
Tham dự buổi tọa đàm có đông đảo đại diện các bộ, ngành; các chuyên gia, nhà nghiên cứu; đại diện các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ VHTTDL.

Phát biểu tại buổi tọa đàm, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, PGS, TS Nguyễn Thị Thu Phương cho biết: Việc xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia được coi là nhiệm vụ ưu tiên trong các Nghị quyết, Chương trình hành động của Việt Nam. Đến nay, Bộ VHTTDL đã hoàn thành Dự thảo Bộ chỉ số và dù việc xây dựng trong một thời gian rất ngắn và phải thực hiện theo phương châm “vừa chạy vừa xếp hàng”, nhưng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia đã có sự kế thừa, cập nhật và có bổ sung những nội dung cơ bản của Bộ chỉ số văn hóa vì sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, vì là dự thảo nên vẫn còn những hạn chế và cần những đóng góp ý kiến của các chuyên gia.

Sự cần thiết xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia (V-Culture Index)
Quá trình phát triển văn hóa thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực, khẳng định vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế, xã hội và được phản ánh qua sự gia tăng về di sản, thiết chế văn hóa, lao động, việc làm và doanh thu các ngành Văn hóa. Tuy nhiên, hệ thống thống kê và công cụ đánh giá phát triển văn hóa còn phân tán, chưa phản ánh đầy đủ đóng góp của văn hóa và chưa đáp ứng yêu cầu hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu.

Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 (được ban hành theo Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ) đã xác định nhiệm vụ xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia vì sự phát triển bền vững là một trong những giải pháp trọng tâm của ngành Văn hóa. Thực hiện nhiệm vụ này, Bộ VHTTDL đã triển khai Đề án xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia vì sự phát triển bền vững trong 3 năm 2023-2025 và đã hoàn thành dự thảo khung chỉ số. Đề án được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn; rà soát hệ thống dữ liệu, công cụ thống kê và phương pháp đo lường đóng góp của văn hóa đối với các mục tiêu của Chương trình Nghị sự 2030 về phát triển bền vững. Đồng thời, Đề án cũng tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm và phương pháp luận quốc tế về thống kê và chỉ số văn hóa, đặc biệt là các khuyến nghị của UNESCO.
Tuy nhiên, phạm vi của Đề án và Bộ chỉ số văn hóa quốc gia vì sự phát triển bền vững mới chỉ giới hạn trong mối quan hệ giữa phát triển văn hóa và các mục tiêu phát triển bền vững của Chương trình Nghị sự 2030. Các vấn đề phát triển văn hóa mới được đặt ra trong bối cảnh hiện nay như quản trị văn hóa số, xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa chưa được phản ánh đầy đủ trong hệ thống chỉ số này.
Trong bối cảnh đó, việc Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới thể chế, phát triển toàn diện văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời đề ra nhiệm vụ xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia (V-Culture Index) là rất thiết thực. Việc xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia (V-Culture Index) không chỉ nhằm kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước mà còn hoàn thiện công cụ đo lường và đánh giá phát triển văn hóa theo hướng toàn diện, hiện đại và dựa trên dữ liệu, từ đó góp phần nâng cao hiệu lực quản trị văn hóa, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện công cụ trong quản trị văn hóa
Xây dựng Bộ chỉ số văn hóa nhằm phục vụ theo dõi, đánh giá tình hình phát triển văn hóa trên phạm vi cả nước theo hướng toàn diện, thống nhất và có khả năng so sánh giữa các giai đoạn và lĩnh vực. Điều này sẽ hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trong công tác tham mưu, hoạch định, điều chỉnh và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, chương trình, đề án về phát triển văn hóa trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng thực tiễn. Đồng thời, chuẩn hóa hệ thống thông tin, dữ liệu và phương pháp đánh giá trong lĩnh vực văn hóa; tăng cường khả năng thu thập, tổng hợp, phân tích và chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước về văn hóa.

