bắt đầu từ sách, được chuyển thể thành điện ảnh, phát triển thành trò chơi, triển lãm nhập vai, quà lưu niệm, thiết kế thời trang và hành trình du lịch. Một làng nghề không chỉ bán sản phẩm vật chất mà còn bán câu chuyện, kỹ năng, trải nghiệm, thương hiệu địa phương và quyền sử dụng mẫu thiết kế. Một lễ hội không chỉ là sự kiện định kỳ mà có thể trở thành nền tảng cho âm nhạc, trình diễn, ẩm thực, thương mại và truyền thông. Khi chuỗi giá trị này được tổ chức tốt, giá trị kinh tế được tạo ra không phải bằng cách “thương mại hóa bằng mọi giá” mà bằng cách làm cho giá trị văn hóa có thêm những hình thức sống mới trong đời sống đương đại.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra những mục tiêu định lượng rất rõ: đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu đóng góp 7% GDP; đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo phấn đấu đóng góp 9% GDP, đồng thời hướng tới vị trí cao hơn về sức mạnh mềm và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa. Các mục tiêu này cho thấy văn hóa đã được đặt trong cấu trúc tăng trưởng quốc gia với một yêu cầu mới: không chỉ bảo tồn và thụ hưởng mà còn phải tạo ra năng lực sản xuất, năng lực thị trường và năng lực cạnh tranh.[12]
Tinh thần đó được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm diễn đạt trực diện khi yêu cầu “phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia”. Đáng chú ý, phát biểu này không dừng ở khẩu hiệu mà gắn với các câu hỏi rất cụ thể: lĩnh vực nào có khả năng tạo tăng trưởng, địa phương nào có thể hình thành trung tâm dẫn dắt, doanh nghiệp nào có năng lực, dự án nào có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và thị trường; đồng thời yêu cầu trong năm 2026 phải hình thành số liệu gốc, phương pháp tính thống nhất và cơ chế công bố định kỳ đối với công nghiệp văn hóa. Đây chính là chuyển đổi cần thiết từ tư duy “văn hóa có tiềm năng” sang quản trị bằng mục tiêu, dự án, doanh nghiệp, dữ liệu và kết quả.[13]
Nghị quyết số 28/2026/QH16 tạo thêm nhiều công cụ để quá trình chuyển hóa này diễn ra. Nghị quyết quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và khuyến khích huy động nguồn lực xã hội; mở cơ chế cho cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa; quy định các ưu đãi về thuế đối với một số hoạt động văn hóa và chuyên gia; có chính sách hoàn thuế đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài quay phim tại Việt Nam trong những trường hợp đáp ứng yêu cầu; đồng thời thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư, hoạt động theo nguyên tắc thị trường và chấp nhận khả năng rủi ro. Nghị quyết cũng dành các cơ chế cho hạ tầng số, dữ liệu văn hóa, đặt hàng sáng tạo và hỗ trợ quảng bá, xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Những công cụ này rất quan trọng bởi ngành sáng tạo thường có mức độ rủi ro cao, tài sản chủ yếu là vô hình và khó tiếp cận tín dụng theo cách truyền thống.[14]
Từ đây có thể thấy đóng góp vật chất của văn hóa không tách rời đóng góp tinh thần. Một bộ phim thành công có thể tạo doanh thu phòng vé nhưng đồng thời làm sống lại một ký ức lịch sử. Một sản phẩm thiết kế có thể tăng giá trị thương mại cho doanh nghiệp nhưng đồng thời đưa họa tiết, chất liệu và thẩm mỹ Việt Nam đến công chúng mới. Một trò chơi điện tử có thể xuất khẩu và tạo ngoại tệ nhưng cũng có thể truyền tải tri thức, câu chuyện và hình ảnh Việt Nam. Khi giá trị văn hóa và giá trị kinh tế nâng đỡ nhau, công nghiệp văn hóa mới có thể tạo ra lợi thế khác biệt bền vững; còn nếu tách khỏi bản sắc, chạy theo sao chép hoặc chỉ tối ưu hóa sự chú ý ngắn hạn, sản phẩm có thể có doanh thu nhất thời nhưng khó hình thành thương hiệu quốc gia lâu dài.
