
• Thưa nhà văn, từ một “binh nhì” viết báo tường đến Đại tá, Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, điều gì ở những ngày đầu cầm bút khiến ông nhớ nhất?
Truyện ngắn đầu tiên Người lính già in năm 1995. Nhưng dấu mốc định mệnh là ngày mới nhập ngũ (2/1994), tôi được giao làm báo tường cho Tiểu đoàn. Tôi làm gần như mọi chuyên mục: thơ, văn, xã luận, vẽ minh họa… Tối sinh hoạt, tôi được cử đọc báo. Anh em hoan hô phong tôi là “nhà thơ Đại đội”. Cuối ba tháng tân binh, tôi là một trong hai chiến sĩ nổi bật của Trung đoàn được Trung đoàn trưởng gắn quân hàm dưới quân kỳ. Truyện ký Lính tò te đoạt giải Kỷ niệm sâu sắc đời bộ đội trị giá hai chỉ vàng. Đó chính là khoảnh khắc để tôi trọn đời gắn bó với văn chương.
• Quê hương Văn Lâm, Hưng Yên đã ngấm vào văn chương ông như thế nào?
Tôi học ở trường làng Khoai. Cha là lính chiến Sư đoàn 308, đánh nhau ở Khe Sanh - Đường 9, phục viên về làm đội trưởng thợ cày. Mẹ làm thư ký đội sản xuất, rèn con rất nghiêm. Sáu tuổi tôi đã bế em cho mẹ ra đồng, chín tuổi cấy thoăn thoắt, mười hai tuổi cầm cày thành thạo. Nhóm thợ cày của cha cùng các nhà nho tối nào cũng bắt tôi đọc Tam quốc, Thủy Hử, Đông Chu liệt quốc… rồi thưởng kẹo lạc, khoai luộc. Sau này tôi đi gần hết các đình, đền, chùa, miếu Bắc Bộ. Tất cả cứ tự nhiên ngấm vào văn chương.
• Ông đã viết nhiều thể loại và trở thành một tác giả có sức viết mãnh liệt, được dư luận chú ý. Vậy, với ông, thể loại nào là khó nhất và cho ông nhiều cảm hứng nhất?
Mọi thứ diễn ra đều rất tự nhiên. Tôi đã thực hiện tâm huyết và bước đầu thành công các tiểu thuyết lịch sử: Phùng Vương, Ngô Vương, Nam Đế Vạn Xuân, Triệu Vương phục quốc, Lý Đào Lang Vương, Lý Phật Tử định quốc, Trưng Nữ Vương tập (2 tập). Toàn bộ các tiểu thuyết trên đều đã tái bản nhiều lần cho tôi thêm vững tin trong địa hạt tiểu thuyết lịch sử. Với truyện ngắn là thể loại tôi luôn ưa thích đã xuất bản ba tập với gia tài 60 truyện ngắn viết rải rác trong 32 năm (1994-2026). Truyện ngắn với tôi không chỉ là đam mê mà còn là rèn luyện ngòi bút. Trong khi bị cách ly nhiễm Covid19 mùa hè năm 2021 tại Bệnh viện Quân y 354, tôi đã thực hiện sáu truyện ngắn viết tay trên những tờ lịch cũ theo phong cách mới. Đó là các truyện: Hoa đại trắng, Tấm bia chùa Jorin - Ji, Hương nhãn, Bóng giai nhân, Vũ khúc Du long, Người lính da đen... cũng rất thú vị và say đắm. Nhưng văn chương không phải tự mình quyết định là xong. Bút ký cũng vậy. Các tập Nơi ước mơ hẹn gặp, Gió đi dưới trời, Tìm trong dáng đá, Những liệt sĩ thời bình... đều đoạt giải thưởng văn học 5 năm Bộ Quốc phòng cũng là trả nghĩa ân tình với quê hương, đồng chí đồng đội, nhất là những người đã hi sinh. Thơ với các tập: Lửa và hoa, Thơ Phùng Văn Khai; Thơ danh nhân - chân dung văn nghệ sĩ, Thơ viết cho mình cũng đều là dốc sức tận tâm, phơi gan ruột mình trên mặt giấy. Tôi viết luôn ào ạt, dễ dàng ở mọi thể loại. Thể loại nào khó nhất ư? Đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Và tiểu thuyết lịch sử cũng chính là khu vực mà tôi mê đắm nhất.

• Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tiểu thuyết của ông không chỉ dừng lại ở việc “tái hiện” mà còn là một cuộc “đối thoại” về sự bình đẳng văn hóa và tinh thần tự chủ dân tộc. Điều này có đúng với “tham vọng” của ông khi cầm bút hay đó là sự tình cờ đẹp đẽ của cảm hứng?
Các nhà nghiên cứu thường có những phát hiện thú vị mà đôi khi người viết phải ngỡ ngàng vì sự tinh tế của các ý kiến của họ. Các vấn đề đặt ra trong tiểu thuyết đối với mỗi tác giả có khác nhau nhưng người trong cuộc nếu không làm chủ được ngòi bút của mình, dựa vào cái gọi là “sự tình cờ đẹp đẽ của cảm hứng” thì thà quẳng quách bút đi đừng viết nữa. Đã viết tiểu thuyết lịch sử không phải chỉ mạnh mẽ can trường dấn thân thậm chí là vong thân mà còn phải có nguồn tri thức nền tảng đủ đầy, tầm nhìn khoát hoạt, tâm thế rộng dài càng phải có dũng khí và trí tuệ tự thân như đấu sĩ trước mỗi mùa giác đấu. Nói thì văn vẻ thế, thực ra là phải thức khuya dậy sớm, cơm lèn chặt bụng, sức khỏe đủ đầy, gạt phăng mọi nhiễu nhương khác để dành tất cả thời gian sức lực mà chiến đấu trước trang giấy trắng. Cứ thế ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác mà thành phong tục của ngòi bút, mà thành hàng ngàn trang tiểu thuyết đến với bạn đọc. Đó chính là hiện thực sáng tác của tôi.
• Trong bối cảnh thị trường và giải trí lấn át, ông lý giải thế nào về “phép tính” cho nhiều hơn nhận?
Nào ai tính được đời mình. Nhà văn buộc phải trả lời câu hỏi: viết thế nào, sống bằng ngòi bút ra sao? Tôi cho rằng, nhà văn và tác phẩm trước hết phải thuộc về Nhân dân và Tổ quốc. Ai chệch ra khỏi đường biên này là tự hại mình. Chính trong đại dịch Covid-19, Nhà nước tái bản ba cuốn sách của tôi, tôi nhận trên 100 triệu tiền nhuận bút. Đó là thành quả.
• Lịch sử viết bằng văn chương khác gì sử học? Làm thế nào để dung hòa “sự thật lịch sử” và “sự thật nhân vật”?
Tôi kéo gần nhân vật lịch sử về phía đời thường nhưng không giải thiêng sống sượng. Ví dụ: buổi thiết triều đầu tiên của Ngô Quyền, nhà vua mời quần thần ăn bát cháo cá ngay trên điện để tiết kiệm thời gian bàn quốc kế. Hay chuyện Triệu Việt Vương xuống tóc đi tu tránh nội chiến. Sự thật lịch sử không hẳn thế, nhưng sự thật văn chương hiện ra như vậy. Sự sống còn của nhà văn chính là tài năng hư cấu.

• Anh em thường trêu ông là “Phùng tốc độ”, có năm ra ba tiểu thuyết. Chuyện “viết bằng miệng” - vợ gõ phím có thật không?
Từ năm 2005 đến nay, tôi đều đọc bằng mồm cho thư ký gõ. Vợ tôi đánh máy bảo giỏi viết ký. Nhiều khi chị ấy khóc nhòe máy tính vì bút ký về liệt sĩ. Chị ấy vô cùng kiên nhẫn làm việc cùng tôi để hoàn thành các tác phẩm tiểu thuyết trường thiên. Tôi nhớ, hồi viết đến đoạn cuối tiểu thuyết Ngô Vương, tôi mệt quá nên có lúc ngắc ngứ không nói nổi. Sau này may mắn sau này có thư ký Hà Thy Linh và Bảo Thơ giúp tôi biên tập rất tinh.
• Để viết Phùng Vương, ông đã mười năm điền dã đến gần trăm điểm thờ. “Đi” có phải là phần tất yếu của “viết”?
Tôi rất ham đi. Từ năm 2009, chưa một thứ bảy, chủ nhật nào tôi không ở các đình, đền, chùa, miếu phía Bắc. Riêng Đường Lâm - đất hai vua Phùng Hưng và Ngô Quyền - tôi đã khảo sát cả trăm lần. Trong các chuyến đi, tôi thu được vô vàn tài liệu quý và thấy rõ nguyện vọng của nhân dân: cần văn chương tôn vinh các vị vua chúa, danh nhân. Ý tưởng lúc nào cũng ăm ắp, thúc giục tôi dồn toàn bộ sức lực cho tiểu thuyết lịch sử.

• Với tư cách một “người mở đường”, ông thấy các cây bút trẻ hôm nay thiếu nhất điều gì?
Tôi từng mở nhà sách Như Quỳnh - điển hình cho thói “coi trời bằng vung”, thất bại đắt giá. Về chuyện cầm bút, tôi chỉ dám chia sẻ: Hãy mạnh mẽ và dấn bước! Hãy giàu khát vọng và thực hành khát vọng của mình trong cuộc sống sôi động, cao đẹp hôm nay.
• Một câu hỏi riêng tư: Trong ông dường như có cuộc chiến giữa “người lính văn hóa” và “kẻ phong trần”? Ai đang thắng?
Tôi càng tự định nghĩa mình càng thấy sai. Nhà văn không phải lúc nào cũng hiểu hết mình. Phần còn lại để bạn đọc, người đời định luận. Điều tôi thấy là mình ngày càng thanh thản khi viết ra những câu chữ cho riêng mình và cho bạn đọc thân yêu.
• Cuối cùng, nếu phải chọn một cột mốc cảm xúc nhất: Khúc dạo đầu của binh nhì, hay lần ra mắt Trưng Nữ Vương?
Tôi từng viết trường ca Hoa bên cột mốc, gửi nhà văn Nguyễn Bình Phương, đến nay chưa thấy ông nhận xét. Nhưng văn chương là thế, thành bại đều tự do. Cột mốc đẹp nhất với tôi chính là Khúc dạo đầu của binh nhì in chung với nhà văn Phùng Kim Trọng. Anh Phương bảo tôi có khả năng viết văn. Và mãi đến hôm nay, một đoạn văn anh viết thêm cuối bản thảo tiểu thuyết Hư thực của tôi, tôi vẫn chưa hiểu hết. Nhưng sự hấp dẫn của văn chương chính là như thế.
• Cảm ơn ông!
LÊ NGỌC TÚ thực hiện
Nguồn: Tạp chí VHNT số 647, tháng 6-2026