Nhà văn Trịnh Tuyên 2.remini enhanced (2).jpg

Đây là truyện ngắn khởi đầu nghiệp văn của Trịnh Tuyên. Tuy xuất hiện trên văn đàn muộn nhưng Trịnh Tuyên đã nhanh chóng khẳng định mình ở thể loại truyện ngắn và ông đều đặn xuất bản mấy tập truyên ngắn, đó là Những mảnh vỡ của số phận, Hang cóc thần, Giấc mơ lạnh, Nhớ đêm thời xa ấy…

Trịnh Tuyên viết đều cả văn và thơ, nhưng bạn văn chương chẳng ai gọi ông là nhà thơ cả, phải chăng, truyện ngắn của Trịnh Tuyên nổi trội hơn, song có lẽ, con người góc cạnh, tính cách quyết liệt, phản biện sắc sảo, đã làm nên một Trịnh Tuyên - nhà văn?

Những thành tựu văn xuôi

Trịnh Tuyên chào làng văn bằng truyện ngắn Chuyện tình lão chăn dê, và gần như lập tức ghi dấu ấn, khiến bạn đọc ngoài xứ Thanh biết đến tên ông. Truyện ngắn này nâng vị thế của Trịnh Tuyên trong con mắt của dân chuyên nghiệp, khi duyệt bài lên trang, nhà thơ Trần Đăng Khoa, Tổng biên tập gật gù bảo: “Truyện này chẳng khác gì chuyện Chí Phèo, Thị Nở thời nay”. Lẽ dĩ nhiên, đến nay, với gần trăm truyện ngắn đã in, Trịnh Tuyên còn có một số truyện ngắn khác khá chắc tay.

Có thể thấy, các truyện của Trịnh Tuyên tập trung vào mấy mảng đề tài chính: chuyện chiến tranh và hậu chiến, chuyện về các loài vật, chuyện mang tính trinh thám, vụ án, chuyện màu sắc tâm linh, và chuyện đời sống xã hội, tình ái...

Nhìn chung, như phần đông các cây bút viết theo bản năng vốn có, khởi thủy thường chọn thủ pháp kể chuyện truyền thống, diễn biến câu chuyện theo trình tự thời gian, dù đan xen hồi tưởng, ký ức, với nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất (tôi), hoặc ngôi thứ ba (nó, hắn...), Trịnh Tuyên cũng vậy. Với thủ pháp vậy, tác giả dễ bề điều hành nhân vật theo chủ quan của mình nên hay nặng cảm tính hơn là theo logic của sự việc. Tuy nhiên, Trịnh Tuyên “bài binh bố trận” khá linh hoạt, đã biết cách thoát ra khỏi sự nhàm chán của lối kể chuyện bằng cách thay đổi kết cấu, khai mở gây sự chú ý, cài đặt chi tiết bất ngờ...

Có lẽ, chuyện chiến tranh và hậu chiến là mảng đề tài Trịnh Tuyên để tâm khai thác. Mặc dù, bản thân không nhập ngũ, không trực tiếp tham gia chiến tranh, mà là chiến sĩ công an, song cũng là lực lượng vũ trang, vả lại, ban bè, người thân của ông tham gia quân ngũ rất nhiều nên ông hiểu chuyện binh nghiệp và những vấn đề xã hội thời hậu chiến... Ở mảng đề tài này, có các truyện Nhớ thời xa ấy, Tên lính ngụy, Hồi ức một cung đường, Kẻ ném đá... Tác giả chỉ hoàn thành việc kể chuyện, các nhân vật như thiếu hồn vía nên chưa để lại dấu ấn.

Trái ngược, mảng đề tài về đời sống xã hội và tình ái là thế mạnh thực sự của Trịnh Tuyên. Ông viết như không, kể chuyện chơi vậy thôi nhưng hầu như truyện nào cũng sống động, ấn tượng, mà qua đó, ông gửi gắm ý tưởng, triết lý nhân sinh, hoặc tự thân truyện toát lên giá trị nhân văn và thông điệp về cuộc sống,... Cùng với Chuyện tình lão chăn dê, có thể nhặt ra một số truyện chắc tay, như: Những mảnh vỡ của số phận, Giọt máu rơi, Đồng không mông quạnh, Ông kão câu cá, Cây bút máy mạ vàng, Liên, Thiếu nữ bên bãi biển chiều thu, Bà Thanh - kiu, Chuyện tình xóm núi, Những mùa dưa đi qua...

Trịnh Tuyên cũng khá thành công với những truyện về tâm linh như: Cây gậy của Lý Tước, Hang cóc thần, Giấc mơ lạnh, Thần cây, Bí mật hang cá thần, Con rắn hổ lửa trên bàn thờ tổ, Con chuột trong nhà thờ họ, Cối đá quý, Ma học trò, Anh ơi em chết mất... Từ những giai thoại, chuyện kể mang màu sắc dân gian tâm linh, Trịnh Tuyên sưu tầm xây dựng nên cốt truyện rồi đắp thêm da thịt phù phép thành truyện, và ở đây, quan hệ nhân-quả được sử dụng thành triết lý nhân sinh. Vậy nên, yếu tố tâm linh không phải là chuyện để hù ma, dọa quả báo, mà như một sự nhắc nhở về đạo lý thiện lương, về nhân nghĩa ở đời....

Những chuyện vụ án, chuyện mang màu sắc trinh thám cũng là một điểm nhấn trong sáng tác của Trịnh Tuyên. Xuất thân ngành công an, nhiều năm là cảnh sát điều tra, Trịnh Tuyên có vốn kiến thức phong phú, óc suy đoán logic, sự nhanh nhạy của một chuyên viên phá án, nên ông khá chắc tay trong mảng đề tài này. Ở các truyện: Kẻ tự thú, Đánh ghen, Bóng đè, Ăn miếng trả miếng, Tiếng chó sủa đêm, ông thỏa sức tung tẩy với kinh nghiệm cảnh sát điều tra của mình. Trịnh Tuyên viết truyện như làm án, nên để dấu ấn nghiệp vụ điều tra trong hầu hết các truyện ngắn của ông về việc cài đặt tình tiết và tiết tấu câu chuyện...