3. Kinh nghiệm quốc tế và những điều kiện để chuyển hóa sức mạnh văn hóa thành động lực tăng trưởng ở Việt Nam
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một mô hình duy nhất để phát triển kinh tế sáng tạo, nhưng các quốc gia thành công thường có một điểm chung: họ không coi văn hóa là phần “trang trí” sau tăng trưởng mà xây dựng một hệ sinh thái nối văn hóa với giáo dục, công nghệ, tài chính, sở hữu trí tuệ, thương mại và chính sách đối ngoại. Hai trường hợp Vương quốc Anh và Hàn Quốc đặc biệt gợi mở đối với Việt Nam vì chúng đại diện cho hai con đường khác nhau: một bên là hệ sinh thái sáng tạo lâu đời dựa trên các cụm ngành, kỹ năng và thị trường dịch vụ; bên kia là chiến lược quốc gia có định hướng mạnh vào nội dung, công nghệ, xuất khẩu và sức lan tỏa của làn sóng văn hóa.
Tại Vương quốc Anh, số liệu chính thức được Chính phủ cung cấp cho Quốc hội cho thấy các ngành công nghiệp sáng tạo tạo ra 145,8 tỷ bảng giá trị gia tăng (GVA) năm 2024, tương đương khoảng 5,5% tổng GVA của nền kinh tế. Đáng chú ý, trong ba tháng đến tháng 6/2026, GVA của khu vực này tăng 2,9% trong khi toàn bộ nền kinh tế Anh tăng 0,4%; kế hoạch ngành cũng đặt mục tiêu đưa đầu tư hằng năm vào các ngành sáng tạo lên 31 tỷ bảng vào năm 2035. Trước đó, số liệu cho thấy giai đoạn 2010-2024 GVA của các ngành sáng tạo tăng 60,3%, nhanh hơn đáng kể mức 24,3% của toàn nền kinh tế. Điều đáng học ở đây không chỉ là quy mô mà là cách một quốc gia tạo ra bộ thống kê tương đối ổn định, xác định rõ ranh giới ngành, theo dõi GVA, việc làm và đầu tư, từ đó xây dựng kế hoạch kỹ năng, tài chính và các “ngành biên” như điện ảnh, truyền hình và trò chơi điện tử.[15][16]
Hàn Quốc lại cho thấy sức mạnh của việc kết hợp nội dung với xuất khẩu và thương hiệu quốc gia. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc công bố điều tra ngành nội dung theo năm 2024 với doanh số khoảng 157 nghìn tỷ won và xuất khẩu khoảng 14,1 tỷ USD. Số liệu sơ bộ cho năm 2025 cho thấy xuất khẩu nội dung tiếp tục đạt kỷ lục khoảng 14,9 tỷ USD; cùng năm đó lượng khách quốc tế đến Hàn Quốc đạt 18,9 triệu lượt. Điều đáng chú ý là K-content không vận hành như một ngành cô lập: phim, âm nhạc, trò chơi, webtoon và nhân vật IP tạo ra nhu cầu đối với du lịch, ẩm thực, mỹ phẩm, thời trang, ngôn ngữ và hàng tiêu dùng. Sức mạnh nằm ở khả năng xây dựng fandom, bảo vệ và khai thác IP, chuyển thể đa nền tảng, huy động vốn và tổ chức phân phối toàn cầu. Vì vậy, giá trị của một sản phẩm sáng tạo không kết thúc ở lần bán đầu tiên mà được kéo dài qua nhiều vòng đời thương mại.[17][18]
Ở tầm toàn cầu, UNESCO trong Báo cáo Re|Shaping Policies for Creativity 2026 cho thấy khoảng cách giữa việc thừa nhận vai trò của văn hóa trong quy hoạch phát triển và năng lực đánh giá chính sách vẫn còn lớn: 93% các bên được khảo sát có sự tham gia của cơ quan văn hóa trong hoạch định phát triển quốc gia, nhưng chỉ khoảng 25% các biện pháp đưa văn hóa vào khuôn khổ phát triển bền vững được đánh giá. Bài học ở đây rất rõ: đưa văn hóa vào chiến lược là cần thiết nhưng chưa đủ; phải có dữ liệu, chỉ số, phương pháp đánh giá, cơ chế phản hồi và trách nhiệm giải trình để biết nguồn lực công có tạo ra tác động hay không, tác động nằm ở đâu và có thể nhân rộng bằng cách nào.[19]
