Ðiểm nghẽn không nằm ở doanh nghiệp

Một nghịch lý kéo dài nhiều năm của thể thao Việt Nam là trong khi Nhà nước liên tục kêu gọi xã hội hóa, không ít nguồn lực xã hội lại đứng ngoài hoặc chỉ tham gia ở quy mô nhỏ, ngắn hạn. Nhu cầu đầu tư là có. Thị trường cũng đang mở rộng. Nhiều doanh nghiệp sẵn sàng xây dựng trung tâm huấn luyện, tổ hợp thi đấu, học viện thể thao, tổ chức giải chuyên nghiệp, khai thác truyền thông, bán vé, tài trợ và phát triển sản phẩm thể thao. Nhưng từ mong muốn đến quyết định bỏ vốn vẫn còn một khoảng cách rất xa.

Ðiểm nghẽn, vì thế, không hẳn nằm ở việc doanh nghiệp thiếu tiền hay không nhìn thấy tiềm năng. Ðiều họ thiếu trước hết là một hành lang pháp lý đủ rõ ràng, ổn định và có thể dự báo.

Ảnh 1 Sun Sports City tại Ninh Bình.jpg
 Sun Sports City tại Ninh Bình - Ảnh: SSC

Trong thực tiễn, doanh nghiệp có thể được mời đầu tư vào một công trình thể thao nhưng chưa biết chắc mình được khai thác công trình ấy trong bao lâu; được sử dụng những khu vực nào cho dịch vụ thương mại; có được chuyển nhượng dự án, thế chấp quyền tài sản hay không; được xác lập quyền đặt tên sân vận động, quyền quảng cáo, quyền tổ chức sự kiện và quyền kinh doanh các tiện ích phụ trợ ở mức độ nào.

Nghịch lý của xã hội hóa nằm ở chỗ, Nhà nước muốn giảm gánh nặng ngân sách, nhưng cơ chế lại chưa tạo đủ không gian để khu vực tư nhân thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý. Doanh nghiệp được khuyến khích bỏ tiền xây dựng cơ sở vật chất, song việc khai thác đất đai, tài sản, thương hiệu, quảng cáo và dịch vụ đi kèm lại chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau.

Ở chiều ngược lại, nhiều đơn vị thể thao công lập đang quản lý quỹ đất và cơ sở vật chất có giá trị lớn nhưng không dám hợp tác với doanh nghiệp (vì sợ vi phạm các quy định về quản lý tài sản công). Một số công trình bị xuống cấp, sử dụng chưa hết công suất hoặc chỉ hoạt động vào thời điểm có giải đấu. Tuy nhiên, những người quản lý thường đã và đang lựa chọn giải pháp an toàn là để tài sản nhàn rỗi thay vì liên doanh, liên kết, bởi ranh giới giữa khai thác hiệu quả tài sản công và nguy cơ làm thất thoát tài sản nhà nước chưa phải lúc nào cũng đủ rõ.

Hệ quả là xã hội hóa thể thao nhiều năm qua chủ yếu phát triển ở những khu vực ít phụ thuộc vào tài sản công, như phòng tập, sân bóng mini, bể bơi, trung tâm thể thao tư nhân, sự kiện phong trào hoặc một số môn có cộng đồng người chơi đông đảo. Những dự án có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài và liên quan đến đất công, sân vận động, nhà thi đấu hay trung tâm huấn luyện vẫn rất khó triển khai.

Khi pháp luật chưa theo kịp thị trường…

Luật Thể dục, thể thao năm 2006 và Luật Thể dục, thể thao sửa đổi, bổ sung năm 2018 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho hoạt động thể thao, trong đó xác định chủ trương khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển thể dục, thể thao. Tuy nhiên, cấu trúc của luật vẫn chủ yếu tiếp cận thể thao như một lĩnh vực xã hội và hoạt động chuyên môn, chưa phản ánh đầy đủ thể thao với tư cách một ngành kinh tế có chuỗi giá trị riêng.

Luật Ðầu tư quy định những nguyên tắc chung về hoạt động đầu tư, ngành nghề và ưu đãi đầu tư. Tuy nhiên, thể thao chưa được định vị như một ngành kinh tế đặc thù để có một hệ thống ưu đãi đủ sức hấp dẫn các dự án lớn, nhất là những dự án cơ sở hạ tầng cần vốn cao nhưng thời gian hoàn vốn dài.

