
• Từ cậu bé được cha cõng trên vai vượt rừng xem phim thời kháng chiến, đến giảng đường VGIK danh tiếng ở Liên Xô, rồi trở thành đạo diễn, nhà văn, nhà phê bình - Hành trình ấy có quá nhiều “ngã rẽ”. Ông nghĩ đâu là điểm tựa quan trọng nhất giúp mình vượt qua những quãng “gánh nặng đường xa”?
Tôi “ra quân” mùa hè năm 1988. Tính tới hôm nay đã 38 năm. Câu hỏi anh nêu ra cho tôi, cũng chính là điều tôi tự hỏi mình vào những đêm tuổi già khó ngủ. Tôi xin được trả lời ngay: Đó là quãng đời sống và trải nghiệm khi tôi mặc áo lính. Đặc biệt là hai thời kỳ tham gia chiến đấu ở Mặt trận Bắc Quảng Trị - Khe Sanh (1967-1968) và Tây Nguyên (1969-1974). Đây là hai chiến trường tiêu biểu nhất cho những thử thách cam go, quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ: Quảng Trị - Khe Sanh là nơi đụng độ sắt thép, những vũ khí hiện đại nhất giữa Mỹ và Liên Xô. Còn Tây Nguyên là cái đói mòn đói mỏi, phát nương đốt rẫy trồng sắn để có thứ độn thay gạo, là sự thiếu thốn từ đôi pin thắp đèn cho tới mũi kim sợi chỉ vá víu chỗ rách thủng. Chính cuộc sống, chiến đấu ấy đã cung cấp cho tôi lẽ sống và nguồn cảm hứng sáng tạo để tiếp tục dấn thân trên con đường nghệ thuật vốn không ít chông gai và thử thách.
• Ông từng viết về những người lính tổ “thọc sâu” với tấm bia tạm là mảnh sắt ống bơ khắc tên, về những chiếc nón Ba Đồn gửi người yêu mà 8/11 người lính Hà Nội đã nằm lại chiến trường. Có ý kiến cho rằng văn ông “nhân bản đến tận cùng, dù phải động vào những góc khuất nhất”. Quan niệm của ông về chữ “thật” và chữ “người” trong văn chương là gì?
Chữ THẬT và chữ NGƯỜI – theo tôi, là hai yêu cầu gắn bó với nhau hữu cơ ngay từ thuở khởi thủy của văn học nghệ thuật. Để đạt tới tính nhân văn, nhân bản thì phải bảo đảm sự khách quan, chân thực. Cũng đã từng có thời kỳ văn chương nghệ thuật trở thành “vũ khí xung trận”, phải phục vụ mục đích chính trị, thành thử chúng ta đã sa vào bệnh công thức, giáo điều. Nhưng rồi với thời gian, với sự đổi mới tư duy quản lý và lãnh đạo, với sự nỗ lực của người nghệ sĩ đích thực, những “hạt mẩy vàng” nhất định sẽ phải xuất hiện – đó là đích phải đến trong sáng tạo văn chương nghệ thuật!