Từ những kinh nghiệm trên và điều kiện Việt Nam, trước hết cần hình thành một hệ thống đo lường mới cho đóng góp của văn hóa. Hệ thống này không nên chỉ có một chỉ tiêu “phần trăm GDP của công nghiệp văn hóa”, mà cần một bảng chỉ số theo tầng: giá trị gia tăng trực tiếp của từng ngành; việc làm và thu nhập; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ sáng tạo; doanh thu bản quyền và tài sản trí tuệ; mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị; tác động lan tỏa tới du lịch, thương mại và các ngành khác; đồng thời có các chỉ số xã hội như mức độ tham gia văn hóa, niềm tin, khả năng tiếp cận, sức sống di sản và sự đa dạng văn hóa. Chỉ khi lượng hóa được cả giá trị kinh tế lẫn một phần giá trị xã hội, chúng ta mới tránh được tình trạng đánh giá văn hóa hoặc quá “mềm”, hoặc quá thuần túy thương mại.
Thứ hai, cần coi sở hữu trí tuệ là hạ tầng cốt lõi của kinh tế văn hóa. Việt Nam có nhiều câu chuyện, biểu tượng, chất liệu, di sản và tri thức truyền thống, nhưng một nguồn tài nguyên chỉ thực sự trở thành tài sản kinh tế khi quyền được xác định, dữ liệu được chuẩn hóa, chủ thể được hưởng lợi và có năng lực khai thác hợp pháp. Số hóa di sản vì thế không nên dừng ở quét ảnh và lưu trữ. Dữ liệu cần có metadata, tiêu chuẩn xác thực, quyền truy cập, cơ chế cấp phép và mô hình chia sẻ lợi ích với cộng đồng nắm giữ di sản. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, điều này còn liên quan đến quyền đối với dữ liệu huấn luyện, quyền tác giả, quyền liên quan, khả năng truy xuất nguồn gốc và chủ quyền dữ liệu văn hóa. Nếu không xây dựng hạ tầng này sớm, nguồn nguyên liệu văn hóa của chúng ta có thể bị khai thác rộng rãi nhưng giá trị gia tăng lại nằm ở những nền tảng và chủ thể bên ngoài.
Thứ ba, phải phát triển doanh nghiệp có khả năng biến sáng tạo thành quy mô. Nghệ sĩ, nghệ nhân và nhà sáng tạo là điểm khởi đầu, nhưng để một sản phẩm đi từ ý tưởng tới thị trường cần nhà sản xuất, nhà phát hành, chuyên gia bản quyền, dữ liệu, marketing, tài chính, công nghệ và mạng lưới phân phối. Các cơ chế của Nghị quyết số 28/2026/QH16 về quỹ, ưu đãi, cụm sáng tạo và đặt hàng chỉ phát huy hiệu quả khi được thiết kế theo logic vòng đời sản phẩm. Nhà nước nên tập trung xử lý thất bại thị trường ở giai đoạn đầu, chia sẻ rủi ro có điều kiện, tạo cầu thông qua đặt hàng minh bạch, hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu và xây dựng hạ tầng dùng chung; còn doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về mô hình kinh doanh, chất lượng sản phẩm và năng lực thị trường. Cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang lựa chọn những dự án có khả năng hình thành IP, thương hiệu và chuỗi giá trị có thể nhân rộng.