Lễ công bố Acekook Việt Nam và thương hiệu Hảo Hảo là nhà tài trợ chính cho đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam đến năm 2030.jpg

 Lễ công bố Acekook Việt Nam và thương hiệu Hảo Hảo là nhà tài trợ chính cho đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam đến năm 2030 - Ảnh: H.B

Luật Ðầu tư theo phương thức đối tác công tư tạo khuôn khổ cho việc huy động vốn tư nhân tham gia cung cấp hạ tầng và dịch vụ công. Tuy nhiên, khả năng vận dụng PPP cho các công trình thể thao vẫn gặp nhiều khó khăn. Một dự án sân vận động hoặc nhà thi đấu thường khó bảo đảm doanh thu nếu chỉ dựa vào hoạt động thể thao thuần túy; trong khi cơ chế chia sẻ rủi ro, khai thác quỹ đất, phát triển dịch vụ phụ trợ và xác lập quyền thương mại chưa thật sự phù hợp với đặc thù của loại hình dự án này.

Luật Quản lý, sử dụng tài sản công lại đặt ra các yêu cầu chặt chẽ đối với việc sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết. Ðây là yêu cầu cần thiết để ngăn ngừa thất thoát, nhưng thực tiễn quá trình thẩm định, định giá, phê duyệt đề án và xác định nghĩa vụ tài chính có thể kéo dài, khiến cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ. 

Chính sách thuế và các quy định liên quan tới tài trợ cũng chưa tạo ra động lực đủ mạnh. Trong nhiều trường hợp, khoản tài trợ cho thể thao vẫn được được xem gần như chi phí quảng cáo hơn là một khoản đóng góp phát triển xã hội được hưởng ưu đãi riêng. Doanh nghiệp khó xác định đầy đủ giá trị được khấu trừ, quyền lợi thương mại được nhận lại và cơ chế ghi nhận tài sản thương hiệu hình thành từ hoạt động tài trợ.

Quyền thương mại là một điểm nghẽn khác. Một giải đấu có thể tạo ra quyền phát sóng, quảng cáo, tài trợ danh xưng, dữ liệu trận đấu, sản phẩm lưu niệm, vé, nội dung số và nhiều loại tài sản khác. Nhưng trong thực tiễn, chủ sở hữu từng quyền là ai, liên đoàn, ban tổ chức, câu lạc bộ, đơn vị chủ quản hay vận động viên, chưa phải lúc nào cũng được xác định rõ.

Khi các quyền chưa được bóc tách và định giá, chúng không thể trở thành tài sản để giao dịch, góp vốn, bảo đảm nghĩa vụ hoặc thu hút đầu tư. Nói cách khác, rất nhiều giá trị do thể thao tạo ra vẫn chưa được pháp luật nhận diện đầy đủ như một loại tài sản kinh tế!

Thời điểm vàng để cải cách thể chế

Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được phê duyệt tại Quyết định số 1189/QÐ-TTg ngày 15/10/2024, đã đặt ra định hướng phát triển thị trường thể thao, thúc đẩy kinh tế thể thao và tăng cường huy động nguồn lực xã hội. 

Diễn đàn Kinh tế thể thao Việt Nam năm 2026 cũng tiếp tục cho thấy cơ quan quản lý đã bắt đầu chuyển mạnh từ tư duy vận động tài trợ sang tư duy kiến tạo thị trường, lắng nghe doanh nghiệp và nghiên cứu các mô hình quản trị mới.

Công viên thể thao đa năng Sun Sports City Ninh Binh của Tập đoàn Sun Group sẽ liên tiếp đăng cai 4 giải đấu bóng đá và pickleball trong tháng 7 8 năm 2026.jpg
 Các giải pickleball được mọi lứa tuổi hào hứng tham gia - Ảnh: H.B

Ðặc biệt, việc sửa đổi Luật TDTT đang mở ra cơ hội để tái thiết kế nền tảng pháp lý của ngành. Theo đó, Luật sửa đổi rất cần bổ sung một chương hoặc một nhóm quy định riêng về kinh tế thể thao. Trong đó, phải xác định rõ nội hàm của kinh tế thể thao, các loại hình thị trường, chủ thể tham gia, nguyên tắc sở hữu và khai thác quyền thương mại, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng, ưu đãi thuế, tài trợ, dữ liệu, bản quyền và quản trị thể thao chuyên nghiệp.