• Có một chi tiết rất thú vị: ông làm phê bình theo nguyên tắc “phim hay viết khen, phim dở thì im lặng” - như một sự thỏa hiệp đầy nhân văn với người làm nghề. Nhưng trong sáng tác văn chương, ông lại viết thẳng thắn đến trần trụi về “nỗi khổ tâm canh cánh” của người lính xa nhà. Sự khác biệt ấy đến từ đâu?
Im lặng không có nghĩa là thỏa hiệp với cái kém, cái phi nghệ thuật. Nhưng biết làm sao khi chúng ta chấp nhận kinh tế thị trường, chấp nhận đồng tiền và phép tính lỗ lãi khuynh đảo tất cả? Anh có để ý không: vào thập niên 1990, 2000, người ta kêu lên rằng đồng tiền làm hỏng thị hiếu của khán giả, độc giả. Bây giờ, người ta lại than khác: hình như đã xuất hiện một lớp người đọc, người xem mang thị hiếu thấp, tầm thường, và chính họ đang định hình các giá trị văn chương nghệ thuật. Không thể cưỡng bức, áp đặt sự hưởng thụ. Nhưng cũng không thể buông xuôi hai tay. Câu hỏi đặt ra là: đến bao giờ mới chỉnh hình đây? Vậy nên, im lặng trong phê bình đôi khi là cách để bảo tồn một khoảng lặng cần thiết – chờ thời gian và dư luận thật sự lên tiếng. Còn trong văn chương, tôi viết thẳng như những gì tôi đã sống, bởi chiến hào không cho phép tôi làm khác.
• Năm 1964, ông tốt nghiệp Sư phạm nhưng không đứng bục giảng mà khoác áo lính pháo binh. Sau 1975, cơ hội về Tạp chí Văn nghệ Quân đội không thành, ông rẽ sang làm phim, rồi dịch thuật, viết báo, làm giảng viên. Có bao giờ ông thấy mình là người “lận đận” với những cơ hội? Với ông, “ngọt” nhất trong đời văn là gì, và “chua” nhất là gì?
Một đồng chí thủ trưởng thân tình đã nói với tôi: “Cậu không chịu yên phận. Lại cứ thích bôi mỡ lên người cho kiến nó bâu!” Tôi đã bị mấy lần kiến bâu như thế.
Xin kể đôi ba trường hợp:
Cuối năm 1968, đầu năm 1969, trong đợt “bổ sung người viết trẻ”, tôi được hai “thủ lĩnh đàn anh” Vũ Cao và Từ Bích Hoàng cho sóng hàng lên Tạp chí Văn nghệ Quân đội cùng với Lê Lựu, Nguyễn Tri Huân, Thao Trường, Triệu Bôn, Duy Khán... Sướng mê hồn! Đang là anh trợ lý “cờ đèn kèn trống” của một binh chủng, nay sẽ là người viết của Tổng cục Chính trị, có hẳn ghế bàn riêng ở số 4 Lý Nam Đế, muốn viết về máy bay, xe tăng, tàu thủy hay dân quân du kích đều được cả! Tha hồ mà chu du, bay lượn!
Nhưng Binh chủng Pháo mặt đất dứt khoát không “nhả” tôi. Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã viết riêng một lá thư tay, Pháo mặt đất vẫn khăng khăng: “Chúng tôi phải đào tạo lấy nhà văn cho binh chủng chúng tôi!” Tôi nằng nặc đòi đi. Họp ban, họp chi bộ “đấu” tôi cái tội “không thích làm cán bộ chính trị, chỉ thích làm văn nghệ”, rộng hơn là “không làm theo yêu cầu của Đảng”. Và kéo dài 6 tháng dự bị Đảng của tôi. Và để không mất Đảng, điều tôi một phát vào chiến trường sâu Tây Nguyên.
Sau này khi chuyển ngành ra cơ quan dân sự, mấy ông trưởng phòng Tổ chức thường hỏi tôi: “Đồng chí bị kéo dài dự bị vì muốn lên VNQĐ, động lực là gì?” Nghe tôi giải thích, họ vặn vẹo: “Đã viết tắt còn không thèm đề hai chữ Tạp chí nữa.” Tôi cười cay đắng: “Tôi đâu được tự tay mình viết lên tờ lý lịch đảng của mình!”
Rồi chuyện cuốn tiểu thuyết Ngửa mặt kêu trời. Tôi hoàn tất vào cuối năm 1987, đầu 1988. Mang tới nhà xuất bản nào cũng không nhận. Trích chương đưa tạp chí, báo cũng chẳng nơi nào in. Nhận xét y chang nhau: Tính dự báo cao, nhưng nặng quá, nói xấu về Liên Xô, dự cảm ảm đạm về tương lai Việt Nam. Mãi tới năm 1992, tiểu thuyết của tôi mới tới được bạn đọc. Thêm 10 năm nữa, năm 2014, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam thương tình cho Ngửa mặt kêu trời sóng hàng với những cuốn tiểu thuyết kể trên trong seri “Văn chương Thời kỳ Đổi mới”.
“Ngọt” nhất với tôi là được cầm bút viết những gì mình đã sống. “Chua” nhất là có những thứ phải chờ rất lâu mới được cất lên đúng nghĩa.

• Nhà văn Ma Văn Kháng từng nói: “Hãy công bằng và khách quan với mình, với lịch sử. Cũng tức là hãy nhìn cuộc sống một cách trung thực, không tô hồng, không bóp méo.” Nhưng một nghệ sĩ trung thực với lịch sử, nhất là khi viết về chiến tranh và những góc khuất, thường phải trả giá. Ông có từng chịu những “cái giá” ấy không?
Lận đận, thăng trầm nhưng tôi vẫn là TÔI, cả trong đời sống lẫn trong viết văn, viết báo, làm phim hoặc giảng dạy nghề tại trường điện ảnh cho các em. Vì sao à? Vì đơn giản tôi đã được tôi luyện thành NGƯỜI LÍNH! Nhiều năm là lính pháo, tôi đã bị pháo tự hành 175, pháo hạm tàu 406 của Mỹ “rọt” trúng trận địa, trúng đầu không biết bao nhiêu lần. Pháo thủ truyền nhau kinh nghiệm: giữa nhoáng nhoàng bụi lửa, giữa choáng tai nhức óc, sây sẩm mặt mày ấy, nếu còn nhận ra chớp lửa, còn nghe được tiếng nổ... tức là mình “còn giữ được gáo”. Lận đận, thăng trầm kia vẫn chỉ là tiếng động lọng óc, ánh chớp xanh lét thôi!
• Ở tuổi “xưa nay hiếm”, ông vẫn viết, vẫn lên Facebook bàn chuyện văn chương thời cuộc. Nếu phải đúc kết bằng một câu ngắn nhất: “Văn chương với tôi là...” thì ông sẽ nói gì?
Thiên hạ có hàng trăm, hàng ngàn cách hiểu, cách định nghĩa thế nào là văn chương. Tôi cóp nhặt của thiên hạ, nhưng thỉnh thoảng cũng tìm ra định nghĩa của riêng mình. Theo tôi, văn chương là chiếc cầu nối ký ức của bản thân ở bờ bên này với ký ức của nhiều người ở bờ bên kia.”
• Xin chân thành cảm ơn ông về những chia sẻ thẳng thắn và đầy trải nghiệm!

LÊ QUỐC ANH thực hiện
Nguồn: Tạp chí VHNT số 644, tháng 5-2026