Thứ tư, cần phát triển các cực tăng trưởng văn hóa theo lợi thế địa phương thay vì để mọi địa phương cùng theo đuổi một danh mục giống nhau. Hà Nội có thể phát huy lợi thế di sản, thiết kế, thủ công, nghệ thuật biểu diễn và không gian sáng tạo; Huế có thể tập trung sâu vào di sản, lễ hội, âm nhạc, ẩm thực và trải nghiệm văn hóa; Thành phố Hồ Chí Minh có lợi thế về thị trường, điện ảnh, truyền thông, giải trí và nội dung số; các địa phương có làng nghề, cảnh quan, văn hóa dân tộc thiểu số hoặc di sản đặc thù có thể xây dựng chuỗi giá trị khác biệt. Đây không phải là sự “đóng khung” hành chính mà là tư duy chuyên môn hóa thông minh: mỗi địa phương nên xác định một số ít năng lực cốt lõi đủ sức tạo thương hiệu, doanh nghiệp dẫn dắt và thị trường, sau đó kết nối thành mạng lưới quốc gia. Khi đó, văn hóa có thể tạo ra các cụm kinh tế có khả năng lan tỏa sang du lịch, thương mại, công nghệ và phát triển đô thị.
Thứ năm, nhân lực phải được nhìn như nút thắt chiến lược. Công nghiệp văn hóa không chỉ thiếu nghệ sĩ tài năng mà còn thiếu những nghề trung gian quyết định khả năng thương mại hóa và quốc tế hóa: giám tuyển, nhà sản xuất sáng tạo, luật sư bản quyền, chuyên gia phân tích dữ liệu văn hóa, quản trị nền tảng, thiết kế trải nghiệm, phân phối quốc tế, marketing nội dung, công nghệ âm thanh - hình ảnh, game và AI sáng tạo. Vì vậy, giáo dục văn hóa - nghệ thuật cần mở rộng sang quản trị, kinh doanh và công nghệ; đồng thời các trường kinh tế, kỹ thuật, luật và truyền thông cần hiểu sâu hơn về đặc thù tài sản văn hóa. Một nền kinh tế sáng tạo trưởng thành đòi hỏi những con người có khả năng đứng ở giao điểm giữa nghệ thuật và thị trường, giữa bản sắc và công nghệ, giữa sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ sáu, phát triển công nghiệp văn hóa phải luôn đi cùng bảo vệ giá trị văn hóa và lợi ích cộng đồng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thị trường có thể tạo nguồn lực mạnh mẽ nhưng cũng có thể làm đồng nhất thị hiếu, đẩy các biểu đạt ít lợi nhuận ra bên lề, hoặc biến di sản thành phông nền tiêu dùng nếu thiếu nguyên tắc quản trị. Vì thế, cần giữ một ranh giới rõ giữa khai thác giá trị và khai thác kiệt quệ; giữa sáng tạo từ truyền thống và chiếm dụng; giữa thương mại hóa hợp lý và làm biến dạng ý nghĩa văn hóa. Cộng đồng chủ thể di sản phải được tham gia quyết định và hưởng lợi; nghệ sĩ phải được bảo vệ quyền; công chúng cần có khả năng tiếp cận đa dạng; những loại hình có giá trị xã hội cao nhưng thị trường nhỏ vẫn cần cơ chế hỗ trợ công. Chỉ khi cân bằng được các chiều này, tăng trưởng từ văn hóa mới vừa nhanh vừa có chất lượng.
Từ góc nhìn tổng thể, văn hóa có thể đóng góp vào tăng trưởng hai con số theo một chuỗi chuyển hóa: hệ giá trị tạo ra con người và niềm tin; con người và niềm tin tạo ra năng suất, hợp tác và sáng tạo; sáng tạo kết hợp với công nghệ và sở hữu trí tuệ tạo thành sản phẩm; sản phẩm kết nối với doanh nghiệp và thị trường tạo doanh thu, việc làm và xuất khẩu; những sản phẩm thành công lại quay trở lại củng cố bản sắc, niềm tự hào và sức hấp dẫn quốc gia. Điều quan trọng là không để chuỗi chuyển hóa bị đứt ở bất kỳ mắt xích nào. Nếu chỉ có di sản mà không có sáng tạo, di sản khó tạo thị trường mới. Nếu có sáng tạo mà thiếu quyền sở hữu trí tuệ, giá trị dễ thất thoát. Nếu có sản phẩm mà thiếu doanh nghiệp và phân phối, không thể đạt quy mô. Nếu có thị trường mà thiếu định hướng giá trị, tăng trưởng có thể làm suy yếu chính nguồn vốn văn hóa đã tạo ra nó.