Nhu cầu thể thao trong xã hội đang và sẽ tiếp tục tăng mạnh. Các giải chạy, thể thao giải trí, fitness, golf, pickleball, thể thao điện tử, bóng đá phong trào, du lịch thể thao và dịch vụ chăm sóc sức khỏe đang hình thành những cộng đồng người tham gia lớn. Công nghệ số cũng mở ra thị trường mới cho nền tảng nội dung, dữ liệu thi đấu, huấn luyện trực tuyến, bán vé điện tử, thương mại điện tử và trải nghiệm người hâm mộ.

Thay đổi tư duy để kiến tạo nền kinh tế thể thao

Trước hết, cần chuyển từ tư duy “xã hội hóa để hỗ trợ ngân sách” sang “xã hội hóa để hình thành thị trường”. Nhà nước không chỉ huy động thêm tiền cho thể thao, mà phải tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư, cạnh tranh, sáng tạo và thu được lợi nhuận hợp pháp từ thể thao.

Muốn vậy, phải xác lập rõ quyền tài sản trong thể thao. Quyền phát sóng, quyền dữ liệu, quyền quảng cáo, tài trợ danh xưng, quyền đặt tên sân vận động, quyền khai thác hình ảnh vận động viên, quyền kinh doanh sản phẩm lưu niệm và nội dung số cần được luật hóa hoặc có cơ chế dẫn chiếu rõ ràng. Chỉ khi quyền được xác định, chúng mới có thể được định giá, chuyển nhượng và khai thác.

Thứ hai, cần xây dựng mô hình PPP riêng cho cơ sở hạ tầng thể thao. Mô hình này phải cho phép tích hợp sân vận động, nhà thi đấu và trung tâm huấn luyện với thương mại, dịch vụ, giải trí và du lịch trong một quy hoạch thống nhất. Doanh nghiệp cần được bảo đảm thời gian khai thác đủ dài, quyền tổ chức sự kiện, quyền đặt tên và nguồn thu phụ trợ để xây dựng phương án hoàn vốn.

Thứ ba, phải cải cách cơ chế khai thác tài sản công trong thể thao. Cần xây dựng quy trình chuẩn về định giá, đấu giá, lựa chọn đối tác, chia sẻ doanh thu và kiểm soát xung đột lợi ích. Mục tiêu không phải nới lỏng quản lý tài sản công, mà là quản lý minh bạch để tài sản được sử dụng hiệu quả thay vì nằm im và xuống cấp.

Chuỗi giải đấu bóng đá khuấy động mùa hè tại Sun Sports City Ninh Binh mùa hè 2026.jpg
 Nhiều giải đấu bóng đá phong trào mùa hè được các đơn vị tổ chức tạo sân chơi bổ ích cho giới trẻ - Ảnh: H.B

Thứ tư, cần có chính sách thuế riêng đối với tài trợ và đầu tư thể thao. Khoản tài trợ phục vụ đội tuyển quốc gia, thể thao trẻ, thể thao học đường, thể thao người khuyết tật hoặc xây dựng cơ sở vật chất cộng đồng có thể được hưởng mức khấu trừ cao hơn. Ðồng thời, phải phân định rõ tài trợ, quảng cáo, mua quyền thương mại và đầu tư để doanh nghiệp có thể hạch toán minh bạch.

Thứ năm, cần trao quyền tự chủ thương mại lớn hơn cho các liên đoàn, câu lạc bộ và đơn vị tổ chức giải, đi kèm các chuẩn mực quản trị, công khai tài chính và trách nhiệm giải trình. 

Thứ sáu, cần xây dựng hệ thống dữ liệu tổng quát về kinh tế thể thao ở Việt Nam. Khi chưa đo lường được quy mô thị trường, doanh thu, việc làm, đóng góp vào GDP và sức lan tỏa sang du lịch, y tế, giáo dục, truyền thông, rất khó hoạch định chính sách hoặc đánh giá hiệu quả đầu tư.

Thể thao Việt Nam đã có thị trường, có người tiêu dùng, có doanh nghiệp và có nhiều “tài sản” giàu tiềm năng. Phần còn thiếu là một thể chế phù hợp nhất để kết nối những nguồn lực ấy. Vì vậy, vấn đề không chỉ là sửa một số điều của Luật mà cần coi đây là cơ hội thiết kế nền móng pháp lý cho một ngành kinh tế thể thao thực sự - nơi Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp trở thành động lực và xã hội vừa là người thụ hưởng, vừa có thể là chủ thể đầu tư.

PHAN ANH

Nguồn: Đặc san Thể thao & Đời sống, số 2, tháng 7/2026