Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Singapore Lawrence Wong dự Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 - 
Ảnh: TTXVN.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Singapore Lawrence Wong dự Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 - Ảnh: TTXVN

Đối ngoại trong kỷ nguyên mới đang đứng trước yêu cầu chuyển mình mạnh mẽ để thích ứng với cục diện thế giới biến động nhanh, phức tạp và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt. Đảng ta khẳng định: “Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”(1).

Vị trí, tầm quan trọng của đối ngoại trong kỷ nguyên mới

Thứ nhất, đối ngoại là động lực chiến lược quan trọng, góp phần huy động nguồn lực bên ngoài và mở rộng không gian phát triển. Thông qua hội nhập quốc tế sâu rộng, đối ngoại trở thành công cụ then chốt huy động các nguồn lực bên ngoài, bao gồm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức, công nghệ tiên tiến và tri thức quản trị hiện đại, tạo sức bật cho tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Vốn đầu tư nước ngoài không chỉ cung cấp nguồn lực tài chính bổ sung mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng sản xuất, tạo việc làm và tăng thu ngân sách. Đồng thời, việc tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, kinh nghiệm quản trị và tri thức toàn cầu thông qua đối ngoại góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực hoạch định chính sách, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại vào sản xuất - kinh doanh. Song song với việc huy động nguồn lực, đối ngoại mở rộng không gian phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do, liên kết khu vực và toàn cầu, giúp đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào một số đối tác truyền thống và khai thác các thị trường tiềm năng: “Đối ngoại là động lực tạo dựng các điều kiện thuận lợi, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và mở ra không gian phát triển mới cho đất nước”(2). Không gian phát triển còn được mở rộng nhờ kết nối với các nguồn lực về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tạo động lực phát triển các ngành công nghiệp chiến lược, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Bằng cách biến các cơ hội quốc tế thành nguồn lực thực tiễn, đối ngoại không chỉ đóng vai trò cầu nối mà còn là đòn bẩy chiến lược tạo động lực đất nước nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng tầm ảnh hưởng và xây dựng nền tảng phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Thứ hai, đối ngoại là công cụ nâng cao vị thế, uy tín và tiếng nói của đất nước trên trường quốc tế. Thông qua việc xây dựng và duy trì quan hệ ngoại giao ổn định, hiệu quả với các nước đối tác chiến lược, khu vực và toàn cầu, Việt Nam không chỉ bảo vệ lợi ích cốt lõi mà còn củng cố hình ảnh hòa bình, hợp tác và có trách nhiệm quốc tế: “Đối ngoại thể hiện tinh thần trách nhiệm cao đối với cộng đồng quốc tế, đóng góp vào xây dựng và bảo vệ trật tự quốc tế công bằng, bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế”(3). Việc tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, từ Liên Hợp quốc, ASEAN đến các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tạo cơ hội để nước ta đóng góp vào việc xây dựng chuẩn mực, luật lệ và chính sách quốc tế, qua đó, nâng cao uy tín và ảnh hưởng của quốc gia trong quá trình hội nhập toàn cầu. Ngoài ra, ngoại giao song phương và đa phương cũng giúp Việt Nam chủ động trong việc định hướng các quan hệ hợp tác chiến lược, xây dựng liên minh, tăng cường phối hợp về chính trị, kinh tế, an ninh, khoa học - công nghệ và văn hóa, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao tiếng nói trên trường quốc tế. Ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học - công nghệ và ngoại giao Nhân dân được triển khai đồng bộ, giúp quảng bá bản sắc văn hóa, giá trị dân tộc, thành tựu phát triển… từ đó, củng cố hình ảnh quốc gia có trách nhiệm, đáng tin cậy. Việc kết hợp giữa phát huy sức mạnh mềm và năng lực chính trị - kinh tế cho phép Việt Nam không chỉ tham gia mà còn đóng góp tích cực vào định hình cục diện quốc tế, mở rộng ảnh hưởng trong các khuôn khổ hợp tác chiến lược và kinh tế toàn cầu. Nhờ đó, đối ngoại trở thành công cụ chiến lược để nâng cao uy tín, vị thế, tiếng nói, củng cố nền tảng cho sự hội nhập toàn diện, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Thứ ba, đối ngoại là nhân tố bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền. Đối ngoại đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển bền vững và hội nhập quốc tế toàn diện: “Đối ngoại đã phát huy tích cực, hiệu quả vai trò tiên phong, góp phần duy trì, củng cố môi trường hoà bình, ổn định, mở ra cục diện mới chưa từng có cho phát triển đất nước”(4). Thông qua việc xây dựng quan hệ ngoại giao đa dạng, cân bằng với các nước lớn, các đối tác khu vực và toàn cầu, Việt Nam có thể ngăn ngừa, giảm thiểu nguy cơ xung đột, bảo vệ lợi ích cốt lõi, duy trì môi trường an ninh ổn định. Việc tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác an ninh khu vực, các diễn đàn đa phương và các hiệp ước quốc tế về hòa bình, an ninh giúp thiết lập các kênh đối thoại, phòng ngừa căng thẳng và xử lý khủng hoảng ngoại giao một cách chủ động, hạn chế rủi ro đối với chủ quyền, lợi ích quốc gia.