Kết luận
Đặt văn hóa trong bài toán tăng trưởng hai con số không có nghĩa là quy mọi giá trị văn hóa về tiền, mà là nhận diện đầy đủ hơn những con đường qua đó văn hóa tham gia vào phát triển. Con đường thứ nhất là gián tiếp nhưng nền tảng: văn hóa định hình hệ giá trị, chất lượng con người, niềm tin, tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, kỷ cương, trách nhiệm và khát vọng sáng tạo. Những yếu tố đó làm giảm chi phí xã hội, nâng khả năng hợp tác, củng cố sức chống chịu và tạo ra môi trường thuận lợi cho năng suất và đổi mới. Con đường thứ hai là trực tiếp và ngày càng có thể đo đếm: văn hóa tạo ra sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp, việc làm, xuất khẩu và tài sản trí tuệ thông qua công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, du lịch văn hóa và nền kinh tế số.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã cung cấp một khung chiến lược mới khi đặt văn hóa ở vị trí nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết của phát triển; Nghị quyết số 28/2026/QH16 tạo thêm các công cụ về ngân sách, đầu tư, quỹ, thuế, hạ tầng và thử nghiệm chính sách để giải phóng nguồn lực. Nhưng từ chính sách đến tăng trưởng còn một khoảng cách lớn. Khoảng cách đó chỉ có thể được lấp đầy bằng dữ liệu đáng tin cậy, hệ sinh thái sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp đủ năng lực, nguồn nhân lực liên ngành, các cực tăng trưởng sáng tạo theo địa phương và một cơ chế đánh giá nghiêm túc dựa trên kết quả. Kinh nghiệm của Vương quốc Anh, Hàn Quốc và các khuyến nghị quốc tế đều cho thấy những quốc gia đi xa trong kinh tế sáng tạo là những quốc gia vừa nuôi dưỡng tự do sáng tạo, vừa xây dựng được thể chế thị trường, năng lực thống kê, tài chính và bảo vệ quyền phù hợp.
Trong kỷ nguyên mới, lợi thế cạnh tranh lớn nhất của một quốc gia không chỉ nằm trong những gì quốc gia đó có, mà nằm trong khả năng biến những gì mình có thành giá trị mới. Việt Nam có một nguồn vốn văn hóa phong phú, một lịch sử giàu chiều sâu, một xã hội có truyền thống đoàn kết, một thế hệ trẻ năng động và một thị trường số đang mở rộng. Nếu những nguồn lực ấy được tổ chức bằng thể chế hiện đại, công nghệ, tài năng và tinh thần sáng tạo, văn hóa có thể vừa giữ cho phát triển không mất phương hướng, vừa trực tiếp tạo thêm những động cơ tăng trưởng mới. Khi đó, đóng góp của văn hóa vào tăng trưởng hai con số sẽ không chỉ được nhìn thấy trong một tỷ lệ GDP, mà còn trong chất lượng con người, sức mạnh cộng đồng, giá trị thương hiệu, năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn của Việt Nam trên thế giới.
____________________
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, truy cập ngày 17/9/2026.
2. Quốc hội (2026), Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
3. Tô Lâm (2026), Phát biểu tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 13/7/2026, Báo Điện tử Chính phủ/Bộ VHTTDL.
4. Cục Thống kê (2026), Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý II và sáu tháng đầu năm 2026, công bố tháng 7/2026.
5. Cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2026, công bố tháng 9/2026.
6. Chính phủ (2023), “Thủ tướng chủ trì Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam”, Báo Điện tử Chính phủ, 23/12/2023.