Còn một mảng đề tài, khiến Trịnh Tuyên khác nhiều cây bút văn xuôi, ấy là về các loài vật. Để ý, các truyện của ông đều thấp thoáng bóng dáng các con vật, (hoăc cây cối, đồ vật), mà ở đó, chúng là các nhân vật phụ, có liên quan, và có tác dụng làm nổi nhân vật chính. Nhiều truyện, con vật trở thành nhân vật chính, như: Đôi chim cu già, Sữa chó, Chó đẻ, Con mọt, Con khỉ, Con mèo tam thể, Con ngựa già, Con lợn nghĩa tình, Con gà tài nguyên, Con trâu bạc, Đốm ơi,... Trịnh Tuyên tỏ rõ sự hiểu biết tường tận về đặc tính sinh thái của từng loài vật, mối quan hệ đồng loại và mối quan hệ với con người. Dĩ nhiên, nói đây chết cây chỗ khác, ông mượn chuyện con vật là để nói con người, nhắn nhủ con người..

Trịnh Tuyên, 
lão chăn dê 
xứ Thanh

Xu hướng triết lý trong thơ

Đến nay, nhà văn Trịnh Tuyên tuy chưa xuất bản tập thơ nào, song ông là tác giả của hàng trăm bài thơ rải rác nhiều năm qua.

Thơ ông, hầu như bài nào cũng ý tứ rõ ràng, nhiều khi lộ ý,  vấn đề là diễn đạt ra sao. Trịnh Tuyên luôn ý thức tạo sức nặng cho thơ mình, nên ông ưa triết lý. Có thể tìm nhặt ra trong thơ Trịnh Tuyên những triết lý hay. Chẳng hạn, như: “Quên tên cây/ làm thuyền/ Tận cùng nỗi cô đơn/ độc mộc!/ Khoét hết ruột/ Chỉ để một lần ngược thác/ bất chấp đời/ lênh đênh...” (Độc mộc); Hay như: “Chưa nở đã mang bầu thai quả/ Phận đau như gái chửa không chồng/ Buồng the nứt toác tình chưa thỏa/ Cuối mùa trơ cuống với hư không (Hoa chuối): Đây nữa: “Đêm tất niên một mình ra ngõ/ Say mèm húc phải đống rơm/ Hai kẻ cô đơn chợt tỉnh:/ Nhận ra xác những linh hồn!/ Ngươi: xác của mùa màng/ Ta: xác của thời gian/ Ngươi: Cháy lên còn chút lửa/ Ta: Một nhúm tro than..../ Ngươi đứng lù lù trước ngõ/ Ta thì lọm khọm trong nhà/ Ta buồn đắng tình thế thái/ Ngươi vui ngọt miệng trâu bò!” (Đêm tất niên)

Còn không ít những câu thơ triết lý thú vị như thế trong hàng trăm bài thơ của Trịnh Tuyên Thực lòng, tôi thích thơ Trịnh Tuyên hơn truyện của ông, bởi nhìn chung, thơ ông có ý tưởng lạ, khá hàm súc, câu chữ bất ngờ. Ví như bài thơ này: “Ta lại đến điểm đầu từ điểm cuối/ đường tình ngắn chẳng tày gang/ Cưới lại đi em/ Ừ! Cưới lại!/ Cơm đã nguội rồi thì đổ ra rang.../ Đêm cưới lại/ tình nồng không trở lại/ chỉ có đôi môi/ lặng ngắt/ ưu sầu!/ Đêm cưới lại/ ái ân/ không trở lại/ chỉ tiếng thì thầm thoảng trong đêm mau/ Đêm cưới lại/ chẳng còn gì trở lại/ chỉ một lần khờ dại mãi trong nhau..” (Cưới lại); Hay như: “Nghẹn ngào khói thoảng về mây/ Run run một nén tâm đầy con dâng...” (Thăm mộ cha)…

Theo tôi, Trịnh Tuyên có một bài thơ hay, thuộc hàng hay nhất của ông, kiểu như Chuyện tình lão chăn dê trong truyện ngắn, ấy là bài Thành nhà Hồ: “Thành xưa đổ nát, hoang tàn/ Hồ vương rời bỏ ngai vàng ngự đâu(?)/ Thạch long, tuế nguyệt dãi dầu/ Bước chân khanh tướng công hầu vắng tanh/ Sông xưa đổ mé đông thành/ Mà nay đồng bãi, tươi xanh bốn mùa/ Đế vương mà ngỡ trò đùa/ Trẻ trâu kể mấy đời vua suy tàn./ Cho hay thành quách, ngai vàng/ May ra còn lại mấy trang sách nhàu!/ Có gì vĩnh cửu mãi đâu/ Bao nhiêu lăng tẩm nhuốm màu liêu hoang/ Bao đời áo mão xênh xang/ Mấy ai xây được ngai vàng - Lòng dân”

Hơi thơ cổ, tứ hay, câu chữ chắt lọc, phong vị trầm bi, ý nghĩa sâu sắc và giàu sức gợi. Bài thơ này có câu được các nhà bình chọn lấy để treo vào bóng thơ thả lên giời một Nguyên tiêu nào đó ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Trịnh Tuyên cũng lấy đó mà tự hào.

NGUYỄN CHU NHẠC

Nguồn: Tạp chí VHNT số 647, tháng 6-2026