Ngoài ra, đối ngoại chiến lược còn góp phần củng cố khả năng tự chủ của đất nước trong chính sách đối nội, đối ngoại, tăng cường khả năng ứng phó trước các thách thức an ninh phi truyền thống. Việc kết hợp giữa ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng, ngoại giao kinh tế và ngoại giao Nhân dân tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp Việt Nam chủ động kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định, chủ quyền; đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế để chia sẻ trách nhiệm và lợi ích chung. Bằng cách định hướng các mối quan hệ quốc tế theo nguyên tắc độc lập, tự chủ nhưng linh hoạt và chủ động hội nhập, đối ngoại góp phần duy trì môi trường thuận lợi cho Việt Nam bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền, lợi ích chiến lược trong bối cảnh quốc tế phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay gắt và biến động không ngừng.

Tiếp tục phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước

Một là, hoàn thiện tư duy và chiến lược đối ngoại. Chú trọng xây dựng cơ chế hoạch định chính sách dựa trên phân tích tổng thể về bối cảnh quốc tế, xu hướng toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, các rủi ro an ninh truyền thống và phi truyền thống. Tăng cường thiết lập hệ thống nghiên cứu chiến lược, dự báo và phân tích dữ liệu nhằm nhận diện cơ hội, thách thức, kịp thời điều chỉnh chính sách đối ngoại, đảm bảo tính chủ động, linh hoạt trong định hướng quan hệ quốc tế. Xác định rõ các trụ cột đối ngoại, phân định rõ vai trò và nhiệm vụ của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân… đồng thời, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên cơ quan để triển khai chính sách một cách đồng bộ, hiệu quả, tránh chồng chéo: “Triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên cả 3 trụ cột: Đối ngoại đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân thống nhất từ Trung ương đến địa phương”(5). Hoàn thiện chiến lược đối ngoại cần gắn kết với chương trình phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, tích hợp các mục tiêu văn hóa, khoa học - công nghệ và môi trường, tối ưu hóa nguồn lực và khai thác lợi ích toàn diện. Chú trọng xây dựng tầm nhìn dài hạn, thiết lập kế hoạch hành động cụ thể cho từng giai đoạn, kết hợp cơ chế đánh giá, giám sát, điều chỉnh chính sách, đảm bảo tính khả thi, linh hoạt, thích ứng với biến động quốc tế: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả nhằm phát huy tiềm năng, thế và lực mới của đất nước, tạo động lực quan trọng để phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc”(6). Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, liên cơ quan và địa phương đồng bộ, tối ưu hóa nguồn lực, tăng cường trách nhiệm, minh bạch và hiệu quả trong thực thi.