Bộ chỉ số văn hóa quốc gia áp dụng đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thu thập, cung cấp, tổng hợp, phân tích và sử dụng dữ liệu phục vụ đánh giá phát triển văn hóa.
Bộ chỉ số văn hóa quốc gia được triển khai thống nhất trên phạm vi cả nước để theo dõi, đánh giá tình hình phát triển văn hóa; phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách, giám sát việc thực hiện các mục tiêu phát triển văn hóa và công bố định kỳ kết quả đánh giá phát triển văn hóa ở cấp quốc gia.
Theo Dự thảo, Bộ chỉ số văn hóa quốc gia áp dụng đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thu thập, cung cấp, tổng hợp, phân tích và sử dụng dữ liệu phục vụ đánh giá phát triển văn hóa.
Dự thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia được chia thành 5 nhóm, dự kiến gồm 26 chỉ số tập trung các nội dung: Chính sách và quản trị văn hóa; Cơ sở hạ tầng và tài nguyên văn hóa; Tiếp cận, thực hành và tham gia văn hóa; Công nghiệp văn hóa và sáng tạo; Giá trị, bản sắc và phát triển con người.
Nhóm Chính sách và quản trị văn hóa gồm 6 chỉ số: Hoàn thiện thể chế, chính sách văn hóa; Minh bạch và trách nhiệm giải trình; Bao trùm và công bằng trong chính sách văn hóa; Chuyển đổi số trong quản trị văn hóa; Nguồn lực tài chính cho văn hóa; Chất lượng nguồn nhân lực quản trị văn hóa.
Nhóm Cơ sở hạ tầng và tài nguyên văn hóa gồm 4 chỉ số: Quy mô nguồn lực di sản văn hóa; Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; Hệ thống thiết chế văn hóa; Không gian công cộng phục vụ mục đích văn hóa.
Nhóm Tiếp cận, thực hành và tham gia văn hóa gồm 4 chỉ số: Chi tiêu dành cho văn hóa của hộ gia đình; Tham gia văn hóa, thể thao; Sáng tạo nghệ thuật; Hoạt động văn hóa quần chúng.
Nhóm Công nghiệp văn hóa và sáng tạo gồm 7 chỉ số: Đóng góp của văn hóa trong tổng sản phẩm trong nước (GDP); Việc làm trong ngành văn hóa; Năng suất lao động xã hội của các ngành kinh tế trong lĩnh vực văn hóa; Doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa; Thương mại văn hóa quốc tế; Bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan; Hỗ trợ phát triển thị trường công nghiệp văn hóa và sáng tạo.
Nhóm Giá trị, bản sắc và phát triển con người gồm 5 chỉ số: Trao truyền tri thức và giá trị văn hóa; Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số; Giáo dục đa ngôn ngữ; Giáo dục văn hóa và nghệ thuật; Đào tạo văn hóa và nghệ thuật.
Đóng góp ý kiến tại Tọa đàm, PGS, TS Nguyễn Thị Phương Châm, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nêu một số khái niệm trong Dự thảo Bộ chỉ số cần được làm rõ để thuận lợi cho quá trình triển khai đo lường và đánh giá, như khái niệm của chỉ số "Không gian công cộng phục vụ mục đích văn hóa", hay chỉ số "Chi tiêu dành cho văn hóa của hộ gia đình" . PGS, TS Nguyễn Thị Phương Châm đánh giá nhóm chỉ số về công nghiệp văn hóa là điểm sáng của Dự thảo Bộ chỉ số. Việc đưa lĩnh vực công nghiệp văn hóa vào hệ thống chỉ số góp phần phản ánh đầy đủ hơn vai trò của văn hóa trong tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
GS, TS Từ Thị Loan – nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam đánh giá rất cao đội ngũ ban soạn thảo Dự thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, chỉ trong thời gian ngắn đã hoàn thành một khối lượng công việc lớn. GS, TS Từ Thị Loan cho rằng cần lược bớt sự trùng lặp của một số nội dung trong các chỉ số. Về nhóm 4 công nghiệp văn hóa và sáng tạo, cũng cần có cái cách tính chính xác hơn của chỉ số này trong đóng góp tổng thể đối với nền kinh tế...
Sau hơn 2 giờ nghe những ý kiến đóng góp, bổ sung, phản biện sôi nổi của các đại biểu, chuyên gia của các bộ, ngành tham dự buổi tọa đàm, Ban soạn thảo Bộ chỉ số văn hóa quốc gia đánh giá cao những góp ý quý báu của các chuyên gia. PGS, TS Nguyễn Thị Thu Phương khẳng định “Tất cả các ý kiến xác đáng và những chia sẻ kinh nghiệm của chuyên gia sẽ được Ban soạn thảo tiếp thu tối đa”.