7. Throsby, D. (2001), Economics and Culture, Cambridge University Press, Cambridge, tr. 46.
8. Nye, J. S. Jr. (2004), Soft Power: The Means to Success in World Politics, PublicAffairs, New York, tr. x, 5, 11.
9. Algan, Y. (2018), “Trust and social capital”, trong Stiglitz, J. E., Fitoussi, J.-P. & Durand, M. (eds.), For Good Measure: Advancing Research on Well-being Metrics Beyond GDP, OECD Publishing, Paris, tr. 284-320, DOI: 10.1787/9789264307278-en.
10. UNCTAD (2024), Creative Economy Outlook 2024, United Nations Trade and Development, Geneva.
11. UNESCO (2026), Re|Shaping Policies for Creativity: We Share, We Act, We Build, UNESCO, Paris.
12. UK Parliament (2026), Written Question 26289, answered by Department for Digital, Culture, Media and Sport, 08/9/2026.
13. UK Parliament (2026), Written Question 70, answered by Department for Culture, Media and Sport, 19/5/2026.
14. Ministry of Culture, Sports and Tourism of the Republic of Korea (2026), 2025 Content Industry Survey (2024 reference year), press release, 27/2/2026.
15. Yonhap News Agency (2026), “S. Korea’s content industry exports hit record US$14.9 bln in 2025”, 02/6/2026, dẫn số liệu sơ bộ của Ministry of Culture, Sports and Tourism of the Republic of Korea.
[1]Cục Thống kê (2026), “Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý II và sáu tháng đầu năm 2026”, công bố tháng 7/2026: GDP sáu tháng đầu năm tăng 8,18%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%; khu vực dịch vụ tăng 8,09%. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/07/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-ii-va-sau-thang-dau-nam-2026/ (truy cập ngày 17/9/2026).
[2]David Throsby (2001), Economics and Culture, Cambridge University Press, Cambridge, tr. 46. Tác giả định nghĩa “vốn văn hóa” như một tài sản chứa đựng, lưu giữ hoặc cung cấp giá trị văn hóa bên cạnh giá trị kinh tế mà tài sản đó có thể có.
[3]Joseph S. Nye Jr. (2004), Soft Power: The Means to Success in World Politics, PublicAffairs, New York, tr. x, 5, 11. Nye xem sức mạnh mềm là khả năng đạt được điều mong muốn thông qua sức hấp dẫn; văn hóa, các giá trị chính trị và chính sách đối ngoại là những nguồn lực quan trọng của sức mạnh mềm.
[4]Quốc hội (2026), Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Văn bản chính thức: https://chinhphu.vn/?docid=218008&pageid=27160 (truy cập ngày 17/9/2026).
[5]Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, mục I.1. Toàn văn đăng tại Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm (truy cập ngày 17/9/2026).
[6]Yann Algan (2018), “Trust and social capital”, trong Joseph E. Stiglitz, Jean-Paul Fitoussi & Martine Durand (eds.), For Good Measure: Advancing Research on Well-being Metrics Beyond GDP, OECD Publishing, Paris, tr. 284-320. Chương này tổng hợp bằng chứng về vai trò của niềm tin đối với tăng trưởng, hợp tác, giảm chi phí giao dịch, đầu tư và đổi mới. DOI: 10.1787/9789264307278-en.
[7]Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW, mục III.2: chuẩn mực con người Việt Nam gồm “yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo”. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, truy cập ngày 17/9/2026.
[8]Tô Lâm (2026), “Phát biểu tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam”, ngày 13/7/2026. Nguyên văn: “Chính sức sống bền bỉ của văn hóa đã gìn giữ sức sống của dân tộc.” Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, https://bvhttdl.gov.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-phien-hop-thu-hai-ban-chi-dao-trung-uong-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam.htm (truy cập ngày 17/9/2026).
[9]UNCTAD (2024), Creative Economy Outlook 2024, United Nations Trade and Development, Geneva. Khảo sát 36 nền kinh tế cho thấy kinh tế sáng tạo đóng góp 0,5-7,3% GDP và 0,5-12,5% việc làm; xuất khẩu dịch vụ sáng tạo toàn cầu đạt 1,4 nghìn tỷ USD năm 2022, xuất khẩu hàng hóa sáng tạo đạt 713 tỷ USD. https://unctad.org/publication/creative-economy-outlook-2024 (truy cập ngày 17/9/2026).