Hai là, phát triển ngoại giao toàn diện và hiện đại. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc tế, hệ thống phân tích tình hình chính trị, kinh tế, xã hội toàn cầu nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho các cơ quan ngoại giao; đồng thời, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, các công cụ số hóa trong việc dự báo xu hướng quốc tế, tối ưu hóa chiến lược đối ngoại. Triển khai ngoại giao đa phương gắn với hội nhập kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, chú trọng xây dựng quan hệ chiến lược với các nước lớn, phát triển mạng lưới quan hệ rộng khắp các quốc gia vừa và nhỏ thông qua hợp tác thương mại, giáo dục, y tế và môi trường: “Xây dựng nền đối ngoại và ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp. Kỷ nguyên mới đòi hỏi xây dựng nền đối ngoại ngang tầm khu vực và vươn tầm quốc tế”(7). Ứng dụng ngoại giao số, bao gồm xây dựng nền tảng truyền thông số, kênh tương tác trực tuyến và mạng xã hội chính thức của cơ quan ngoại giao, nhằm tăng cường khả năng truyền thông, minh bạch thông tin và kết nối với công chúng trong, ngoài nước. Thúc đẩy ngoại giao kinh tế bằng cách thành lập các trung tâm xúc tiến đầu tư và thương mại, phối hợp với doanh nghiệp trong việc tìm kiếm cơ hội hợp tác, thu hút nguồn lực đầu tư và công nghệ mới. Phát triển ngoại giao văn hóa và Nhân dân, tăng cường các chương trình trao đổi học thuật, nghệ thuật, thể thao, du lịch, xây dựng hình ảnh đất nước năng động, sáng tạo, thân thiện, gắn liền với các chiến dịch truyền thông chiến lược nhằm nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Tăng cường hợp tác quốc phòng - an ninh thông qua đối thoại chiến lược, chia sẻ thông tin tình báo, huấn luyện chung và các hoạt động gìn giữ hòa bình… đồng thời, triển khai các cơ chế phối hợp nhanh nhạy trong xử lý khủng hoảng, thiên tai, sự cố xuyên biên giới.

Ba là, nâng cao năng lực thực thi và hợp tác quốc tế. Nâng cao năng lực thực thi và hợp tác quốc tế đòi hỏi xây dựng nguồn nhân lực đối ngoại chất lượng cao, trang bị kiến thức toàn cầu, kỹ năng ngoại giao, năng lực ngoại ngữ, am hiểu luật pháp quốc tế, khoa học - công nghệ và tư duy chiến lược. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ ngoại giao, kết hợp với cơ chế luân chuyển, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực thực tiễn tại các cơ quan đại diện ở nước ngoài, nhằm tăng cường khả năng phân tích tình hình, ra quyết định và ứng phó với các thách thức. Ứng dụng chuyển đổi số, công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong quản lý thông tin, theo dõi diễn biến tình hình quốc tế và truyền thông đối ngoại, nâng cao tính kịp thời, chính xác, minh bạch trong quyết sách. Tham gia tích cực vào các thể chế đa phương, hiệp định quốc tế, cơ chế khu vực và diễn đàn toàn cầu nhằm củng cố hợp tác, chia sẻ trách nhiệm, tăng cường uy tín, ảnh hưởng của Việt Nam; đồng thời, mở rộng không gian hợp tác chiến lược, kinh tế, khoa học và văn hóa: “Đẩy mạnh ngoại giao toàn diện phục vụ phát triển, trọng tâm là ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ. Nâng cao hiệu quả của ngoại giao văn hóa, quốc phòng, an ninh; rà soát, đôn đốc triển khai thực hiện có hiệu quả các cam kết, thỏa thuận quốc tế; chú trọng các hoạt động quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam”(8). Đẩy mạnh xây dựng mạng lưới hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức chính trị, doanh nghiệp, học thuật và cộng đồng quốc tế tạo nền tảng triển khai đồng bộ các dự án hợp tác, nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ thu hút nguồn lực bên ngoài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực nội sinh.

_______________

1, 4, 5, 6, 8: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.117, 54, 118, 119, 119.
2, 3, 7: Tô Lâm, Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới, nhandan.vn, 18/2/2026.

BẢO NGUYÊN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 646, tháng 6-2026