[10]Báo Điện tử Chính phủ (2023), “Thủ tướng chủ trì Hội nghị toàn quốc về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam”, 23/12/2023. Số liệu được công bố: công nghiệp văn hóa đóng góp 3,92% GDP năm 2021 và 4,04% GDP năm 2022; trên 70.000 cơ sở kinh tế; lực lượng lao động khoảng 2,3 triệu người. https://baochinhphu.vn/thu-tuong-chu-tri-hoi-nghi-toan-quoc-ve-phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-van-hoa-viet-nam-10223122308174392.htm (truy cập ngày 17/9/2026).
[11]Cục Thống kê (2026), “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2026”: tám tháng năm 2026, Việt Nam đón 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4% so với cùng kỳ. https://www.nso.gov.vn/bai-top/2026/09/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-thang-tam-va-8-thang-nam-2026/ (truy cập ngày 17/9/2026).
[12]Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW: mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; đến năm 2045 công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo phấn đấu đóng góp 9% GDP. Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, truy cập ngày 17/9/2026.
[13]Tô Lâm (2026), phát biểu ngày 13/7/2026 tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam. Nguyên văn: “phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia”. Cùng phát biểu này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu trong năm 2026 hình thành số liệu gốc, phương pháp tính thống nhất và cơ chế công bố định kỳ về công nghiệp văn hóa. Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, truy cập ngày 17/9/2026.
[14]Quốc hội (2026), Nghị quyết số 28/2026/QH16, các Điều 3-11. Nghị quyết quy định tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa; cơ chế cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; một số ưu đãi thuế; chính sách liên quan hoạt động quay phim tại Việt Nam; thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật; cùng các cơ chế về đặt hàng, quảng bá, xuất khẩu, hạ tầng số và dữ liệu văn hóa. Văn bản chính thức tại Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, truy cập ngày 17/9/2026.
[15]UK Parliament (2026), Written Question 70, answered by the Department for Culture, Media and Sport on 19/5/2026. Creative Industries GVA grew 60.3% from 2010 to 2024, compared with 24.3% for the UK economy; between 2023 and 2024 the sector grew 4.6% versus 1.0% for the whole economy. https://questions-statements.parliament.uk/written-questions/detail/2026-05-13/70 (accessed 17/9/2026).
[16]UK Parliament (2026), Written Question 26289, answered by the Department for Digital, Culture, Media and Sport on 08/9/2026. Creative Industries generated £145.8 billion GVA in 2024, 5.5% of UK GVA; GVA grew 2.9% in the three months to June 2026 compared with 0.4% for the UK economy; the sector plan sets a £31 billion annual investment target by 2035. https://questions-statements.parliament.uk/written-questions/detail/2026-09-01/26289 (accessed 17/9/2026).
[17]Yonhap News Agency (2026), “S. Korea’s content industry exports hit record US$14.9 bln in 2025”, 02/6/2026, citing preliminary data of the Ministry of Culture, Sports and Tourism. The same source reports 18.9 million international visitors in 2025. https://m-en.yna.co.kr/view/AEN20260602004200315 (accessed 17/9/2026).
[18]Ministry of Culture, Sports and Tourism of the Republic of Korea (2026), “Content industry maintains growth with sales of KRW 157 trillion and exports of USD 14.1 billion”, press release on the 2025 Content Industry Survey (2024 reference year), 27/2/2026. https://www.mcst.go.kr/site/s_notice/press/pressView.jsp?pMenuCD=0302000000&pSeq=22266 (accessed 17/9/2026).
[19]UNESCO (2026), Re|Shaping Policies for Creativity: We Share, We Act, We Build, UNESCO, Paris. Báo cáo cho biết 93% các bên có cơ quan văn hóa tham gia quy hoạch phát triển quốc gia, nhưng chỉ 25% các biện pháp được báo cáo về lồng ghép văn hóa vào khuôn khổ phát triển bền vững đã được đánh giá. https://www.unesco.org/creativity/en/publications (truy cập ngày 17/9/2026).